Thứ Năm, 26 tháng 5, 2022

Thiền ánh bình minh phương tây 4

 Trong tu tập thiền định, quí vị sẽ được dạy nhiều phương pháp để giải quyết cái đau. Sau đây là một cách được sử dụng ở một số thiền viện bên Nhật, vào lúc thời tiết ấm áp khi muỗi nhiều dầy đặc nhất vào lúc sáng sớm và lúc hoàng hôn, các trưởng tăng thường đặt nhang muỗi giữa hai người ngồi. Tuy nhiên thỉnh thoảng nhang này không hoạt động và muỗi giống như đoàn quân xâm lược hung dữ, lao vào đánh chén. bạn không dám đưa tay đuổi vì các trưởng tăng đứng phía sau để canh chừng không cho bạn động đậy. Tất cả mọi tư niệm tấn công vào tâm bạn. Bạn đột nhiên nhớ ra rằng trong sách nói muỗi truyền bệnh sốt rét và nếu chúng cắn bạn với một số lượng lớn bạn có thể bị nhiễm bệnh này. Thật ra, cái đau mà bạn cảm thấy phát xuất từ ý niệm lo sợ về những gì có thể xảy ra với bạn hơn là bị chúng cắn. Nhưng không có cách nào thoát khỏi những con muỗi đói và sau một lúc quằn quại bạn thường làm những gì mà các trưởng tăng thúc đẩy bạn phải thực hiện nhập thành một với việc cắn . Rồi ồ. Một phép màu xảy ra bạn không còn cảm thấy nó nữa. chúng đang cắn nhưng không còn người bị cắn. bạn biến mất không còn gì để cắn. 

Từ đó bạn biết rằng không có một thứ gì có thể đe dọa tâm bạn, nếu bạn trwor nên là một với nó. Vào lúc bạn trở nên ít quyến luyến với thân hơn khi sự thật chìm xuống, càng theo đuổi đeo bám víu vào sự thỏa mãn những thú vui của các giác quan, cuối cùng bạn phải chịu đựng càng nhiều đau khổ. 

Cho rằng chúng ta cần thiết học cách đối phó với cái đau, nhưng không còn cách nào khác để tránh nguy hại cho sức khỏe sao .

Phương pháp muỗi chỉ là một trong nhiều cách. Nếu bản thân bạn tiếp xúc, va chạm với nỗi đau bằng ý chí khổ hạnh để làm mình chai đi khiến bạn sẽ mạnh mẽ hơn những người khác, hay thực hành khổ hạnh vì một động lực khác, sự đau đớn trở nên vô nghĩa. Nhưng nếu mục tiêu của bạn cao thượng hơn, trong sáng hơn nhưng không có cách nào khác để đạt những mục tiêu ấy ngoài việc trải qua đau đớn, tất nhiên bạn phải chấp nhận đau khổ. 

Lão sư, thầy không cảm thấy bực tức khi các lão tăng đã gây ra đau đớn cho thầy lúc tu ở nhật sao. 

Đau đớn là một điều kỳ diệu. Những vị thầy mà bạn luôn nhớ tới với tấm lòng biết ơn không phải là những vị thầy dễ dãi với bạn, mà là người mỗi lúc mỗi tạo sự khó khăn đau đớn cho bạn. Sau hai mươi lăm năm, tôi vẫn còn biết ơn một vị trưởng tăng, người thức suốt đêm trong một buổi nhiếp tâm khuyến khích tôi bằng gậy. Thức bảng là một miếng gỗ dẹp dài khoản sáu đến chín tấc, được dùng trong các thiền viện Trung hoa và nhật từ nhiều thế kỷ qua để kích động năng lực của người ngồi tọa thiền, buộc người ấy phải hết sức tập trung tinh thần. mỗi bên vai bị đánh hai lần ở huyệt nhằm kích thích năng lực vô hình. Tôi đã ở tu viện suốt sáu tháng và đó là đêm cuối cùng của tháng thứ sáu tột điểm của khóa nhiếp tâm. Sau buổi tọa thiền chính thức lúc chín giờ tối.  Tôi tìm một cái ghế ọp ẹp để đa tọa trong nhà tắm. Tôi gần như ngồi chưa yên thì ngọn roi quất cạch mạnh vào vai tôi. Vị trưởng tăng đã đứng trên tôi tự lúc nào, ông là người coi sóc tôi từ khi tôi mới bước chân vào tu viện, người mà tôi cảm thấy đặc biệt gần gũi. Mặc dù rất bận rộn vì nhu cầu công việc, ông cũng giống như những trưởng tăng khác thường đi ngủ lúc mười hay mười một giờ đêm, nhưng hôm nay vì lòng từ bi sâu sắc nhất ông bỏ cả ngủ để thúc tôi bằng roi. Giờ đầu tiên trôi qua, rồi giờ thứ hai, nhưng ông ta không ngớt đánh. Khi đêm tàn dần ông bám theo tôi làm việc không mệt mỏi. khi cái đau ở chân, do ôm quanh những chân ghế bén cạnh, trở nên tồi tệ hơn cái đau ở vai và lưng. Cuối cùng tôi cũng đã vượt qua tất cả bằng sự mệt mỏi kiệt sức và tôi bất tỉnh. Khi mở mắt ra có một vị sư đứng cạnh tôi, thay vì cầm roi, là một bát trứng tươi , tôi uống sạch. 

Ngày kế tiếp sẽ bắt đầu trong nuwaar giờ nữa, ông nói anh có thể nghỉ ngơi cho đến lúc đó, chúng tôi nhìn nhau và ôm nhau yên lặng. 

Sau khó nhiếp tâm tôi hỏi vị trưởng tăng. Nếu tôi bị yếu tim và chết tử trận thử thách bằng gậy suốt đêm đó thì sao. ông không xem những báo nước ngoài đăng tải. một người mỹ trung niên bị đánh chết ở thiền viện nhật bản hay sao. Thiền ở phương tây có lẽ đã chậm lại năm mươi năm, không kể tiếng vang từ nhật bản. không phải ông đang quá mạo hiểm hay sao. ông ta tươi cười kapleau, anh mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Đó là tất cả những gì ông nói. 

còn một điều khác mà vị trưởng tăng này đã làm vẫn còn in nguyên trong trí nhớ của tôi. Trong khóa nhiếp tâm ông thường làm phiên dịch tiếng anh cho lão sư. Nghi thức dành cho buổi tiếp xúc riêng với lão sư được qui định như sau. theo hiệu lệnh phát ra, học viên xếp hàng ở ngoài phòng trong tư thế ngồi xổm. Khi lão sư ở phòng trong run chuông đuổi người học viên đã tiếp xúc xong ra, người kế tiếp đánh vòa cái chuông ở phía trước mình bằng cái búa gỗ và đi vào phòng. 

Khi đến phiên tôi, vị tăng phiên dịch đó vẫn đợi ở phía sau tôi, tôi đánh chuông theo sự ra dấu của lão sư, đặt cái búa xuống và đứng dậy đi đến trước lão sư. Lúc đó vị tăng không báo trước đánh mạnh vào phía sau tai tôi bằng nguyên mu bàn tay. Vì đau và giận cái bản ngã tôi quay lại vung tay đánh ông ta. ông ấy né rồi nắm cổ tay tôi, xoay và đẩy tôi về hướng phòng độc tham. khi tôi đứng trước lão sư ông la lên tôt tốt đấy là những lời bằng lòng đầu tiên của ông từ khi tôi đến tu viện. cách tôi đối đáp ở buổi độc tham trước đó thường là ngập ngừng hay trả lời câu hỏi một cách thông thái. nhưng bây giờ tôi thấy mình trả lời một cách vô tâm, từ trong lòng chứ không phải từ cái đầu và rõ ràng là lão sư bằng lòng. Giai đoạn này có lợi ích kéo dài. Tôi nhận ra mình hoạt động ở mức năng lực cao hơn và ở những buổi độc tham tôi không còn sợ lão sư nữa. Ở những tình huống khác nữa, tôi có thể trả lời với nhận thức sắc bén hơn. 

Có nhiều giai đoạn đau đớn khác giúp tôi rất nhiều nhưng tôi không làm quí vị nặng trĩu vì chúng.

Như vậy nếu không trải qua tất cả cái đau như thế, ắt hẳn thầy đã không thể làm được việc gì phải không>?

Trước khi đến với thiền, tôi là người bê tha tự đại. Tôi làm những gì tôi thích, theo đuổi những thú vui của mình, dửng dưng với những hệ quả của nó trên cuộc đời những kẻ khác. Thay vì làm chủ cuộc sống của mình tôi là nô lệ của nó mà không hề biết. Nhưng thầy dạy thiền biết điều đó, có những phán đoán sắc sảo về cá tính như thật, họ đối xử tôi đúng như tôi mong muốn. Ngoài việc làm cho tôi hiểu về mình điều mà trước đây tôi chưa hề biết, cách đối xử này ban cho tôi hạnh khiêm cung cần thiết. Hơn hết, cái đau có thể làm điều đó cho bạn miễn là bnaj không bực tức nó. 

Lão sư, thầy có muốn làm lại điều ấy không

Anh nên hiểu rằng mọi cái do nghiệp, nếu không có nghiệp cần thiết cho tôi đi nhật thì tôi đã không đi, tôi cũng không ở lại lâu như tôi đã làm. Và các bạn cũng không có mặt ở đây hôm nay. Nếu đó không là nghiệp của quí vị và của tôi nữa. Cũng giống như vậy, bây giờ và trước tôi cũng hiểu rằng đau khổ cần thiết cho sự trưởng thành và phát triển tất cả quí vị phải thấy điều đó cần thiết trong việc tu tập thiền định. 

Lão sư, thầy có bao giờ được giới thiệu đi nhật để nghiên cứu thiền hay không

ở đất ta ngày nay có nhiều thầy dạy thiền có năng lực và những trung tâm huấn luyện thiền tốt. Năm 1953, khi tôi ra đi, tôi không biết đến những nơi như vậy ở phương tây

Hẳn là thầy có một nghiệp khá xấu nên cần phải đi đến nhật để nhận lãnh tất cả nỗi đau đó. 

Có nghiệp hay không có nghiệp, tôi sẽ không bao giờ đi và chịu đựng đau khổ như thế. 

vì tôi đã đi rồi nên không ai trong quí vị cần phải đi. 

 tánh không là gì

tánh không trong phật giáo là gì. Theo sách nói nó là trống không và chỉ thế thoi. Vậy câu sắc tức thị không, không tức thị sắc có ý nghĩa gì. 

Giả sử anh là một nghệ nhân đồ bạc, và anh muốn làm một tượng phật nhỏ. Khi bạc của anh bị nấu chảy, nó có khả năng trở thành một vật gì đó. Đó là tính không. Rồi anh rót kim loại nóng chảy vào khuôn và nó cứng lại đó là sắc. Nhưng bây giờ sau khi anh hình thành tượng phật anh lại không thỏa mãn với nó, nên muốn làm một cái gì khác cũng từ số bạc đó. Vì vậy, anh nấu chảy tượng và bạc trở thành vô sắc dạng, chính yếu là tánh không này không khác với sacwcs. 

Đừng quên, tất cả những điều đó chỉ là một kiểu quan niệm, không phải là một vật thật. Vậy hãy cho tôi biết làm cách nào bạn nắm được tánh không như một cái gì cụ thể. Đi tới phía trước và chỉ cho tôi thấy đi

cách này

không phải thế như thế này này

ôi cha

tánh không, dù sao cũng chỉ là sắc phải không. 

Mới đây có một số nghiên cứu được thực hiện, nhiều sách viết về đề tài cuộc sống sau cái chết . Tuy nhiên nhiều người vẫn nghi ngờ. Họ cho rằng, không có chứng cớ khoa học về việc này. Thiền nói gì về khả năng sống trong những hình thức kế tục sau cái chết. 

Người ta chỉ có thể tự hỏi làm sao có thể nghi ngờ sanh, lớn lên, già đi, phân rã, tái xuất hiện không phải đó là chu trình của các hiện tượng tự nhiên hay sao. Bất cứ ai nghi ngờ điều đó, là đã từ chối bằng chứng của chính giác quan, trí tuệ, và trực giác sâu kín nhất của họ. Anh có bao giờ tự hỏi, cái gì xảy ra với sức sống, cho năng lực phía sau những hoạt động tạo ra cái tôi của ta, sau khi tách nó ra khỏi thân ta. Định luật bảo toàn năng lượng nói rằng năng lượng không bao giờ mất đi, nó chỉ biến dạng, vì vậy làm cách nào sức sống này có thể biến mất mãi mãi. 

Tôi muốn tin là nó không mất.  Nhưng liệu có ai từng sống lại để kể cho ta nghe những điều như vậy không

Không có ai trong phòng này đã không sống lại hàng ngàn lần. Mọi cuộc sống là sự sống sau cái chết. 

Thầy thật sự muốn nói thế sao, lão sư

Tại sao lại phải ngạc nhiên hơn khi chính Voltaire cũng đã chỉ ră rằng khi được sinh ra hai lần còn hơn là chỉ được sinh ra có một lần. 

Thầy có thể nói tôi biết tôi sẽ như thế nào trong kiếp sau không

Đừng hỏi tôi, chỉ việc nhìn vào gương. 

ý của thầy muốn nói gì?

Phật dạy rằng nếu muốn biết về quá khứ, hãy nhìn vòa hiện tại. Nhân của ngày hôm nay là quả trong tương lai. Nói cách khác những gì ta nghĩ và làm hiện giờ đang quyết định bạn sẽ như thế nào vào kiếp sau hãy cẩn thận. 

Có nhiều mô tả về người chết bằng kỹ thuật và rồi sau đó được làm sống lại. Đó là những người từ cõi chết trở về mô tả kinh nghiệm thoát xác của họ. Thật là đẹp đẽ đến nỗi không muốn trở lại tấm thân khổ đau của họ nữa. 

Người hỏi thứ tư. anh muốn nói những người tim ngừng đập và cho thấy không còn dấu hiệu sự sống trong một thời gian ngắn nhưng chẳng bao lâu sống lại. Điều đó hoàn toàn khác với những người chết mà thân thể của họ bị chôn hay bị thiêu. 

Hãy để tôi kể về kinh nghiệm thoát xác, những điều đẹp đẽ được mô tả như vậy chỉ là giai đoạn đầu. Vì người ta thiếu chuẩn bị cụ thể về tu luyện tâm linh, điều theo sau cái bước đầu tiên có thể là sự sợ hãi, ngay cả kinh hoàng, tùy theo nghiệp của người đó. Những bước sau đó được mô tả chi tiết trong hai cuốn sách của Vasubandhu (thế thân), một triết gia phật giáo ở thế kỷ thứ tư. Tác phẩm tạng thư sống chết hay cận tử thư của tây tạng được viết ra dựa trên căn bản của hai cuốn sách này. 

Tại sao tu luyện tâm linh là điều cần thiết? Tại sao người ta không thể tự chuẩn bị cho những thử thách đó bằng cách đọc sách hay nghiên cứu

Trong cảnh giới trung chuyển giữa chết và tái sinh quí vị bị chạm trán với những hình ảnh ma quỷ ghê rợn kinh hồn, có ích gì khi những điều bạn đọc được chỉ là những phóng ảnh từ nhận thức của chính mình? Giống như những ảo giác trong những cuộc hành trình cam go tồi tệ. Các ảo giác đó có sức mạnh làm cho bạn sợ vì bạn không hiểu bản chất của chúng và không biết cách xua tan chúng đi. Bây giờ giả sử trong lúc tọa thiền và mỗi lần như thế đều được người thầy hướng dẫn tại sao chúng nảy sinh và dạy cách đối phó chúng. Bạn sẽ học được cái kinh nghiệm không sợ chúng và kinh nghiệm đó sẽ giúp bạn rất nhiều trong cuộc sống sau cái chết và nếu sự huấn luyện thật hoàn hảo, nỗi đau của cái chết có lẽ sẽ không quấy rối nhận thức này. 

Có phải cảnh giới trung chuyển này giống như bardo được nói đến trong cuốn sách về cái chết của người Tây Tạng không

đúng vậy. 

Thường tái sinh xảy ra trong thời gian bốn mươi chín ngày. Nhưng thời gian này không cố định, nó có thể xảy ra trong một ngày hay một tuần, có khi mãi đến mấy năm sau. Dường như thời gian tái sinh được quyết định bởi những nhân tố khác do sự hấp dẫn về nghiệp của người đó với cha mẹ. Con số bốn chín tức bảy lần bảy. Trong nhiều hệ thống tôn giáo bao gồm phật giáo, con số bảy là biểu hiện cái căn bản của vũ trụ. 

Phật giáo nói về hai loại sinh tử: tương tục và thường trực. Sinh tử tương tục đó là sự sáng tạo và sự hủy diệt xảy ra trong một phần triệu giây hay những tốc độ tương tự như vậy, khi những tế bào già chết và cái mới sinh ra. Vì vậy, chúng ta có thể nói cái tôi mới không ngừng được sinh ra và người ở tuổi sáu mươi thì không giống như, tuy không khác với, người ở tuổi ba mươi hay mười. Như vậy sự sống trong hấp hối trong khi đang sống. Thực tế, mỗi lần hít vào bạn đang được tái sinh và mỗi lần thở ra bạn đang hấp hối. Sinh tử thường trực cũng có thể được xem như một thân thật, khi nó liên quan tới thân vật chất và những biến tướng của nó như một tổng thể của sự sinh ra và mất đi ở cuối một cuộc đời. Lúc chết, năng lượng sống của con người, hay nghiệp, được truyền sang thân trung ấm và sự sống của nó, cũng chịu sự sinh tử liên tục và thường trực, chỉ có trong trạng thái này sự chết và tái sinh thường xuyên xảy ra trong thời gian bảy ngày. đó chính là lúc con người trung gian tìm cơ hội để gá vào thai tạng. Con người trung gian này, theo Vasubandhu, có năng lực bí mật trong việc biết được sự giao hợp của cha mẹ mà nhờ nó có thể thọ thai. 

Làm cách nào năng lượng nghiệp truyền từ người đang hấp hối đến người trung gian. 

Có nhiều  cách tương tự được dùng để mô tả diễn trình chuyển tiếp này. Thầy tôi dùng dấu ấn của con dấu trên bùn để so sánh. Cuộc sống hiện tại là con dấu và thân trung ấm là bùn. Kiểu dáng của con dấu là nghiệp. Bây giờ con dấu được ấn xuống bùn, dạng hình của nó hay kiểu nghiệp được hoàn đổi chính xác. 

Người khác thì so sánh nó như chơi bida. Bạn thụt một trái banh để đẩy một nhóm banh khác làm nó rãi rác khắp mọi hướng, nhưng viên bi bạn dùng để thụt dừng ngay tại điểm chết khi va chạm mạnh. Hướng di chuyển của banh tùy thuộc vào cách đánh ví dụ, có đánh xoáy hay không và còn tùy thuộc vào xung lực mà nó tác động trên những quả banh khác. Tương tự khi ấn cái dấu vào bùn, dấu ấn nằm lại sau khi con dấu được lấy đi, thế có bản thể nào mất đi không. Không phải một cách đơn giản là đặc tính của con dấu, sự hoán đổi của nó với bùn được giữ lại hay sao. 




Thứ Ba, 24 tháng 5, 2022

Thiền ánh bình minh phương tây 3

 Những cái gọi là ngộ thì thật sự như thế nào. trong hai mươi năm qua tôi đã thử hàng chục người tuyên bố là đắc ngộ và nhận ra chỉ một người tôi cảm thấy thật ngộ không được huấn luyện trước. Tuy nhiên, do không huấn luyện, cuộc sống của người đó sẽ không biến đổi đáng kể, vì người ấy không thể vận dụng sự ngộ đó và đến một lúc nào đó nó sẽ trở nên chỉ là ký ức được ấp ủ. 

Nếu nghiên cứu những trường hợp của các người đã ngộ thực sự và sâu, quí vị sẽ thấy hầu như mỗi trường hợp ngộ đến sau khi lắm sự xem xét nội tâm, thúc dục bởi những sự không thỏa mãn dày vò cuộc sống hay bởi những ray rức cá nhân lớn lên từ một kinh nghiệm tình cảm đau thương. 

Tại sao một số người ngộ nhanh còn số khác phải mất nhiều năm. 

Ai có thể nói, trừ phi là nghiệp lực giải thoát nơi người này mạnh hơn một số khác, những thiền sư đã nói, cách nhanh nhất để đắc ngộ là đấu tranh với một khối nghi ngơ. Khối hoài nghi là vấn đề căn bản gây bối rối không cho phép ta nghỉ ngơi chẳng hạn. Nếu như đức phật và các thiền sư đã nói, thế giới vốn thiện và không ô uế thì tại sao ta thấy quá nhiều điều xuấ xa đau khổ quanh ta. Rõ ràng nếu quí vị có đức tin tuyệt đối, các bậc thầy nói đúng, quí vị sẽ bị lái đến chỗ giải quyết mâu thuẫn giữa cái gì quí vị tin, như một vấn đề đức tin và sự hiển nhiên của các giác quan. Tùy thuộc vào độ sâu và mức kiên trì, sự bối rối này tóm lấy quí vị và quí vị tìm được câu trả lời một cách thỏa mái như thế nào mới có thể phán đoán ngộ nhiễm thời gian ngắn hay dài hơn. 

Sự chất vấn như vậy là tọa thiền. Và quí vị kiên trì tưởng như cuộc đời quí vị lệ thuộc vào việc tìm câu trả lời, quí vị sẽ không cần làm điều gì khác. để đắc ngộ viên mãn như một thiền sư nói. Anh phải hành động như một nguofi rơi xuống một cái hố sâu trăm thước. Hàng ngàn, hàng chục ngàn tư niệm của anh rút lại còn một suy nghĩ duy nhất là làm thế nào để ra khỏi cái hố này. a ta giữ nó từ sáng đến tối từ tối đến sáng hôm sau mà không có tư niệm nào khac.s Nhưng có bao nhiêu ngườ ibij dồn ép như thế này rất ít. 

Huấn luyện thiền chính thức cơ bản không gì hơn cố gắng của người thầy kích thích điều chất vấn căng thẳng, kích thích khối nghi ngờ này, khi nó không nảy sinh tự phát. Tiên đề thiết yếu của những tra vấn như vậy, tuy nhiên, là sự xác tín không lay động, là người ta có thể xóa tan khối nghi ngờ và quyết tâm làm một cách nghiêm túc. Một học viên thật sự khao khát tự ngộ, thường được giao một công án. Nếu anh ta vật lộn với nó một cách nghiêm túc và sự lôi cuốn của anh ta tùy thuộc vào cường độ mà anh ta cảm nhận nỗi đau của cuộc sống và sự thúc dục, sự khao khát thoát ra khỏi nó rồi anh ta sẽ ngộ. Hơn nữa, sự ngộ của anh ta sẽ rất nhanh với một công án, nhanh hơn bất cứ kiểu thực hành khác, gợi nhớ và xoáy vào khối nghi ngờ. 

Ở trường đại học tôi có nghiên cứu khoa tâm lý để tìm ra những cái đầu vĩ đại nhất có suy nghĩ gì về sự hiện hữu của loài người và vì tôi muốn biết ý nghĩa cuộc đời của chính tôi. Sự nghiên cứu này không những không dẫn tới ngộ, nó cũng không thỏa mãn tôi về mặt lý trí. 

Loài người tồn tại như thế nào ư. Anh hỏi điều đó với sự tò mò, hay với những trăn trở của tất cả con tim và khối óc. Câu hỏi lý trí nhận được một câu trả lời lý trí, chúng không thể biến đổi đời bạn. Chỉ khi bạn bị thúc ép bằng quyết tâm. Tôi phải, tôi sẽ tìm ra. Câu hỏi của bạn sẽ được trả lời. Vì nó sẽ là ngộ, vì theo nghĩa sâu sắc nhất, hỏi và trả lời không phải là hai, chúng chỉ có vẻ như vậy, vì trí phân biệt của bạn, phân chia các thiết yếu không thể phân chia được. 

Để tôi kể cho quí vị nghe một trường hợp ngộ tự phát của một người thợ ống nước ở Brooklyn, nữu ước. Anh ta không được học hành đầy đủ mà chỉ học hết bậc tiểu học, không có khuynh hướng tâm linh hay tín ngưỡng. Trong thế chiến thứ hai, anh đóng quân ở Thái Bình dương, nơi anh ta chứng kiến rất nhiều trận đánh, đến cuối trận chiến thì hoàn toàn kiệt sức và mệt mỏi. 

Khi trở lại Brooklyn anh ta không thể, theo chính cách nói của anh ta, làm việc, giải trí, hay làm tình. Mọi thứ có vẻ vô ích. Một câu hỏi theo đuổi làm tôi khó chịu: Thực tại là gì? Tôi chưa bao giờ học triết và không có đạo. Tôi không biết câu hỏi đến từ đâu nhưng nó không rời tôi. Nếu tôi đang đi trên đường và điều duy nhất trong đầu tôi là Thực tại là gì, thỉnh thoảng tôi đụng phải người hay tòa nhà, tôi quá ngạc nhiên bởi câu hỏi. Ngay cả buổi tối câu hỏi cũng không rời tôi. tôi nhớ thỉnh thoảng thức dậy lúc hai, ba giờ sáng, không thể ngủ lại và điều trước tiên hiện ra trong đầu là. Thực tại là gì

Điều này xảy ra suốt sáu tháng. Rồi một hôm sự bùng nổ xảy ra trong tôi làm tôi tràn ngập niềm vui mà tôi chưa từng có trong đời, câu hỏi vừa tan biến vào hư không và tôi làm việc trở lại một cách bình thường như mọi người khác. 

Sự phấn chấn này đôi khi tôi nghĩ như tôi có thể nhảy qua tường cao mười mét kéo dài bốn tháng. Một câu hỏi mới dai dẳng làm tiêu tan trạng thái đó. Điều gì xảy đến với mày. Tất cả niềm vui và khoan khoái này không bình thường đối với mày. Tôi bắt đầu cảm thấy xấu chỉ vì tôi cảm thấy quá tốt. 

Gia đình tôi và bạn tôi nói Anh phải khám bác sĩ tâm thần. Anh trải qua kinh nghiệm của cuộc chiến tranh khá tàn bạo và cảm giác đó có lẽ là triệu chứng đầu tiên của điều tồi tệ hơn. 

Bác sĩ tâm thần ở bệnh viện cựu chiến binh rất quan tâm đến trường hợp của tôi. Họ đặt tôi vào những kiểm tra thường lệ, cho tôi dùng một ít thuốc và bắt đầu hỏi tôi mỗi ngày, hỏi chi tiết về kinh nghiệm chiến tranh của tôi và về cuộc sống tôi sau khi trở lại mỹ. Tôi có một phòng riêng và không giống nhiều bệnh nhân khác, được tự do rời bệnh viện. Cách điều trị  này tốt trong khoảng một tháng. Nhưng rồi tôi trở nên bồn chồn, mệt mỏi về mọi thủ tục rườm rà, nên đã nói với một bác sĩ thần kinh của tôi. Xem này, tôi phải ở đây bao lâu nữa. Chừng nào ông sẽ quyết định tôi bệnh gì?

Ngày mai chúng tôi có một cuộc hội chẩn về trường hợp của anh và tôi sẽ báo tin sau khi tôi có đủ tất cả dữ liệu, ông ta nói. Vài ngày sau tôi nhận được tin. Anh đã trải qua sự biến đổi. Tôi không biết tôi đã biến đổi từ đâu và trở thành cái gì, nhưng tôi quá lo âu, bèn rời bệnh viện nên tôi không hỏi sự chuẩn đoán của họ và để nó trôi đi ở đó.

Phải mười năm sau, sau khi một người bạn cho tôi mượn cuốn ba trụ thiền, cuối cùng tôi hiểu những gì đã xảy ra trong tôi, tôi đã có kinh nghiệm kiến tánh hay ngộ. 

Lão sư, thầy có cho là anh ta ngộ thật sự không

trước khi anh ta đến rochester, anh ta đã viết cho tôi một bức thư dài trong đó kể lại tất cả những điều quí vị vừa nghe. đáp lại chúng tôi khuyên anh ta đến dự một buổi hội thảo, lúc đó anh ta có thể nói tất cả về trường hợp mình, nếu muốn kiểm tra về sự chính xác kinh nghiệm của anh ta. SAu buổi hội thảo chúng tôi ôn lại tất cả sự việc, đặc biệt sự việc gần, dẫn đến sự bùng nổ và điều anh ta đã chứng kiến, cảm nhận trong biến đổi đột ngột của mình. 

Khi anh ta làm sống lại những sự kiện của kinh nghiệm đó, mắt anh ta ngời sáng, điều nổi bật mà trước đó đã thiếu vắng trong suốt buổi hội thảo, vì tôi quan sát vẻ mặt và cử chỉ của anh ta một cách cẩn thận. 

nói cho tôi biết thực tại là gì. tôi hỏi anh ta

anh do dự, mỉm cười đáp cả cuộc đời tôi

anh nói  lúc sự bùng nổ xảy ra câu hỏi biến mất. Cái gì thay thế nó. 

Tôi không nhớ. Không gì cả, tôi đoán thế. Tất cả tôi có thể kể cho thầy là tôi chưa bao giờ cảm thấy tốt hơn trong đời tôi. Nó giống như được tái sinh tôi cảm thấy như một đứa bé. Mọi câu hỏi và vấn đề rơi mất, và lần đầu tiên từ khi tôi vào quân đội tôi có nhiều năng lượng và động cơ

Sau đó cái gì xảy ra. 

Chậm chậm cảm giác thỏa mái và an lạc phai đi và năng lượng phi thường đó cạn dần. Bây giờ tôi đọc được sách của thầy và đến buổi hội thảo này, tôi biết sự quan trọng của tọa thiền. Nhưng liệu tọa thiền có mang lại niềm vui kỳ diệu đó không.

Hãy quên niềm vui tôi bảo với anh ta tọa thiền thường xuyên lưu tâm và dấn thân đầy đủ vào công việc hàng ngày, anh sẽ có được cảm giác trong sáng đầy sinh khí và lòng biết ơn sâu sắc. Điều đó sẽ ảnh hưởng đời bạn một cách tích cực hơn sự lâng lâng khoái cảm bạn đã trải qua. 

Lão sư, thầy có thỏa mãn với những câu trả lời của anh ta không

Không, nếu anh muốn duy trì nó ở mãi mãi trên chín tầng mây, thì đâu có gì sai. Với ngộ thật, nhận thức không hề phai đi. Anh cần tọa thiền định lực phát ra từ đó nếu anh có thể sống theo thị kiến của anh, vì nghiệp lực quá khứ luôn luôn kéo bạn trở lại kiểu cũ. 

Quí vị, ai đã đọc Ba trụ thiền hẳn còn nhớ bài thuyết pháp dẫn nhập câu chuyện phúng dụ về Vajradatta, một người nữa điên nửa tỉnh. Ông ta không thích gì hơn ngoài việc ngắm nhìn trong gương. Một hôm ông ta không thấy đầu của mình trong gương nên hốt hoảng chạy quanh, thét ầm ĩ tôi bị mất đầu rồi. tôi mất đầu rồi. và thật là vui sướng sau khi bị đập vào đầu khóc lên vì đau, ông ta nói đầu ta đây và hiểu ra ông ta luôn có nó. Cái đầu trong chuyện phúng dụ này là chân tánh và sự khám phá của nó là ngộ. Không có gì kỳ lạ là vì quá vui khi khám phá cái mà ta chưa có. Vấn đề là sau khi ngộ ta không thể sống cuộc sống tự nhiên chừng nào ta còn bám víu vào sự phấn chấn cực kỳ này. 

Giả sử có người giống như anh chàng thợ ống nước này đã có kinh nghiệm chiến tranh đau thương một cách sâu sắc và sau đó tọa thiền, liệu những kinh nghiệm đó có thật sự giúp anh ta đến ngộ, sâu và nhanh hơn người khác không?

Sự kế hợp giữa kinh nghiệm đau thương và hành thiền đầy đủ có lẽ rất tốt cho sự ngộ sâu và kéo dài. Tôi biết có một bác sĩ người Nhật, thành viên của một nhóm tọa thiền ở Nhật. Một lần tôi hỏi ông ta. Cái gì đưa ông đến thiền và đây là câu chuyện mà ông ta kể. 

Vào thời kỳ cuối chiến tranh thế giới thứ hai, tôi cũng vừa họ xong y khoa và được tuyển vào quân đội. Người Nhật chúng tôi đang đánh nhau một trận khủng khiếp, người chúng tôi chết như rạ và không đủ bác sĩ để cứu họ. Cùng với những bác sĩ khác, tôi làm việc suốt ngày đêm với những người bị thương và hấp hối. Có lần tôi làm việc suốt tuần không ngủ một chút nào để chăm sóc những người bị thương. 

Sau chiến tranh tôi không thể trở lại ngành y. Tôi thường tự hỏi tại sao ta phải hành nghề y và cố gắng cứu mạng người khác. Dù sao họ cũng phải chết. Lúc đó một người bạn thúc tôi thử thiền và tôi trở thành đồ đệ của lão sư Bạch Vân. ông hứa với tôi, nếu tôi tập luyện chăm chỉ và kiến tánh, cuộc sống tôi sẽ quay ngược 180 độ và tôi không chỉ muốn giúp người như một bác sĩ thuần túy mà còn có lòng từ và yêu thương mọi người

Vì thế ba năm sau đấy tôi tọa thiền rất nhiệt thành và sùng mộ, thúc đẩy bởi những lời khuyến khích của lão sư và chính sự rối loạn không chịu được của mình. tôi dự nhiều khóa nhiếp tâm. Rồi nó xảy đến. Bùng nổ nội tâm hủy diệt tất cả mọi suy nghĩ về sống chết và mọi thứ khác. Tôi nhận ra bề ngoài không có gì sống chết nhưng cùng lúc trong chân tâm không có sanh và tử. 

Câu hỏi day rứt. Tại sao tôi phải hành nghề thuốc được trả lời rồi phải không. tôi hỏi

Vâng. câu trả lời đơn giản, với ngộ, vì tôi là bác sĩ. 

có sự khác nhau giữa nội kiến siêu hình và ngộ hay không

có sự khác nhau giữa nội kiến siêu hình và ngộ hay không

Chúng phát xuất từ cùng một nguồn đó là tâm. Mọi người không ngoại lệ, có tâm như quyền thừa kế. Nhưng người ngộ đã đánh thức nó còn người có năng lực siêu nhiên thì không. Sự khác nhau quan trọng ở mức độ nhận thức hay tri kiến. Người có năng lực siêu nhiên quan hệ đến lãnh vực tâm không thể đến được với ý thức bình thường, người ngộ nhìn vào bản tâm. Vì tâm ngộ viên mãn nhận thức khía cạnh không giới hạn của ý thức, nó tự nhiên bao gồm nhận thức siêu hình. 

Về Edgar Cayce thì sao? không phải anh ta đắc ngộ sao

Cayce có năng lực phi thường, nhưng anh ta đắc ngộ là một điều nghi ngờ lớn

nói về cayce tôi có nghe ông ta tiên đoán rằng trong bốn mươi năm nữa California sẽ bị hủy diệt bởi động đất hay lụt lội. Thầy có tin những lời tiên tri đó không

Trừ phi một người có năng lực siêu nhân có thể đưa ra thời gian chính xác của sự việc sẽ xảy ra trong tương lai đó là xác định rõ ngày, giờ, năm, tháng tôi đặt rất ít niềm tin vào sự tiên đoán đó. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận tài năng cua rông ta nhưng năng lực của ông ta có giới hạn. 

Cho dù người có khả năng siêu nhiên có thể tiếp xúc với lãnh vực đặc biệt mà người bình thường không thể đến được, nhưng anh ta không thật sự hiểu nguồn gốc sức mạnh này. Hơn nữa, thiên tài của ông ta không ảnh hưởng đến việc bào mòn cái ngã hay biến đổi nhân cách. Anh ta vẫn bị thống trị bởi khái niệm cái tôi này chống lại những cái tôi khác. Trái lại ngộ thật sự khái niệm cái ngã tôi bị đẩy lùi và sự phân biệt nhị nguyên của tôi và không phải tôi bị vượt qua. các hệ quả của điều này rất lớn. 

Từ quan điểm thiền, những kinh nghiệm siêu nhiên không có giá trị. 

Những nhận thức siêu nhiên nào đó gỡ bỏ những nghi ngờ về tái sinh và giá trị của nghiệp, quả là có giá trị anh có thể tưởng tượng ai đó có thể hoàn nguyên đời trước, và giữa lại ký ức của họ, ai sẽ không bị thuyết phục bởi bóng tôi nghi ngờ về cái vòng lẫn quẫn của cuộc đời. Sự thuyết phục này giải thoát người ta khỏi sự sợ hãi về ta chỉ sống một lần, vì vậy ăn, uống, và vui chơi đi mà người ta tìm cách tận hưởng các thú vui để quên đi nỗi lo sợ về cái chết mỗi lúc một gần kề. 

Ngộ, bắt nguồn từ việc nhớ lại những kiếp quá khứ, rằng chết cũng như sống, là một điểm dừng tạm thời, cái trước và cái sau đều ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của con người trong kiếp này. Ai không phải là kẻ ngốc hay điên, ai là người thích hủy diệt cuộc sống nếu hắn ta biết rõ rằng có nghiệp báo dưới hình thức một cuộc sống như địa ngục sẽ theo sau kiếp này hay kiếp sau. Ai cũng sẽ ăn năng về những lỗi lầm của mình trong kiếp trước nếu như hiểu được rằng chết không phải là một sự kết thúc mà chỉ là sự tiếp tục, và một bước nhảy vô ý của mình anh ta chắc chắn sẽ phải trả giá với người chơi đàn, nếu không bây giờ thì kiếp sau. 

Hãy để tôi kể một câu chuyện chứng minh sự khác nhau giữa khả năng huyền thuật và sự tự ngộ. Một giáo sư người Mỹ gặp tôi ở Nhật kể lại chuyện ông ta đến Ấn Độ để tìm một bậc thầy đắc ngộ. Một hôm trong khi đang đi tìm kiếm người thầy khó tìm ấy, ông gặp một đám đông tại một ngôi làng nhỏ. Lách mình vào giữa, ông thấy một người Ấn thi triển các phép lạ. Nhìn thấy người Mỹ này, người ấy bước tới gần kề với cuộc đời ông, vợ con ông một cách rõ ràng chi tiết mặc dù người này trước đây không hề gặp họ. Đó là kinh nghiệm trực tiếp đầu tiên của giáo sư về ngoại cảm nên ông vô cùng sửng sốt. Điều lạ lùng là người này không nhận tiền thù lao của vị giáo sư như ông ta vẫn thường nhận của người khác mỗi khi ông ta đoán số. Sau khi biểu diễn, người này gọi giáo sư đến bên cạnh và nói:

Không phỉa ngài đến Ấn độ để tìm ngộ sao

Vâng. 

Ngài không giống những người nước ngoài mà tôi gặp ở Ấn độ, nên tôi thành thực khuyên ngài. Có lẽ ngài bị ấn tượng bởi khả năng nhìn thấy quá khứ và bị lai của tôi, nhưng đối với tôi nó là điều không đáng kể. Toi có khả năng huyền bí này từ lúc còn nhỏ, cha tôi có nó trước tôi. Khi tôi còn là một thanh nhiên tôi cũng có ý nguyện tôn giáo sâu như ngài. Nhưng vì người ta bao quanh tôi để nhờ tôi đoán số mệnh của họ và cha tôi khuyến khích tôi dùng khả năng đặc biệt của mình để giúp ông nuôi dưỡng gia đình vốn đã nghèo mà lại đông con. Thế là sự khao khát giải thoát tâm linh bị bỏ qua một bên. Bây giờ tôi đã già và trực giác siêu nhiên của tôi không còn giống sự tự ngộ của bốn mươi năm về trước. 

Ở ấn độ này ngài sẽ gặp nhiều người có năng lực siêu nhiên đóng vai thánh nhân giác ngộ, nhưng ngài đừng để họ lừa. Những người có năng lực siêu nhiên chỉ biết liên hệ với những hiện thân huyền ảo về sự hiện diện của thượng đê.s Thánh nhân tự nhìn thấy thượng đế. Có một cách để phân biệt chân sư với kẻ giả hiệu: một chân sư sẽ không cho phép đệ tử quan tâm hay phô bày phép thuật. 

Có nguy hiểm gì không khi cố gắng luyện pháp thuật

Câu chuyện anh vừa nghe đã chứng minh rằng sự bận rộn phát triển năng lực kỳ bí gây chướng ngại cho sự tự ngộ. Không những thế còn có những nguy hiểm khác. Người cố gắng phát triển khả năng kỳ bí thường hành động để được trả giá không xứng đáng với nhân cách thực của họ. Họ trở nên một chiều và giả dối, kiêu căng tự phụ vì khả năng hiếm có và đặc biệt của mình. Thần thông cũng có sức quyến rũ ta càng dấn thân vào, ta càng khó thoát ra, cuối cùng như cá mắc lưới. 

Bất cứ ai tọa thiền nghiêm túc sẽ có lúc phát triển những khả năng kỳ bí. Đức phật có những khả năng kỳ bí. Đức phật có những cảm nhận kỳ bí như nhớ lại tiền kiếp, thấy được tương lai, và đọc được ý nghĩ của người khác nhưng không bao giờ Ngài khuyến khích những đồ đệ dùng thần thông như phương tiện để giác ngộ, hoặc phô trương những gì họ đã đạt tới. 

Có một giaidthoaij nữa minh họa giá trị của thiền đối với vấn đề phép thuật. Một hôm một thiền sư nổi tiếng của chung hoa cổ đang đi hành hương, khi đến bờ một con sông rộng, ngài còn lưỡng lự đứng đó, bỗng có một người lạ xuất hiện nhưng không biết từ đâu đến bảo. Nào chúng ta cùng qua sông nhé. Cảm thấy không cần phải vội sư đáp. Đạo huynh, nếu muốn thì huynh cứ sang bên ấy thì đi một mình đi. Vị tăng bước lên mặt nước như đi trên đất liền, và quay đầu dục, nhanh lên. Vị sư mắng khoe khoang, nếu ta biết ngươi làm thế, ta đã đập ngươi què chân. 

Không vào hang hùm sao bắt được cọp

Trước buổi hội thảo này tôi chưa hề tọa thiền và cũng không biết gì về nó. thật lạ là không mấy dễ chịu. Và tôi tưởng chừng như đợt ngồi thiền thứ hai sẽ không bao giờ chấm dứt. Tại sao cần phải chịu đựng sự khó chịu như vậy để làm trong sạch tinh thần. 

Qua suy nghĩ sai lầm và lười biếng, chúng ta cho phép tâm mình bị chi phối bởi những vọng tưởng vu vơ. Suốt ngày tư niệm lười biếng lượn qua lượn lại như những con ong vờn quanh tổ của nó. tuy nhiên những tư niệm tồi tệ nhất, những kẻ thống trị vĩnh viễn, là những kiến chấp. Kiến chấp bắt rễ sâu trong tâm, giúp cái ngã củng cố vị trí thống trị của nó. 

Kiến chấp giống như những vết bẩn khó tẩy sạch. Vì chúng mà tâm ta trở nên một bãi rác khổng lồ với bao nhiêu năm tích lũy những ý niệm đúng sai yêu ghét hy vọng, u sầu. Vì thế cần tập trung sức mạnh với sự bền bỉ mới có thể dọn sạch những rác rưởi trong tâm. 

tôi thấy mình trở nên bồn chồn không yên vì không quen với việc ngồi bất động. 

Ít người bị như thế. Buổi hội thảo tôi vừa thực hiện ở Chicago, có một trong số những người tham gia, vị giáo sư, động đậy không ngừng trong buổi ngồi thiền. Mặc dù mọi người được dạy cách ngồi đầu gối chạm chiếu một vị trí thiết lập sự ổn định của tâm thân. Vì lý do nào đó, người này ngồi với đầu gối nâng cao. Vị trí vụn về này tạo sự căng thẳng lên tâm thân khiến ông ta động đậy liên tục. Sau khi nhắc nhở ông nhiều lần phải ngưng động đậy vì nó cản trở sự tập trung của chính ông và làm ảnh hưởng đến người khác. Tôi ở phía sau lưng ông ta và cầm cái roi đi lê chân để cho ông biết rằng tôi đang ở đó. Ông ta cố gắng ngồi yên đến cuối buổi, nhưng rồi hầu như không thể đứng dậy. Khập khiễng đến với tôi, ông ta rên rĩ nói. Đây là công việc khó khăn nhất đời tôi. Tồi tệ nhất là tôi đã khám phá ra rằng tôi không thể liên tục đếm hơi thở hơn số hai. Nhưng tôi cám ơn thầy không tỏ ra dễ dãi với tôi. Trong hai mươi phút ngồi khổ sở đó tôi đã biết được nhiều về tôi hơn qua bất cứ điều gì khác. 

Lý do mà nhiều người cảm thấy khó chịu khi ngồi yên là vị họ quen phát năng lượng của họ ra trong những hoạt động vô ích để tránh đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Tọa thiền không những hạn chế tiêu hao năng lượng mà còn buộc họ nhìn vào trong và đương đầu trực diện với chính nó - đối đầu với những vấn đề họ đang cố tình lẩn tránh. Và vì tọa thiền phơi bày những vấn đề làm họ bực tức, họ bực tức thầy, người mà họ cho là chịu trách nhiệm trong việc gây ra tình trạng khó khăn mà họ đang chịu đựng. Vì vậy, việc ngồi yên lặng trở nên một sự khổ sở. 

Tuy nhiên, nơi đây là một ngã ba đường, là lúc quyết tâm của con người được kiểm nghiệm. Liệu bạn sẽ tiếp tục đi theo lối sống cũ dễ dãi và hoang phí hay đi theo con đường giải thoát. Nếu quí vị thật sự hiểu rằng cho đến giây phút bây giờ cuộc sống của quí vị đang dẫn quí vị đến một ngõ cụt, và niềm tin vào chân thực vào chân tánh của quí vị đủ mạnh, thì quyết tâm của quí vị để có được tự do sẽ ngang bằng với công việc tọa thiền. Và nếu bạn kiên trì đấu tranh, đánh bại tất cả những cám dỗ, bạn sẽ có được sự hiểu biết sâu sắc và có được một sự bình yên trong sáng đầy sinh khí. 

Mất bao lâu trước khi người ta có thể ngồi theo một trong các thế kiết già mà không đau đớn. 

Nó lệ thuộc vào sự uyển chuyển của tâm và những dây chằng. Dù vậy, tâm là trên hết. Tâm nhanh chóng thích nghi không ương ngạnh hay bướng bỉnh tạo ra một cơ thể dễ thích nghi. Những bài tập duỗi chân đơn giản vẫn có ích. Một khi có một sự mềm dẻo nào đó quí vị sẽ thỏa mái trong những tư thế đó và cảm nhận sâu cái cảm giác tràn đầy nhựa sống. Về nhà sau một ngày làm việc, ngồi trên trường kỷ ở tư thế bán già tạo ra một sự thư giản hiệu quả hơn so với ở những tư thế khác. Khi học hay đọc sách, sự tập trung của người ấy mạnh hơn khi ngồi thế kiết già. 

Tại sao như vậy

Kéo hai cực về trung tâm như trong tư thế này, là thống nhất và thu tâm lại, rồi thực hiện với thế cân bằng nhất điểm. đừng thất vọng nếu lúc đầu bạn cảm thấy khó chịu, vì học tọa thiền cũng giống như học những môn học có giá trị khác, nó đòi hỏi sự kiên trì. Nên nhớ rằng từ bấy lâu nay chúng ta không sử dụng đúng tâm thân, thay vì ngồi hay đứng một cách thẳng thớm, chẳng hạn, chúng ta lại khòm xuống hoặc nghiêng ngã tạo sức căng lên toàn thể các cơ quan và làm hỏng hơi thở. Ngoài việc học đi, đứng nằm, ngồi cho đúng cách, ta phải luyện tâm thực hiện chức năng hướng tâm, hướng nội cũng như ly tâm. Thoạt đầu, có một sức căng ngược với tiến trình cố hữu này, nhưng nếu bạn kiên trì tọa thiền bạn sẽ bắt đầu  trải qua sự trong sáng, khoan khoái và có năng lượng nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày của bạn. 

Đó có phải là chứng tình dục biến thái hay không nếu không, tại sao tại lại phải chịu đau đớn trong khi có thể tránh được

Phật dạy đời là bể khổ và nếu ta cố tránh nó có nghĩa là tự kết án mình có một cuộc sống hời hợt, vì khổ và lạc là hai mặt của một vấn đề. Khổ đau hiện diện khắp mọi nơi, phải không? Sinh tự nó là đau khổ, đối với người mẹ cũng như với đứa bé. Bệnh bao hàm cái đau, cũng như sự suy nhược của tuổi già. Nó đi theo những người không thích đau đớn, nó rời bỏ những người xem hạnh phúc và đau khổ như nhau. Thế còn những đau khổ của các dân tộc phải sống trong sự khốn khổ và gần như chết đói thì sao?

Điều gì làm con người suy tư không đồng ý rằng cuộc sống của chúng ta chứa nhiều lo âu đau khổ hơn về niềm vui và hạnh phúc.

Thế thì tại sao lại thêm đau đớn nữa bằng cách ngồi kiết già. 

Những thế ngồi kiết già không phải là những tư thế duy nhất để tọa thiền. Có nhiều tư thế khác được mô tả trong Ba trụ thiền. đau khổ nói chung có thể tránh được chỉ với một cuộc sống phong phú đa dạng, chủ động nắm bắt lấy đau khổ mãi mãi đối đầu với bạn. Ở trong những tu viện, thiền viện, những nơi ẩn tu hạng nhất mà tôi đã từng ở tại Á châu, người ta nói không vào hang hùm sao bắt được cọp. 

Nhưng làm cách nào để biết là mình tóm bắt được cái đau

Trong tu tập thiền định, quí vị sẽ được dạy nhiều phương pháp để giải quyết cái đau. Sau đây là một 

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

Thiền ánh bình minh phương tây 2

 Không có thầy về thiền

Người hỏi: Đây không có ý nghĩa là một câu hỏi sỗ sàng, nhưng thầy có thể nói với chúng tôi về phẩm chất của một thiền sư hay thầy dạy thiền hay không

Ls: tôi không phải là một thiền sư, kém hơn một người thầy, vì vậy tôi không biết. 

người hỏi: thế thầy đang làm gì nếu không phải là dạy học

ls người ta có thể dyaj người khác cái gì. hoàn toàn giả dối khi nghĩ như vậy

thầy dường như đang làm khá tốt công việc về nó

trong cuốn sách về công án gọi là vô môn quan, có câu, chân chưa nhấc đã tới, miệng chưa mở đã dạy xong hiểu không

nếu không có gì ngoài chúng ta, có nơi nào để đi. có cái gì để hiểu

tôi chỉ chia sẻ với họ những gì tôi đang nghiêm túc làm cho mình. 

Nếu tôi học cái gì ở họ, chính là không có gì để học. Vì thế tôi không học, tôi thất học. Tôi không được, tôi mất nhiều sự rối loạn và những quan niệm sai. 

câu chuyện này giúp quí vị hiểu. một thiền sư nổi tiếng một lần nói với học trò. Các ngươi, tất cả là những kẻ nuốt cặn bã, nếu cứ tiếp tục đi quanh như thế nào, kết quả của nó sẽ là gì, ngươi không biết trong cả nước trung hoa không có một người thầy có kỹ năng về thiền hay sao. 

vị tăng nói làm thế nào mà thầy nói không có thầy dạy thiền khi có hàng ngàn tăng ở vô số chùa như vậy. 

Ta không nói không có thiền, mà là không có thầy dạy thiền. 

Đó là công án phải không

đúng nó là của anh đó. 

Thầy nghĩ gì về tham thiền nhập định

anh có tự tham thiền nhập định hay không

tôi đang quan tâm đến nó

nó cũng tốt nhưng đừng đi quá xa

Có thể đắc ngộ qua tham thiền hay không

một nhóm các nhà tâm lý học tiến hành thí nghiệm với năm thiền giả, trong đó bốn người là thầy dạy tham thiền, thấy rằng trong nửa thời gian thiền của họ là đang ngủ chứ không phải thiền

Chỉ một thí nghiệm có thể thuyết phục hayk hông. Những nghiên cứu khác cho thấy giá trị tham thiền. Dù sao, nếu người ta ngủ khi thiền , vì người ta cần ngủ. 

Hoàng toàn đúng như thế. Nhưng tại sao cần ngủ

bởi họ mệt

Tại sao người ta bị mệt và buồn ngủ. Thường vì mắt sụp xuống và người đó không ngồi ổn định tư thế thẳng không thở đúng, không dùng tâm đúng cách. Thực hành đúng cách, thiền làm khỏe ra, không làm kiệt sức. Tâm trở nên sắc bén như dao cạo, với nhận thức được nâng cao. Cơ thể ủ rủ mềm lả tạo ra tâm đờ dẫn buồn ngủ

hãy nói cho tôi biết anh đã tham thiền bao lâu rồi

khoảng 1 năm

thế thì anh có thể trả lời câu hỏi nả rồi. Trong tham thiền nhập định ai siêu việt hơn cái gì. 

Thầy có biết máy hồi tiếp sinh học không. Tôi nghe nói nó được goi là thiền điện tử

theo người bảo trợ ý tưởng veeff hồi tiếp sinh học là dạy người ta biết kiểu sóng não của mình bằng cách quan sát chúng trên biểu đồ hay nghe nó được chuyển thành âm thành và bằng cách này thu được tho ý muốn sóng điện não, điều mà người ta cho là làm cho thư giãn và bình tĩnh. Nhưng điều đặc biệt của sóng Alpha là gì một hội viên của trung tâm làm một máy phapha , tự thử mình trong lúc tọa thiền như một thí nghiệm và thấy rằng sau 10 phút khởi động anh ta đã ghi điều đặn sóng điện não lên máy. sau này anh ta thuật lại rằng lúc đó anh ta cảm thấy ít tập trung hơn lúc bình thường khi tọa thiền

trong lúc giải lao tôi có nói chuyện với một học trò của thầy về máy hồi tiếp sinh học. ông ta nói thầy có kinh nghiệm thích thú với loại máy này xin thầy hoan hỉ kể về nó

à chuyện đó lâu rồi

chúng tôi không thê rnghe nó sao. 

Được, nó xảy ra trong một hội nghị quốc gia  của hội tâm lý học nhân văn tại florida, tôi được mời tới đó để tổ chức một hội thảo về Thiền. Một học viên của tôi, một nhà tam lý lâm sàng, nói rằng anh ta có một người bạn thân, một kỹ sư, người rất muốn tôi kiểm tra một máy hồi tiếp sinh học do anh ta thiết kế vừa đưa ra bán trên thị trường. Vì vậy, chúng tôi đến một phòng riêng, nơi có mười đến mười lăm người đang chờ đợi để xem việc thử. Máy nhỏ nắm vừa lòng bàn tay và bán, tôi nghĩ, khoản hai trăm đô la. 

Họ buột một sợi dây da có gắn trên đó các điện cực, quanh đầu tôi và cắm máy vào người tôi, rồi chụp tai được gắn vào. Ngay sau đó tôi có thể nghe bíp, bíp, trước hết những tiếng đứt quãng, rồi trôi điều. Tôi chắc đã tới trạng thái như vào Định, kế tiếp tôi nhớ là nghe một giọng nói la lên, Tại sao, ông ta làm máy ngưng hoạt động. Nó chưa bao giờ như thế, sau khi gở máy khỏi tôi viên kỹ sư và người phụ tá nhìn nhăn nhó nói trở lại những bản vẽ.

tôi do dự kể lại sự kiện này vì nó có vẻ khoe khoang, nhưng điều xảy ra với tôi không đáng kể nó có thể xảy ra với bất cứ thiền giả nào có kinh nghiệm

Thầy có cảm thấy thư giãn không

Chắc chắn , ai mà không thư giãn sau khi ngồi yên 20 hay 30 phút. Quí vị có thể có được sự thư giãn và hơn nữa với tọa thiền không phải tiêu hai trăm đô la cho cái máy đồ chơi. Đồ chơi dành cho trẻ con, không phải dành cho người lớn

Tôi đã đọc ở đâu đó là hồi tiếp sóng não sẽ mang đến kết quả giống như cái đòi hỏi nhiều năm nỗ lực trong thiền, sau đúng vài tuần hay vài tháng. 

Anh chắc nói đùa. Tuyên bố là ngộ tâm linh và biến đổi nhân cách có thể hoàn thành nói chi quá nhanh chỉ bởi mắc vào một cái máy là ngây thơ và buồn cười. Cho dù người ta có thể khi cắm vào làm dịu sang trạng thái thư giãn, điều đó cũng khó mà mang đến trạng thái tâm yên lặng sâu hoặc bình an kéo dài. Nó không giải đáp câu hỏi căn bản của hiện hữu, nó không biến cuộc sống con người bằng cách thật nào đó, ngộ trong thiền làm tất cả điều đó. 

Một nhà tâm lý học ở cùng hội nghị đó chứng minh người ta có ý định dùng một máy hồi tiếp sinh học lớn cho bệnh nhân nhập viện hay bệnh liệt giường để giúp giảm cao huyết áp và trị các bệnh khác. Dường như đó là việc sử dụng có giá trị của máy hồi tiếp sinh học. 

Có người gởi tôi một bài báo viết về máy hồi tiếp sinh học. Tiến sĩ Frederick Gibbs của trường Y khoa thuộc đai jhocj đường nói rằng cái rút ra được nhiều từ máy hồi tiếp sóng alpha là sự thủ dâm não. một mô tả đúng. Người thường xuyên gắn vào máy để thư giãn, làm giảm khả năng hành động từ tiềm năng sâu sắc nhất và thay vì làm chủ máy, trở thành nô lệ của nó. Đó không là thiền. Thiền phát triển tự do, không là sự lệ thuộc thần kinh. 

Tôi có thể thực hành thiền vừa là tín đồ tốt của đạo do thái ( hay thiên chúa giáo) hay không. 

Tôi là một người do thái và tôi tự hào về nó. Tôi có thể thực hành thiền và đồng thời là một người do thái tốt hay không?

Anh là gì trước khi là người do thái

tôi ko biết

hãy tìm xem thế gốc do thái không là tối hậu trong anh à

làm cách nào tìm ra

tự hỏi mình ngày đêm với khao khát muốn biết và sức thuyết phục rằng ta có thể biết được. Học cách sống như con cá bơi dưới nước hay con chim bay trên trời một cách tự hiên không tự ý thức. Bỏ đi tham vọng - nó dẫn đến thái độ thù hận. Ý thức và thông cảm. Tay phải làm điều gì cũng lien quan đến tay trái. Tránh những phán đoán không cần thiết. Hãy khiêm tốn và không tự phụ, đưa ý kiến chỉ khi được yêu cầu. Quên việc làm tốt của mình và thú nhận hành động xấu của mình. Đừng bao giờ quên luật tương quan nhân quả. 

Tôi không thể làm tất cả những điều đó như một người do thái tu hành sao

Nếu có thể, tốt, nếu không

Tôi có thể thực hành thiền và là một người thiên chúa tốt được không

Nếu anh luyện thiền thì có thể, nhưng nếu anh thực hành thiền của phật giáo anh không thể

Tại sao không

Để thực hành thiền phật giáo, có nghĩa là vượt qua cái tôi, vượt qua cái tôi có nghĩa quên cái tôi. Khi điều đó xảy ra, bạn không là người thiên chúa giáo tốt cũng không là phật tử tốt được. 

Thế tôi là ai

Vậy thế anh là ai. 

Giá trị của một ngọn núi thánh với tọa thiền là gì

Tôi có ý định nghỉ phép ba tháng để thiền một mình và tôi đang phân vân nơi nào là tốt nhất để đi. Tôi được biết là thường thường các thiền tăng lên núi, nhưng người ta nói rung động tốt thì ở sa mạc hay ở biển ý thầy nghĩ sao. 

Lúc mới bắt đầu tập thiền, bất cứ nơi nào yên lặng, trong hay ngoài nhà, nơi có những rung động sẽ giúp quí vị tập trung hướng nội tốt nhất cho việc tọa thiền, điều này chắc chắn quí vị tập trung hướng nội tốt nhất cho việc tọa thiền, điều này chắc chắn sẽ gồm núi và sa mạc. Nhưng ở lâu ở những nơi lý tưởng như vậy là không tốt, vì không có khó khăn để tranh đấu, nó sẽ xây nên một sức mạnh giả, một sự yên lặng và sự kiên định hời hợt, nó vỡ vụn khi đối diện với những yêu cầu của cuộc sống. Như ở trên sân thể thao, những vận động viên vượt rào được người ta cho rằng phát triển toàn diện sức mạnh, lớn hơn người chạy nước rút, tương tự như vậy người học tập trung và thống nhất tâm giữa sự ồn ào náo nhiệt có sự ổn định và dễ thích nghi nhiều hơn so với người dành nhiều năm đơn độc trong núi hay sa mạc hay những nơi tịch tỉnh khác

Theo kinh nghiệm của tôi có rất ít sự cô tịnh hay yên lặng bình an ở các tu viện hay trung tâm thiền, nơi sự luyện tập rất gắt gao. Chỉ trong tiểu thuyết lãng mạn phương ododng, hay trên màn bạc, những tu viện được đặt trong một thung lũng xanht ươi phát ra sự yên bình thượng giới, một nhà hiền triết râu tóc bạc phơ trong bộ y phục muowjtj mà với cây gậy trong tay nhẹ nhàng nói các con ah. với những đồ đệ có khuôn mặt dễ thương quây quần bên ông trong khi những lời châu ngọc khôn ngoan tuôn ra tư fmienejg ông, và phía sau là một mặt rời rực rỡ đang lặng xuống cuối chân trời. Thực tế, tôi tin là ít lãng mạn hơn thế nhiều. 

tôi nhớ rất rõ chuyến ở lại sáu tuần tại một tu viện phật giáo tại Rangoon cuối những năm năm mươi. Việc tôi đến ngẫu nhiên trùng với một cuộc bố ráp của quân chính phủ mới thành lập, để giảm mật độ chó quá lớn ở thủ đô. dưới thời thủ tướng phật tử u u nu, súc vật không được quấy rầy nhưng với uy lực của quân đội chúng bị lùa lại bắn chết. 

Trung tâm phật giáo gồm khoảng năm trăm mẫu và một số am thất cá nhân. ở những ngôi nhà này là nơi các tì kheo và tì kheo ni cũng như các cư sĩ tu thiền ăn ở. Với bản năng sinh tồn, những con chó trốn thoát vào tu viện tìm nơi cư trú, ở mỗi ngôi nhà này chúng tự thành lập một tốp từ 10 đến 15 con chó, đứng đầu là con chó đầu đàn và có sự phân cấp rõ ràng. Sau các bữa ăn, đứng đầu là con chó đầu đàn và sự phân cấp rõ ràng. Sau các bữa ăn, các thức ăn thừa được đêm cho đàn chó, sắp hàng trước cửa theo cấp bậc, ăn. Thường có màn dùng thủ đoạn để đoạt chỗ trong những con chó đói, và theo định kì, chó đầu đàn phải quyết đấu với những con chó trẻ tìm cách cưới quyền của nó. Thỉnh thoảng chó từ nhà này cố gắng chen vào chờ thức ăn của nhà khác và bị sủa xua đuổi. đôi lúc tiếng hú ăn ẳng gầm gừ khốc liệt. một người anh vừa đến từ luân đôn phàn nàn chua chat. tôi đến đây mong tìm một nơi yên tĩnh, cái mà không thể có ở luân đôn, nhưng nhìn xem tôi gặp cái gì. ai có thể thiền giữa tieng ồn ào khốn khiếp này. 

Tôi thọa thiền trong một hang động giữa lòng núi mễ tây cơ này với hai đại đệ tử. Rõ là những đại lễ mang nghi thức tôn giáo đã từng được tổ chức ở đây, vì những rung động của gnhi thức đó vẫn còn được cảm nhận phảng phất quanh quất đâu đây. Về sau, chúng tôi mới biết thời xưa người Maya Toltec và Aztec từ xa đến đây dự những buổi lễ. 

Giá trị xã hội gì ở đây trong việc ra ngoài để thiền trên núi hay sa mạc

Trong trường hợp đối với những người đã phát triển tâm linh, giá trị xã hội rất lớn. Anh hãy tự hỏi tại sao thiền sư, không là gì ngoài lòng từ bi, lại tự giam mình trên núi, trừ phi ông biết là làm như thế ông có thể giúp người khác. Trong truyền thống của thiền, như quí vị đã nghe, các sư và những bậc giác ngộ khác đều sống cô tịch. Vì gánh nặng thế gian được cởi bỏ, họ có thể dành nhiều thời gian cho tọa thiền đọc kinh và hoằng pháp. Thực ra, họ trở thành những trạm truyền phật lý đến tâm con người ở khắp mọi nơi, không khác các đài truyền thanh truyền hình. 

Để tiếp nhận âm thanh và hình ảnh từ đài phát thanh và truyền hình, người ta cần có bộ phận thu thanh và thu hình cũng như biết tần số và kênh phát tín hiệu. Vậy làm cách nào người ta có thể hòa điệu trong khi họ không biết là ai đang tỏa ra những rung động tâm linh vào họ. 

Họ đã được hòa điệu dù họ có biết hay không biết, vì họ là một bộ phận trọn vẹn của một tâm. Theo quan điểm phật giáo, ý thức cá nhân là lực năng lượng hiểu biết, tổng cộng các loại thay đổi không ngừng của cảm giác, ấn tượng, nhận thức, tư niệm, khuynh hướng, ký ức. tất cả căn bản là sự trống rỗng. Như một phương tiện luôn thay đổi của tâm, ý thức cũng mở rộng với những lực năng lượng tương tự và cao hơn chẳng hạn như phật tâm trong đó tương tác không ngừng giữa cá nhân và vũ trụ, ý thức cũng như vô thức. Nhưng con người bị lầm bởi lý trí nhị nguyên của họ, mất đi sự nhận thức về sự trao đổi căn bản này. Từ đó xa lánh phát triển lòng mong muốn vô thức về sự hài hòa, lòng mong ước được nuôi dưỡng bởi những sự tận cùng cô độc của những vị sư, người có tâm giác ngộ, trong sạch, giới luật tinh nghiêm, có thể tự do hấp thụ năng lượng cao và truyền chúng vào tâm người khác. Sự trao đổi căn bản này không bao giờ mất. Nhờ vậy, cái tín hiệu đó xuyên thấu và thực sự tác động làm biến đổi tận nơi sâu thẳm nhất của ý thức. Tất cả điều đó, xảy ra ở mức độ vô thức, không làm nó kém thật. 

Có chứng cứ khoa học nào chứng tỏ những gì thầy vừa nói thật sự xảy ra hay không?

Tại sao trong khi ta có thể truyền xung động điện tử hàng ngàn dặm trong không gian để thay đổi hướng di chuyển của con tàu vũ trụ chiến công đó chắc không gây sợ hãi hơn tâm lực có phải là những gì bạn vừa nghe có thể chấp nhận được khi không có bằng chứng khoa học, phải không. bạn không biết là hành động trong trạng thái xuất thần khả năng dịch chuyển hay làm biến dạng đối tượng vật chất bởi chỉ một tiến trình của tâm, hoặc ảnh hưởng đến tâm người khác từ một điểm xa xôi, là một hiện tượng được công nhận hoàn toàn trong môn nghiên cứu siêu tâm lý hay sao. 

xin thầy vui lòng kể cho chúng tôi những kỹ thuật mà những vị thầy này truyền rung động của họ và năng lượng của núi

không có kỹ thuật mà là cách tọa thiền khác nhau. Nếu mục đích là giúp người đau khổ cự cdodoj chẳng hạn, là nạn nhân của những trận động đất, lụt lội hay tai họa khác vị sư có lẽ sẽ tập trung ý thức ông vào những nơi như vậy. 

Chính xác ông ta làm như thế nào

Trong những phút đầu của buổi tọa thiền, chẳng hạn ông có thể cho phép tâm mình trụ trên những hình ảnh tinh thần của những nạn nhân, sau đó ông phóng cảm giác cảm thông và từ bi đến họ. Bằng cách này tạo nên mối quan hệ tốt với họ, rồi ông sẽ xóa bỏ các hình ảnh cảm giác và mọi thứ khác trong tâm để đi vào trạng thái vô niệm. Chính ở điểm này của sự giống nhau tuyệt đối, nơi nhận thức về núi, bản thân, và mọi hình ảnh hay suy nghĩ biến mất, sự truyền đi xảy ra. Nhưng quí vị không cần phải là vị sư, cũng không cần phải tạo thiền trên núi thiêng để giúp chính mình và người khác. Theo lời thiền sư Đạo Nguyên một người ngồi vô bản ngã trong tọa thiền trở nên một người không thể nhận ra với thế giới vô hình hay hữu hình, suốt quá khứ, hiện tại tiếp tục thực hiện công việc không ngừng dẫn dắt con người tới giác ngộ. 

Tôi có biết một câu chuyện, vìa năm trước chính quyền Mỹ ở Mát cơ va khám phá người nga đang chiếu sóng vi ba vào tòa đại sứ Mỹ. NGười ta tin rằng nó gây ra bệnh mệt mỏi, và rối loạn thần kinh bất thường xảy ra trong số nhân viên sứ quán. Tôi cũng biết là CIA tham gia thí nghiệm điều khiển hành vi con người bằng thiết bị điều khiển từ xa như dẫn con người đến tuân phục ý chí áp đặt nào đó. 

Câu hỏi của tôi là: có sự kahcs biệt thật nào giữa loại điều khiển tâm đó và những gì thầy đang nói không. Cho là mục tiêu khác nhau, không phải bất cứ kiểm soát tâm nào là nguy hiểm, đặc biệt là nằm trong tay những người xấu hay sao?

Chắc chắn là có thể. từ những gì anh nói nó. Có lẽ chúng ta đang đi vào thời đại nguy hiểm mới của cuộc chiến không tuyên bố. Nhưng hãy hiểu là có sự khác nhau rất lớn giữa cố gắng vị tha của thiền sư, có mục đích duy nhất là đến với ngộ không kiểm soát tâm vô thức của những người trong bóng tối tuyệt vọng và những hành động của những nhà kỹ thuật quân sự hay những người có năng lực siêu nhiên điều khiển ý thức vì mục đích đáng ngờ nhất. 

lão sư, tọa thiền có thể làm tâm con người không bị ảnh hưởng bởi sự điều khiển từ xa này không

Bất cứ ai tập thiền nghiêm túc đều biết là tọa thiền phát triển tâm mạnh mẽ dưới sự kiểm soát tự nhiên, có thể trun ghòa bất cứ nỗ lực nào điều khiển nó. 

Tọa thiền có thể bảo vệ chúng ta chống lại sóng vi ba không

tôi không biết. Ngoài các máy rà sóng hay phá sóng, có lẽ có sự bảo vệ không lâu, ngoại trừ yếu tố ngăn cản của sự sợ hãi trả thù lẫn nhau. Tuy nhiên ở đây người thực hành thiền hay hệ thống tương tự để rèn luyện tinh thần, tâm thân không lo âu cuồng nộ khi nghe những điều này. Và khi họ phải chết, họ sẽ có thể làm điều đó điềm tĩnh. 

tôi có thể đưa ra một đề tài khác dược không. từ rung động làm phiền tôi, vì tôi không hiểu nó, và người ta chuyển nó quanh, tưởng như họ có thể cảm nhận cái mà kẻ ngu ngốc vô cảm như tôi không thể. Nghĩa mong muốn của nó là gì?

Chúng ta biết từ môn vật lý là tất cả vật chất, động và bất động có sở hữu những lực điện từ mà bản chất của chúng được quyết định bởi mức rung động của những hạt điện tử của nó. Khi rung ododngj của một người hay một nơi hài hòa với chính ta, chúng ta cảm thấy dễ chịu và phản ứng của ta ở đây tích cực, khi chúng không hòa hợp ta cảm thấy khó chịu và nói tôi không thích rung động của anh ta hay tôi không thích ủng động ở đây. nói khác đi, nó là bầu không khí hay phẩm chất vô hình bao quanh một người hay một nơi. 

thế còn về sa mạc hay biển được dùng làm nơi tọa thiền

đừng bao giờ cố thử tọa thiền trên sa mạc. tôi không thể nói từ kinh nghiệm cá nhân. nhưng những hội viên của trung tâm đã làm và có những báo cao mâu thuẫn nhau

tọa thiền ở vùng biển có cái lợi của nó, nhưng bờ biển có nhiều người đến bơi, tắm nắng nên không dẫn đến việc tọa thiền nghiêm túc. nên nhớ là khi anh ngồi trên núi và nhìn quang cảnh trải rộng, anh có thể bị cám dỗ triết lý hóa cảnh đẹp và sự mong manh của đời người, điều đó cũng tương tự như khi tọa thiền ở biển hay sa mạc. Những cám dỗ như vậy có thể làm ngăn trở tọa thiền. 

Từ kinh nghiệm của thầy, thời gian nào trong ngày tọa thiền tốt nhất

Nói chung, trong một ngày đêm có bốn thời tốt nhất để tọa thiền có lợi cho thân tâm, bình minh, giờ ngọ, hoàng hôn, và lúc nửa đêm. Đối với núi, tội nhận thấy giờ tốt nhất để tọa thiền là trước khi mặt trời mọc. 

Tại sao như vậy. 

Sau khi núi đã hút năng lượng vũ trụ từ mặt trời, không khí, và trái đất rồi tiêu hóa hay hấp thu những chất dinh dưỡng vô hình này qua đêm. Vì vậy, sáng oswms, trước khi mặt trời mọc, ngọn núi khỏe mạnh sung sức, nguồn năng lượng của nó trôi tự nhiên. cộng với không khí mát lúc đó, làm bạn có thể dễ dàng dẹp đi các tư niệm, hòa nhập với ngọn núi và hút sự phát ra của nó. vào buổi trưa nóng, đặc biệt ở các nước thuộc vùng nhiệt đới, năng lượng của núi trwor nên bất động, tưởng như con quái vật đá đang đánh một giấc ngủ trưa. Nhưng vào buổi chiều một lần nữa nó sống lại, khoác lên cái cảm giác mát lạnh. Nó cũng là thời gian thích hợp để tọa thiền. Nhưng không gì bằng tọa thiền trên núi lúc trăng tròn. 

Còn thiền trong hang động thì sao không phải thầy đã thiền trong hang động ở núi thiêng me hi cô sao

hang động thì tốt, nếu không phải động của sa tăng

nó là gì

động của sa tăng là một thành ngữ thiền nói về trạng thái hạnh phucsyeen bình trở nên địa ngục, vì cho là thật sự ngộ nên người ta muốn ở lại trong chỗ giới hạn như bài htai của nó. 

đó là lý do tại sao nó được gọi là động của sa tăng. 

ngộ là gì

khi một thiền sư được hỏi phật giáo là gì ông đáp tôi không hiểu phật giáo

phần tôi tôi không hiểu về ngộ

nếu thầy ko hiểu thì ai hiểu

tại sao không không hỏi người nào nói tôi đã đắc ngộ. 

thầy đắc ngộ chưa

nếu tôi nói rồi tôi đã đắc ngộ nhiều người trong quí vị biết sẽ bước ra khỏi đây khinh bỉ, nếu tôi nói chưa tôi chưa đắc ngộ những người trong quí vị hiểu lầm sẽ bước ra thất vọng. vậy...

lão sư không phải có trường hợp ngộ đến thình lình tự phát sao, cái gì thúc đầy nó và nó khác với ngộ thiền như thế nào

nói đúng ra, mỗi loại ngộ thình lình theo nghĩa nó xảy ra đột ngột như nước sôi, cái dần dần là được huấn luyện lâu dài thường đi trước nó. Từ tự phát anh muốn nói có nghĩa là ngộ mà không cần tu tập, phải không. 

Đúng. 

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022

Thiền ánh bình minh phương tây 1

 Cái gì là tư niệm bất thiện

Người hỏi: trước đây trong buổi hội thảo thầy nói về tư niệm bất thiện. Thầy vui lòng đưa ra một vài ví dụ về tư niệm bất thiện. 

Lão sư: khái niệm tốt xấu, mộng mơ, tôi yêu nó, tôi ghét nó, tư niệm giận hoặc căm thù, những ý nghĩ cố chấp, những phán đoán không cần thiết, những đánh giá và kết luận không cần thiết, sự phân biệt không hợp lý, suy nghĩ ghen tị và thèm muốn. 

Người hỏi thứ hai: có cách nào để tránh làm những phán xét hoặc có những ý kiến. 

Lão sư: chú ý từ không cần thiết. Thầy giáo, cha mẹ, người phê bình, quan tòa phải làm những phán xét đó là công việc của họ. Nhưng chúng ta đang nói về sự đánh giá vu vơ mà người bình thường làm hàng chục lần trong ngày và cha mẹ vô tình thúc con họ làm. Chẳng hạn hỏi con: con thích cái nào hơn, hoa hồng hay hoa cúc. để có câu trả lời đại loại như con thích hoa hồng hơn hoa cúc. Hỏi ai qua đối thoại. anh nghĩ gì về cái này, cái nọ. nài nỉ một câu xét đoán. Hại như nhau là tự xét đoán, gán cho hành động của ai là tốt hay xấu. Thái độ đánh giá này được tìm thấy chính trong kinh thánh, rằng sau khi chúa tạo ra thế giới, người nhìn vào đó và phán tốt. 

Người hỏi thứ 2: tôi vẫn chưa hiểu căn bản cái gì sai về những phán xét hay ý kiến

một khi anh hình thành một ý kiến anh sẽ bám vào nó. Rồi anh cảm thấy bị thúc dục phải bảo vệ nó, trở nên ưa tranh cãi và hay gây sự. Ý kiến Voltaire nói, gây ra nhiều phiền toái trên đời này hơn tất cả những bệnh dịch và động đất. 

Có chế độ ăn đặc biệt cho thiền không

Không, nó có vẻ mâu thuẫn. Ngay khi bạn công nhận một chế độ ăn của thiền, bạn sẽ trwor nên lệ thuộc vào nó. Thiền dạy sự tự do chấp nhận hoặc từ chối không có sự bắt buộc hay hối tiếc. Thế thì làm sao có một học thuyết ăn kiêng của thiền để kéo dài cuộc sống hoặc các loại ăn kiêng thiền khác. Có một điều đáng nói là dễ khép mình vào thiền và được đắc ngộ, khi sinh khí nền tảng của bạn mạnh, và chế độ ăn điều hòa các thức ăn dinh dưỡng chưa bị tinh chế sẽ giúp bạn tới đích. Nó hoàn toàn khác với khăng khăng một chế độ ăn kiêng của thiền

thật là đáng ngạc nhiên vì quá ít người biết rằng ngay cả những thức ăn tốt cũng gây hại khi nó được nấu và phục vụ bởi một người lo âu hay sợ sệt, hay những người có đầu óc luôn giận dữ hay bực tức. Những phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể bởi những rung động bất tịnh đó có sức làm độc thức ăn bị xúc phạm bởi những cá nhân như vậy, gây cho người nhạy cảm ăn nó có những phản ứng như nhức đầu, đau bụng hay các bịnh tương tự. đó là lý do tại sao ở các thiền viện, duy chỉ những người tinh tấn trong tu tập với cái tâm trong sáng nhất, công bằng nhất, mới được phép làm công việc nấu nướng. Không cần phải nói tâm của chính người ăn cũng có ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa. 

Người hỏi: nhưng nếu ăn trong nhà hàng làm sao thầy có thể biết trạng thái tinh thần của người đầu bếp?

Bạn không thể. Đó là lý do tại sao người tu luyện nghiêm túc thường né tránh việc dùng bữa ở nhà hàng bất cứ khi nào có thể được. 

Thế những nhà hàng của những nhóm tôn giáo điều hành thì sao?

khi thức ăn được xem như đồ cúng, lý tưởng khi nó ở trong những nơi như thế, nó được chuẩn bị và phục vụ với tình yêu và dâng hiến, vì vậy nó trở nên pha trộn với những rung động trong sạch hơn đó. 

Người hỏi: tôi chú ý là bữa ăn trưa hôm nay có những thức ăn tự nhiên cho người ăn chay. Tôi mong đợi điều này ở Trung tâm thiền, nhưng dường như điều thích thú là ngày nay có rất nhiều người dùng những thực phẩm tự nhiên. Ngay cả quán ăn trường tôi có mở cửa hàng bán thức ăn bổ dưỡng. Ý nghĩa của phong trào này là gì

lão sư: ước muốn làm trong sạch thân xác thật sự phản ánh một ước mong trong tiềm thức hoàn thành ước nguyện của chính mình. Nhưng nhiều người đã sa lầy vào vấn đề sức khỏe thể chất và chính nó trở thành quan trọng. Họ quá say mê với những biểu đồ thức ăn, với những tính toán tánh âm dương của thức ăn, về tập thể dục đến nỗi không bao giờ rời khỏi sự quan tâm về cơ thể, để đạt được sự giải thoát thật sự về mặt tâm linh. Ở những người này, vẫn không có hiểu biết và ý thức về sự trwor nên xa lạ của họ với cái tôi, không có cảm giác đau khổ của ngã để thúc đẩy họ tìm kiếm câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cái chế. Ngộ nói lên sự cởi bỏ thân tâm. 

Phải tránh ăn thịt để trở nên một phật tử tốt phải không

có quá nhiều yêu cầu căn bản  hơn là ăn hay không ăn thịt. song nó khôn gphair là vấn đề đơn giản nên hay không nên. Khi tu luyện thâm sâu, nỗi sợ tiềm thức và thói quen bắt buộc dần phai đi và thân tâm thu được một sự nhạy cảm tinh tế sắc bán ngày hơn nhiều, vì thế người ta phát triển ột cách tự nhiên cái ý chính thức ăn chay hơn những thức ăn thô như thịt. 

Có nhiều thứ để nói về một cách ăn đơn giản. Hầu hết mọi người ăn quá mức và theo sự quan sát của Seneca, con người không chết tự nhiên mà tự giết mình bằng dao và nĩa. Thực trạng này có từ xưa đến nay. không ai tỏ ra khó chịu vì chứng khó tiêu, táo bón kinh niên, và những bệnh có chung một gốc do ăn uống quá độ gây ra. Kết quả của việc ăn quá nhiều hay ăn thức ăn quá nhiều dinh dưỡng là chướng ngại cho việc hành thiền có hiệu quả. Đặc biệt là người thường ngồi một chỗ để làm việc, ít tập thể dục, thiền nhiều giờ thì ăn ít đi lại tố hơn ăn nhiều. Nói cách khác, một bữa ăn thanh đạm có ích cho việc tọa thiền, làm tắt khao khát xác thịt và những ảo tưởng. Thưc ra trong trạng thái định sâu, cơ thể ít đòi hỏi năng lượng, do đó hành giả có thể ăn ít hay không cần ăn mà dường như nó được nuôi từ việc rút ra một loại dinh dưỡng khác từ không khí. 

Cho đến khi bạn đạt đến trình độ này, tuy nhiên, thật là thiếu khôn ngoan khi từ bỏ thịt cá cùng một lúc, vì sự từ bỏ đột ngột những món ăn đã quen thuộc với cơ thể có thể gây ra phan ửng và tạo ra bệnh, làm chấm dứt việc tọa thiền. Đưa những thay đổi vào cách ăn một cách từ từ, để cho các chất hóa học của cơ thể có thời gian điều chỉnh. 

Sự thật là chúng ta bị yếu đi nhiều vì tư niệ tham, sân , si hơn là không đủ lượng chất đạm hay các sinh tố. Tọa thiền bằng cách tập trung và điều khiển tâm làm tăng cường sự chú ý và thanh lọc tình cảm, giúp người ta cuối cùng xóa tan những tư niệm có hại từ bên ngoài. Một người khỏe mạnh về tinh thần là người đã phát triển khả năng này, đã nhìn vào chân tánh của sự vật, và có thể thích nghi một cách sáng tạo với môi trường đó là đáp lại một cách tự do đầy đủ những hoàn cảnh thay đổi không có sự lo âu. Cuối cùng, đàng sau những chứng bệnh kinh niên là sự bất an về tinh thần. Cảm giác không thỏa mãn đang gặm nhấm làm cơ thể bịnh, và cơ thể bịnh tạo nên tâm bệnh. 

Đọc về giác ngộ giống như gãi cái chân ngứa mà không cởi giày. 

tôi có vẻ hơi liều , nhưng dù sao tôi phải hỏi điều này.  thường sau khi đọc về giác ngộ tôi dường như hiểu rất rõ nó là gì, và nhiều lần tôi hoàn toàn cảm thấy sự giống nhau của tất cả sự sống. Nhưng có gì khác nhau giữa loại hiểu biết này và tỉnh thức của thiền. 

Đọc về ngộ giống như đọc về chất dinh dưỡng khi bạn đói. Thế nó có làm bạn no không. Rõ là không . chỉ khi bạn nếm nhai và nuốt chúng bạn mới cảm thấy thỏa mãn, nó có thể so sánh với ngộ hoặc tỉnh thức. Rồi ngay cả thức ăn bạn đã ăn cũng không nuôi bạn cho đến khi sự tiêu hóa và hấp thu xảy ra. Cũng giống như vậy, đến khi bạn hội nhập vào cuộc sống hàng ngày những gì bạn nhìn thấy, sự ngộ vẫn chưa làm gì cho bạn, nó sẽ không làm thay đổi cuộc đời bạn. Và như bước cuối cùng của thức ăn là loại bỏ, vì thế người ta phải đương nhiên loại chính mình khỏi khái niệm. Tôi được giác ngộ. Lúc đó chỉ có bạn, bước tự do giữa đất trời. 

Bâ giờ giả sử bàn chân bạn ngứa. Bạn có cảm thấy tốt hơn khi gãi bàn chân không giày hay gãi chỗ ngứa mà khong cởi giày. 

dĩ nhiên là gãi bàn chân không giày. 

đọc về gnooj giống như gãi chỗ ngứa mà không cởi giày. 

Đọc hay không nên đọc. 

Có hai điểm liên quan đến đọc sách làm tôi bối rối. Thầy nói là đến lúc ngộ người ta cần từ bỏ suy nghĩ về tôi, người khác và ngưng chơi đùa với những khái niệm, thầy ám chỉ là việc đọc  nuôi dưỡng những quan niệm và những tư niệm ngẫu nhiên, phải bỏ đi. Tôi biết là có nhiều thiền tăng uyên bác ở Trung hoa và Nhật thời xưa, họ rõ ràng chắc là đọc rất nhiều.

Điểu thứ hai thuộc về cá nhân. tôi đang học trở thành bác sĩ thần kinh và không có cách nào khác phải đọc nhiều, không chỉ trong lĩnh vực của tôi à còn trong những phạm vi có liên quan. 

việc đọc trong những phạm vi có liên quan này là gì

ví dụ, để hiểu vấn đề của người dân ở các nước khác, đọc giúp tôi làm quen với cách diễn đạt và lối suy nghĩ của họ. Mọi thứ đều liên quan đến việc đọc. Nhưng nếu đọc làm hại việc tọa thiền của tôi và tôi bỏ mọi thứ sách báo, cả những tạp chí khoa học, làm sao tôi tiến bộ và có thể giúp cho bệnh nhân của tôi tốt hơn. 

Những gì tôi đã nói là đọc bừa bài phải bị bỏ, không phải là tất cả. Sinh viên như bạn và những người chuyên nghiệp nào đó cần đọc và nghiên cứu, những hoạt động như vậy phải được xem như một phần của tọa thiền của bạn. Và tọa thiền thường xuyên, do tăng sự tập trung hay thư giãn đầu óc sẽ làm bạn học tốt hơn cũng như lưu giữ những gì đã học. Nhiều hội viên của chúng tôi là sinh viên, thầy giáo và những chuyên gia. 

Thầy định nghĩa thế nào là đọc bừa bãi

Đọc bừa bãi là đọc thái quá sahcs báo tạp chí, tiểu thuyết và vấn đề tương tự không thiết yếu hoặc liên quan tới công việc hay nghiên cứu của bạn. chú ý từ thái quá. Bạn có từng quan sát người ta ở trạm xe buýt, sân bay hoặc nhà ga không. thường thường nếu họ ở đó một mình, ngay khi ngồi xuống họ lấy sách, báo hoặc tạp chí ra đọc. rất ít người có thể thiền haowjc chỉ ngồi yên lặng. đọc tiêu hao năng lượng, trong khi thiền gìn giữa và tập trung nó. nếu trong tọa thiền bạn cho phép trọng lực đặt ở khu vực rộng của bàn tay phía dưới rún, bạn lập một giếng năng lượng ở đó làm mạnh mẽ toàn thân. Bạn có thể so sánh qui trình này với máy phát điện sạc bình ác qui. 

Thầy tôi thường bảo với môn đồ là càng ít đọc sách triết hay về thiền thì càng ngộ nhanh. tại sao lại như vậy. vì ông biết rằng loại sách này đặc biệt cản trở tâm bằng những quan niệm, khái niệm nặng nền. Có một lần lão sư đại vân, từng là một giáo sư, nó rằn kinh nghiệm ngộ độc đáo của lục tổ khi nghe một ông tăng lang thang đọc kinh kim cương, có thể nhờ một phần do sự mù chữ của ngài đó là muốn nói tâm của ông thoát khỏi những suy đoán vu vơ được nuôi dưỡng bởi đọc và nghiên cứu rộng. 

người mới tu trong thiền viện được khuyến khích chỉ nên đọc những mẩu chuyện về cuộc đời của các thiền sư và chư tổ, dù vậy họ cũng phải thuộc lòng một số kinh để tụng. Họ có thể nghe trực nhận chân lý từ người thầy, mà không cần phải qua trung gian của qua những trang giấy in. Ngôn ngữ và văn tự có thể làm lệch cái ý nghĩa chân xác của cái như thật. Thiền nhấn mạnh, nghe sự thật, tin nhận, hành trì. nghe sự thật vì sự thật được kể từ người đã chứng nghiệm nó, rung động với một sức mạnh vô địch bởi những lời hùng biện nhất.

coi chừng việc đọc quá mức các loại sách báo, giống như một liều thuốc quá lớn, đè nặng tâm và làm cùn khả năng suy nghĩ sáng tạo. đọc bừa bãi cũng có thể nuôi dưỡng sự tham lam vì những sự kiện vô ích và lòng kiêu hãnh trong sự chiếm hữu những phẩm chất không dẫn đến sự tiến bộ tâm linh. cuối cùng, chân tuệ gồm khả năng đọc được những cuốn sách chưa được. viết ra. 

Đọc và tọa thiền không bỏ xung cho nhau. đọc những đề tài có phạm vi rộng lớn, đặc biệt về những sự kiện và lý thuyết làm mệt óc và làm cơ thể yếu đi, làm tê liệt ý muốn tọa thiền. mặt khác, sau khi tọa thiền tâm bạn sẽ cảm thấ rất trong sáng và tỉnh táo đến nỗi bạn không muốn bị che phủ bằng cách đọc những loại đó. 

Nhưn gtooi nghĩ là đọc những lời dạy của thầy sẽ gây hứng thú và cũng giúp ích để nghiên cứu những nguyên tắc phật giáo

Nếu anh làm việc gần gũi với một người thầy, anh có thể suy đoán những nguyên tắc từ chính việc tọa thiền. Tâm bạn càng thoát khỏi những sự kiện, lý thuyết thì càng nhận rõ lời dạy và dự tiến bộ của bạn nhanh hơn. 

Tuy nhiên sau ngộ, đọc kinh và những lời dạy của thầy có thể rất hữu ích những gì vừa được đề cập đén là dành cho những người có vị thầy hướng dẫn về tinh thần. Nếu bạn không có, thì đối với bạn, loại sách đọc tốt nhất là cái làm tăng đức tin và có sức thuyết phục. Đừng rơi vào thói quen đọc sách mới về thiền hay yoga hoặc về bất cứ truyền thống nào bạn thích. Có hay không có người thầy, bạn cần phải khám phá chiếu thiền và học cách kỷ luận chính mình. Và một khi bạn tin ràng có nhu cầu về luyện và kỷ luật tinh thần, hãy tìm một vị thầy và bắt đầu đi theo đường đạo. 

Thế còn đọc tiểu thuyết chỉ vì thú vui đơn thuần thì sao. 

nó hoàn toàn lệ thuộc sự háo hức cỡ nào của anh đối với sự ngộ. Nếu bạn khao khát chân ngộ, bạn sẽ thức dậy lúc ba giờ sáng, không cầm lấy tiểu thuyết mà hướng tới goois thiền và sẽ không có gì có thể tách bạn ra khỏi nó. 

Đọc loại sách nào là tốt nhất khi thầy có một cuộc sống tâm linh

emerson nói, cuốn sách tốt đặt tôi vào trạng thái làm việc. Nếu bạn muốn hiểu chân tánh không chỉ tiên đoán về chúng cuốn sách tốt là khi có hàm chứa ý nghĩa sâu xa đươc khám phá qua kinh nghiệm cá nhân. Một cuốn sách khuấy động taamm, đốt cháy khả năng tưởng tượng và dẫn đến quyết tâm không để cái gì cản lối của ngộ. Tóm lại, nó đưa bạn ra khỏi ghế đến với chiếu thiền. 

Người hỏi thứ năm: những quyển sách nào thầy đặc biệt khuyên đọc. 

lão sư: tôi chú thích một danh sách các quyển sách mà tôi tự nhận thấy cảm hứng và dùng để dạy. Xem bản chú thích tài liệu đọc. Một số tựa sách hay được bỏ đi vì nó không còn được in. 

Đừng nghĩ rằng quí vị cần phải đọc từng cuốn trong danh sách được đề nghị hay tất cả chúng. ngay cả những cuốn bạn đã đọc, lệ thuộc vào sự ong mỏi, và sự phát triển tâm linh của bạn. nếm từ đầu lưỡi cũng đủ cho một số người, số khác có thể cong lưỡi lại như nếm rượu ngon, và một số thì thưởng thức và nuốt với sự thích thú của người không ăn gì trong nhiều ngày. 

Từng cuốn sách này, cho tôi nhấn mạnh gắn vào cái nhãn: coi chừng tạo thành thói quen. Có hại nếu dùng những liều lớn. 

Cái gì thật sự là thật

nếu tôi hiểu thầy đúng, và tôi nghĩ thầy đang trích dẫn lời của phật, thầy nói không có gì tồn tại

anh không hiểu điều này trực tiếp. tôi trích dẫn lời đức phật khi nói mọi vật không tồn tại cũng không phải không tồn tại. Điều này hoàn toàn khác từ những gì bạn nói. 

Đúng vậy, tôi hiểu đúng. Nhưng nếu mọi vật không tồn tại cũng không phải không tồn tại, cái gì là thật, cái gì thật sự là thật. 

Hãy đến gần đây. 

người hỏi lên bục giảng. lão sư nghiên người thì thào vào tai anh ta. Cả hai đều cười và bắt tay

chỉ có điều đó thật sự là thật. 

Thầy có nói trước đây trong một cuộc hội thảo là không nên có hơn một người thầy. Tôi có đọc được một lời nói của một vị thầy ấn độ ở vùng duyên hải phía tây. Người ta có thể giao phó cho hơn một người thầy tinh thần cùng một lúc. Một con ong hút mật từ nhiều bông hoa. một người vì thế có thể học thuộc từ một người thầy và học luật từ một người khác. Không có sự xung đột. Tại sao thầy không đồng ý với ý kiến của ông ta. 

Thế anh hiện đã giao phó cho một người thầy nào chưa?

Chưa, tôi là con ong đang bay từ bông hoa này sang bông hoa khác. 

Thế thì chừng nào anh làm ra mật. 

Tôi hy vọng là chẳng bao lâu nữa. Tôi đang thu lượm mật hoa ở bất cứ nơi nào tôi tìm thấy. 

Đừng quên rằng con ong tạo ra mật chỉ sau khi nó ngừng bay từ hoa này sang hoa khác. Và anh cũng thu được mật tốt, chẳng hạn, từ con ong cũng vào hút hoa cây quất hay hoa kiều mạch. 

Trở lại câu nói ban đầu: điều mà tôi đã nói, trước khi yêu cầu sự giúp đỡ của một vị thầy thì việc tranh thủ những thầy khác cũng tốt thôi, nhưng một khi anh đã chính thức giao phó bản thân mình như một môn đệ, anh không được ngó ngây dại đến người thầy khác. Tuy nhiên, sau khi đã được huấn luyện với một người thầy và ngộ dưới sự hướng dẫn của ông ta. Anh có thể có lợi khi tiếp xúc với những người thầy đã ngộ khác. 

Thầy muốn ám chỉ gì khi nói ngó ngây dại. 

Đừng lừa thầy. Sự ngoại tình tinh thần không tốt hơn ngoại tình về thể xác. ếu anh muốn theo đuổi những vị thầy khác giống như chon gchongs thời tiết xoay theo từng hướng gió mới, anh chỉ thành công trong việc làm mình rối lên và không thu được gì. 

Có nghĩa là người ta phải phục tùng ngoan ngoãn người thầy hay không. 

Không, anh phải học cách suy nghĩ độc lập và tuân theo chính trực giác và kinh nghiệm sống của anh. Ngay trước khi Đức Phật nhập diệt ngài nói với đám đệ tử quay quanh mình, một số đang khóc với ý nghĩ là mất, sắp mất đi người thầy thân yêu: Hãy đốt đuốc lên mà đi... nương tựa vào pháp. Đừng trông chò vào sự giúp đỡ của ai ngoài chính mình. 

Trong Thiền, mục đích của người thầy, ngoài việc dìu dắt người môn đồ đi đến giác ngộ, là giữ cho họ không chịu ảnh hưởng của mình. Ông không muốn kiểm soát cuộc sống của môn đồ, mà chỉ làm anh ta đủ sức làm chủ cuộc sống của mình thay vì làm nô lệ cho nó. Trong một số truyền thống tôn giáo, như anh đã biết đấy, người thầy thật sự điều khiển cuộc sống của môn đồ đến mức độ nói với họ lấy vợ và có con ha không. Lời của ông ta là luật. Nếu khả năng tâm linh của ông ta sâu thì ít nguy hiểm. Nếu không, chỉ có trời mới có thẻ giúp được người học trò đó. 

Hãy tránh những người thầy nói. Ta được đắc ngộ. Hãy cảnh giác với những vị thầy tuyên bố là một vị thần, một tái sinh, Thánh hay phật. Và hơn hết, nên tránh người thầy cho phép tín đồ của mình ca tụng với hai tay giơ lên trong một buổi tụ tập quần chúng, và ca ngợi ông ta là thánh thiện nhất trong những bậc thánh thiện. ông ta là điều đe dọa lớn nhất. 

Người thầy chân chính phản ứng như thế nào với sự ca ngợ. Có một lần ngài a lnan đà thị giả của đức phật nói với phật, bạch đức thế ôn. con nghĩ là trong quá khứ chưa hề có vị thầ nào vĩ đại nhưu ngài và trong tương lai cũng sẽ không có ai vĩ đại như ngài. phật đáp người biết hết tất cả chư phật trong quá khứ sao. 

Không, bạch đức thế tôn

này a an, ngươi có phép thần thông biết được tất cả chư phật của vị lai hay sao

không bahcj đức thế tôn

vậy, này a nan thế thì chắc ngươi biết trọn vẹn tâm của như lai phải không? 

Không, bạch đức thế tôn. 

Vậy tại sao đức phật hỏi. ngươi có thể khẳng định một cách mạnh mẽ như vậy

một thiền sư có giấy chứng nhận, đại loại như là bằng cấp chứng nhận trình độ văn hóa, có chứng nhận vị ấy dạy thiền hay không. 

có một giấy chứng nhận viết chữ đẹp ghi là thầy cấp cho học viên của mình khi ông ấn chứng sự giác ngộ của anh ta, nhưng nó không thể gọi là giấy chứng nhận để dạy học được, vì sự huấn luyện thiền thật sự bắt đầu sau khi ngộ. Học viên hoàn tất cả các công án mà người thầy qui định nhận cái được gọi là ấn chứng. Nhưng ấn chứng tự nó không tạo nên một người thầy giỏi hơn là tốt nghiệp từ trường thuốc đào tạo nên ột bác sĩ đủ tài. Trong thiền, theo một số truyền thống á châu khác, một đồ đệ sẵn sàng dạy khi thầy anh ta bảo anh ta dạy. Đều này tự nhiên đặt rất nặng trách nhiệm lên đôi vai người thầy. Nếu ông ta khôn ngoan và có phẩm chất cao, ấn chứng là biện pháp bảo vệ đối với công chúng. Nếu ông ta tầm thường, có ấn chứng hay không, đồ đệ ông ta cũng sẽ rời bỏ vì không thỏa mãn. 

Thật là lộn xộn. không phải lão sư theo định nghĩa là thầy và hẳn phải không ngoan sao. 

nhiều người hiểu lầm về nghĩa của từ lão sư và thiền sư. Lão sư nghĩa đen là người thầy đáng kính --- đó là, người được tôn kính vì lý do tuổi tác hay phẩm chất cao đẹp. Tu viện trưởng, thầy trụ trì chùa hoặc thầy giáo cư sĩ ngoài tuổi năm mươi được gọi là lão sư và tước hiệu này ám chỉ sự kinh trọng sâu sắc. Ở nhật lão sư được sử dụng kính cẩn, phần lớn bởi đồ đệ và môn đồ của chính vị thầy ấy, nó không là tước hiệu tượng trưng cho việc hoàn tất một khóa học quy định hay công nhận sự chứng đắc cao về mặt tâm linh. Tước hiệu sư chuyển tả một ý niệm hoàn toàn mới. Thiền sư là người có nội kiến và tuệ giác, người cảm nghiệm tánh không và vô thường của các pháp, và lối sống của vị ấy phản ảnh những nhận thức như vậy. Trong quyển những điều cần biết trong huấn luyện phật tử mà thiền sư đạo nguyên trước 

dù lão sư có phải là sư hay không, chắc chắn ông ta đủ khôn ngoan để nhận biết một học trò nào có khả năng dạy hay không, phải không?

Anh tin thế à. 

Thế tạ sao ông ta cho phép học trò của mình dạy sớm. 

Lão sư cũng có những sai lầm như con người dù ít hơn những người trung bình và họ có thể sai lầm trong phán đoán. 

nhưng không phải ngộ xóa đi những sự bất toàn và những thiếu sót cá nhân hay sao. 

Không, chúng xuất hiện. Trước khi ngộ, người ta có thể dễ dàng làm ngơ hay thích nghi với tật xấu của mình, nhưng sau ngộ thì không còn có thể như vây, thiếu sót của ai hiển nhiên cũng gây khó chịu. Tuy nhiên, đồng thời một quyết tâm mạnh mẽ phát triển để loại chúng ra. Ngay khi tâm nhãn đầy đủ cũng không tức thời tỏ ra lạnh lùng thanh lọc rốt ráo những tình cảm. Tiếp tục tu luyện sau khi ngộ là điều cần thiết để tịnh hóa những tình cảm. Vì thế cách cư xử của ta xứng hợp với ngộ. Điểm cốt từ này phải được hiểu rõ. 

Ở phương tây một lão sư được xem là giống như phật, hạnh kiểm của ông tịnh không một vết nhơ. Theo một nghĩa nào đó, nó là sự ca tụng việc tu thiền. Nhưng cái nhìn lý tưởng này có thể che mắt người ta khiến họ không nhìn thấy mật hạnh của người thầy. Ở nhật, tôi biết có một lão sư uống rượu rất nhiều, mặc dù vậy, hiếm khi say. Môn đệ ông vẫn rất kính trọng ông. Tôi hỏi một người trong họ, một bác sĩ. Lão sư của anh uống rượu quá nhiều không làm phiền lòng anh sao.

không tại sao phải như vậy. ông là người không ngoan và từ bi. dù có uống rượu.

nhưng không phải ông ta nghiện rượu hay sao. 

không, ông ta có thể hạoc uống hoặc bỏ rượu, ông thích uống rượu. 

Khi tôi kể chuyện này với những đồ đệ của tôi, nhiều người ngạc nhiên hỏi. Làm thế nào những lão sư điều hòa việc uống rượu với giới cấm thứ năm, không uống rượu vì nó làm tâm mê mờ. Ta có thể thông cảm việc thỉnh thoảng uống rượu nhưng không uống liên tục như ông ta. Tấm gương gì ông đã nêu đối với môn đệ. 

/Người á châu độ lượng hươn trong những vấn đề như vậy so với người phương tây, vì vậy họ không dứt khoát từ chối người thầy mà họ khám phá ra là ít giống phật, vì họ biết một người có thể là người thầy tốt, tuy là chưa tự diệt trừ hết tất cả những ô trược. Một người Nhật có kinh nghiệm lâu dài trong

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Lời cuối ba trụ thiền

 Sự gặp nhau của các nền văn mình này chỉ mới bắt đầu , nhưng chúng ta đã có thể nhận dạng được một vài sắc thái hiển hiện của thiền phương tây phân biệt với tổ tiên châu á của nó. Một trong những sắc thái hiển nhiên nhất là những hình thái của đời sống. tăng già phản ánh những nguyên tắc có tính cách bình đẳng rất cơ bản đối với những người bắc mỹ và châu âu. Ví dụ những cuộc họp hàng năm của Hiệp hội thiền sư mỹ là một cải cách của phương tây. Những người dạy thiền từ nhiều hệ phái khác nhau thường kỳ gặp nhau để trao đổi tin tức và kinh nghiệm thì không nghe nói đến ở Nhật. Bên trong các cá thể Tăng già cũng vậy, chúng ta thấy một thẩm quyền đại cương là hàng ngang từ thế hệ của các bậc thầy dạy Theiefn đầu tiên sáng lập các trung tâm của họ. đa số các thầy, một cách tự phụ, giữa đường dây vì các vấn đề tinh thần đòi hỏi thẩm quyền của kinh nghiệm thâm sâu và hy vọng nội kiến tâm linh. Nhưng biên giới giữa các quyết định về tâm linh và thế gian thì để mở cho giải thích ( ở một thiền viện lớn, bây giờ các viện trưởng được tuyển chọn những nhiệm kỳ bốn năm bằng cách thành viên bỏ phiếu). 

Nhìn từ viễn cảnh lịch sử, thiền đang chịu một sự biến hình chưa từng có. Không giống phật giáo, thiền tông sinh trưởng từ miền đất của khổng giáo, và dù nó mang những hình thức phân biệt nơi mỗi quốc gia trong các quốc gia khác của phía đông châu á, nơi nó thiên di đến, một số mẫu chung giữa các coonngj dodonngf Thiền và xã hội rộng hươn là phong tục tập quán khổng giáo đã được hcaaps nhận.Như vậy những mối quan hệ của Tăng già đã được hình thành từ khái niệm lễ là một sự kết hợp những qui luật điều hành cách sống. Những qui luật này nhấn mạnh hiếu trung sự tôn trọng tuổi tác và huyết thống, cấp bậc phong thưởng, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị. Khó mà tìm thấy một thế giới quan nào trái ngược với khí chất của người Mỹ nhiều hơn. Chắc chắn, nhiều giá trị của Khổng giáo, nếu được thâu hóa, có thể phục vụ nối kết cái xã hội bị phân chia, xáo trộn một cách tuyệt vọng của chúng ta lại với nhau. Nhưng văn minh phương tây bị cắt đứt vì khác y phục và khi sự thực hành trên đất nước này trưởng thành, các trung tâm phật pháp từ bờ biển này sang bờ biển kia đã bắt đầu buông xuống một ít chủ nghĩa hình thức, sự kính sợ không nghi vấn về thẩm quyền và những khía cạnh khổng giáo khác của Thiền Đông Á mà chúng ta đã mặc thử chơi trong những năm đầu tiên, nhưng nó đã tỏ ra không vừa từ đó. 

Một thay đổi khác có ý nghĩa đối với Thiền là sự thừa nhận của chúng ta về sự bình đẳng của nữ giới như là những người thực hành thiền hiện đang trên đường tiến tới. Vai trò của nữ giới trong phật giáo châu á phần lớn không thấy được không phải là bí mật. Các hệ phái chính thức của các thầy, hay tổ hệ theo định nghĩa là độc quyền chỉ gồm nam giới. Nhưng phụ nữ đã đi đến giác ngộ từ trước đức phật, và các học giả đã biết rằng một số nữ nhân đã được xếp vào hàng chân sư. Vậy thì tại sao không một người nào trong những người đó được bao gồm trong chính hệ. Tính cách độc quyền này phản ánh địa vị truyền thống trong xã hội châu á như là một toàn thể, nhwung nó cũng có thể chuyển vận một thông điệp sai lầm rằng thông thường nữ giới không tỷ lệ với nam giới trong khả năng tinh thần. Rồi phụ hệ là một nhắc nhở về những thiên kiến văn hóa có thể ăn sâu như thế nào. Trong trường hợp này, sự ngầm cắt đi giáo lý nòng cốt của phật giáo rằng tất cả chúng sinh, không ngoại lệ đều được phú cho chân tánh giác ngộ. 

Sự chấp nhận lâu đời của phật giáo về sự không bình đẳng của tính phái đang cải cách ở phương tây. Trong cuộc họp hàng năm lần thứ mười ba của hiệp hội thiền sư mỹ, đa số những người tham dự là nữ giới, nhiều người trong số đó là giáo sĩ. Khi nữ giới phương tây trở thành quen trong tu tập thiền, họ lặng lẽ cải tiến thái độ và cách hành xử, đem lại sự quân bình đối với thiên kiến dương của thiền tu viện truyeenff thống. Có lẽ là kết quả, các trung tâm Thiền ở mỹ một cách có ý thức đang làm cái việc ném cho nhẹ bớt các hình thái phủ nhận thân xác, cạnh tranh, bị mục đích lèo lái quá độ của sự tu tập thiền truyền thống và đang cho phép các phương diện nuôi dưỡng, hợp tác, và tiến hành có hướng dẫn hơn của chân tánh tự biểu hiện. Người thực sự hiểu rõ , nam hay nữ, sẽ hiện thực tất cả các hình thái của bản tánh họ. Và tất cả chúng ta, trong khi còn thiếu tâm thái cao vời, ít nhất cũng có thể bắt đầu đảo ngược các thiên kiến về tính phái bằng cách thay dodoirngoon ngữ và các hình thức khác cảu di sản chúng ta đóng góp cho các thiên kiến đó. Vì mục đích đó, Thiền viện Rochester Zen Center giống như một số các nơi khác, đã thay phụ hệ bằng tổ hệ, và thêm vào đó một lời tỏ lòng tôn kính. 

Và các nữ nhân vô danh, các bậc giác hộ hằng thế kỉ

cam kết với pháp nuôi dưỡng

duy trì sự tu tập của chúng con

chắc hcawns, sự thích nghi sâu xa nhất đòi hỏi thiền ở phương tây xoay quoanh ý niệm về ngã của phương tây như là một cá thể tự trị. Giả định này rất cơ bản đối với cách suy nghĩ của chúng ta như là để quyết định thế giới quan trọn vẹn của chúng ta. Nhưng về mặt phẩm chất, nó khác với khái niệm về ngã theo truyền thống châu á, ở đó một người được định phận trong mạn lưới của các quan hệ xã hội, và tùy thuộc vào một mạn nhện liên lạc bao gồm những người khác cũng như nơi chốn, thời gian và lịch sử. Định nghĩa này âm vang mạnh mẽ với giáo lý phật giáo, ở đó ngã tương tùy ddeens nỗi nó không có thực tại cốt yếu. Phật giáo không phủ nhận ngã một cách tuyệt đối, nó chỉ phủ nhận ngã như là một thực thể tuyệt đối, không thya đổi, hiện hữu một cách độc lập. 

Một khi chúng ta bị các điều kiện qui định mà thấy chúng ta như là hiện hữu một cách độc lập trong các vai trò và liên hệ xã hội, chúng ta trở nên đặc biệt hoài nghi đối với một chủ thể của những chứng bệnh tự tham chiếu chính mình, vì chứng bệnh này khoa tâm lý trị liệu tây phương đã phát triển như là một phương thuốc. Tôi không tạo ra một phương pháp thực hành chung từ khoa tâm lý trị liệu và giới thiệu cho học viên của tôi, vì trong giới hạn ngắn nó có thể tác động kỳ dị với tọa thiền. Trong chiều hướng của khoa tâm lý trị liệu, một cahcs kiểu mẫu, người ta sẽ thấy chính mình bị những ý nghĩ về mình chiếm cứ nhiều hơn, và mối quan tâm về ngã này là phản đề của tọa thiền. Mặt khác, đối với những người cảm thấy cần nó và sẵn sàng vì nó, khoa tâm lý trị liệu có ý nghĩa nhiều như là cuộc giải phẫu cho một lực sĩ bị thương ở đầu gối. Với sự trợ giúp của khoa tâm lý trị liệu trong vài tháng, nhiều học viên của tôi đã thấy có sự cải thiện không chỉ trong những quan hệ và việc làm của họ mà còn trong chính chất lượng tọa thiền của họ. Sự ổn định và trong sáng của tình cảm trở nên lớn hơn, dường như, có thể làm vơi bớt phần nào sự xao xuyến và mối quan tâm về mình rất thường ngăn chặn người ta đạt đến những cảnh giới thấm nhập thiền định sâu hơn. 

Không nơi nào ý niệm về một cái ta tách rời được sắp xếp một cách an toàn hơn, được cả quyết một cách mạnh mẽ hơn ở Hoa Kỳ. Theo một viễn ảnh của phật giáo, nó là một khuyết tật của quốc gia chúng ta. Nhưng nó là bàn tay mà chúng ta, những người Mỹ đã được xử lý, hơn nữa, cảm giác xa lạ và sự tự ý thức về mình do nó gây nên, thúc giục nhiều người trong chúng ta thực hành. Dù thích hay không, mỗi hcungs ta hiện hữu trong chúng ta thực hành. Dù thích hay không, mỗi chúng ta hiện hữu trong nhân quả hỗ tương với môi trường chung quanh - một sự kiện mà chihs nó là chứng nhân cho bản tánh thấm nhập tất cả của cái ta. 

Không phải chuyện trao đổi trong cảm giác có tính cách cá nhân của chúng ta về cái ta để lấy một cảm giác về cái ta có tính cahcs tình thế hơn, ngay cả khi chúng ta có thể sẽ là giải pháp. Mọi thế giưới quan đều đem lại biểu hiện thiên lệch về sự hiện hữu của con người, và bằng cách làm cho câm nín hay đè ép các dạng thái của kinh nghiệm, mỗi cái gây ra đau khổ bằng những điều khaonr khác nhau. Tham sân và si là những phiền não của con người và các nền văn hóa á châu, trong đó thiền được nuôi dưỡng cũng có những lối đi riêng phân chia lầm lẫn thực tại thành những phạm trù tạo nên đau khổ. Bất cứ trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải làm việc với các hình thái tâm trí tức các hành của chúng ta như chúng hiện hữu. Tọa thiền có hiệu quả một cách phổ biến đánh tan những cấu trúc hư huyễn này, trong bất cứ hạn từ nào, con người cũng phải thích nghi theo để nghĩ bàn về chúng. 

Đối với người phương tây, khoa tâm lý trị liệu, như là một phương pháp chữa trị sinh trưởng từ bản xứ, vẫn hy vọng làm tăng thêm quá trình thức tỉnh. Không nên lầm lẫn lãnh vực của tâm lý với thế giới của yếu tánh, nhưng cả hai không tách rời nhau. Vì những người phương tây học thiền, ngay cả những người không có học về tâm lý học, do bản tánh, cũng có khuynh hướng tâm lý học hơn các bạn đồng học châu á của họ. Giáo lý và thực hành thiền đương nheien sẽ phản ánh sự nhuốm màu đó, nếu không vậy là chúng ta thấ bại. Số người phương tây dạy thiền sa đà ngày càng nhiều với các đồng nghiệp của kim cương thừa và minh sát tuệ, đang tự thích nghi với các viễn ảnh, nếu không phải là nhưng xphuowng pháp, của tâm lý học phương tây. Những ai làm ngơ các trước nhu cầu tâm lý học của học viên của họ hoặc chính bản thân họ thường trả cái giá bằng sự nguyên vẹn của cá nhân họ hay của học viên và hậu quả sẽ là phúc lợi và sự hòa hợp của coonngj đồng, tăng già của họ. Cho đến bây giờ điều ấy đã chứng tỏ tai hại đối với phật giáo nhiều hơn xa sự nguy hiểm trong tâm lý học hóa nó của chúng ta. 

Thực tế trong nền văn hóa thế tục cao độ cảu chúng ta, có thể nó có một bờ mép phủ lên tôn giáo chính thức, ở đó nó dễ bị những tín ngưỡng khác đồng hóa. Tâm lý học và phật giáo tán tỉnh nhau từ lúc hai bên gặp nhau ở đây. Và bây giờ đã có dấu hiệu thiền bắt đầu thích nghi với truyền thống Do thái ki tô giáo cũng như phật giáo đã thích nghi với đạo giáo và khổng giáo ở trung hoa. Ngày càng nhiều sách ra đời đưa ra trước những đối thoại của phật giáo với ki tô giáo và do thái giáo. Có ý nghĩa nhất trong tất cả là những khía cạnh lai giống trong tu tập thiền thực sự đang cho thấy những yếu tố hợp tác của do thái giáo và ki tô giáo. 

Làm thê snoaf phật giáo, một tôn giáo vô thần, tìm được sự thích gnhi với do thái giáo hay ki tô giáo. Hình như là ngược lại thì dễ hơn. Đức phật, trong khi phủ nhận mình là bất cứ một loại vô thần nào, ngài đã từ chối phủ định hay khẳng định sự hiện hữu của thượng đê.s Thiền tông, được biết vì khởi đầu bằng giáo lý bên ngoài ngôn ngữ văn tự, không dựa vòa kinh điển chỉ thẳng bản tâm có trước khi tất cả tôn giáo. Như vậy, những lời dạy của các thiền sư luôn luôn âm vang mạnh mẽ với những giáo lý của các nhà tu huyền bí ki tô giáo và do thái giáo cũng như của các sufi

Tuy nhiên khi đến chỗ hỗn hợp các nghi thức thực tế và những phương thức tu tập sùng mộ khác của Do thái giáo và ki tô giáo với những cái ấy của Thiền, tôi thấy có vấn đề. Chấp nhận, cách của người Mỹ, như Lão Sư Philip Kapleau nói, là tự do mượn từ tất cả mọi truyền thống, và chúng ta quen với pha trộn và cải tiến trong tất cả mọi đề tài văn hóa. Nhưng mọi truyền thống tâm linh đều có đặc tính riêng của nó, tinh luyện qua hàng thế kỷ trong liên hệ ứng xử với những người thực hành nó. Sự công khai đề nghị của Đạt Lai Lạt ma với người phương Tây rằng tốt hơn nên giữ lại với truyền thống tôn giáo của họ hơn là chấp nhận Phật Giáo là một điều mà tôi thấy không nên chấp nhận một cách quá nghiêm trọng vì nhiều người trong chúng ta, một cách đơn giản là không có sự lựa chọn nào cả, cái duyên của chúng ta với phật giáo rất thâm sâu. 

Song mọi con đường tâm linh vĩ đại đều có tính nguyên vẹn của nó, khi bị đặt vào tình thế nguy ngập nó càng đắp vá với các yếu tố của các truyền thống khác. Tôi nghĩ đến những lời bình luận của một học giả phật giáo được yêu mến giải thích về sự biến mất của phật giáo ở Ấn Độ nó không chết mà chỉ bị ngộp thở trong sự ôm ấp yêu thương của ấn độ giáo. 

Còn một sự phát triển lớn nữa của Thiền ở phương Tây là sự quan tâm trưởng giả với phật giáo dấn thân một phong trào hăng hái áp dụng bi tâm của phật giáo tức trí tuệ trong hành động vào các vấn đề xã hội, chính trị và môi trường. Theo truyền thống, phật giáo đã tập trung vào sự tu tập tinh thần cá nhân như là một phương thức tiến hành thông minh nhất để làm vơi đi sự đau khổ của tất cả chúng sinh. Những người phật giáo dấn thân đồng ý rằng tu tập thiền định là bất khả phân ly, nhưng thừa nhận rằng chúng ta bị quyết định bởi các hệ thống xã hội và chính trị mà chúng ta can hệ trong đó, tìm kiếm phương thuốc chữa trị các chứng bệnh của những hệ thống đó bằng cách chủ động làm việc cho hòa bình, công lý, giáo dục và bảo trì sinh thái. Làm việc như thế là đưa đến nguyên nhân giải thoát, rồi ngay cả khi nó đi theo truyền thống lâu dài của tôn giáo tây phương về phục vụ xã hội. 

Phương thức tiến hành tu tập rộng rãi hơn này dường như không có gì mới đối với phật giáo như là một toàn thể, nhưng nó đánh dấu sự ra đi từ điểm hội tụ truyền thống của thiền tông. Chấp nhận, ngay cả trong thiền, mười bức tranh chăn trâu vẽ chân dung giai đoạn cao nhất của ngộ như là vào chợ tiện tay giúp đỡ người có thể giải thích một cách dễ dàng bằng hạn từ phục vụ công chúng. Nhưng dù vậy đây có thể là lý tưởng, sự tu tập chủ yếu trong thiền đông á đã luôn luôn là thienf định im lặng, thường được thực hành ở những nơi hẻo lánh. xã hội hay cộng đồng có nghĩa là tự viện, và những hoạt odondgj từ bi trong các bức tường của nó đem lại lợi ích cho những người khác theo những con đường chủ yếu không thể nói được. 

Sự hứa hẹn của đời sống chiêm nghiệm đã tạo ra bản sắc của thiền đông á là sự thiền định vô ngã, hươn là một sự chạy trốn, phương pháp chữa trị chủ yếu cái gọi là thế gian thì không gì khác hơn là Tâm. Song, nhu cầu hoạt động xã hội và chính trị chưa bao giờ bức ép nhiều hơn. Trước kia chưa bao giờ các hệ thống và tổ chức giữ quyền lực toàn cầu như vậy, như thế triển hoãn sự giải trừ tham, san và si của con người là đe dọa môi trường sống. 

Rốt ráo, mỗi người thực hành Thiền phải quyết định bao nhiêu thời gian, nếu có, để cống hiến cho các nguyên nhân hoạt động.

Có thể sự ra đi có ý nghĩa nhiều nhất của người phương tây từ thiền truyền thống và điều cấp tiến và hiển nhiên nhất đối với những người bạn đạo châu á của chúng ta, là tánh cách cư sĩ ngự trị của thiền tây phương. Mãi từ thời đức phật, sự chuyển bánh xe pháp cho đến bây giờ đã là việc làm của tăng nhân. Ngày nay chỉ có một số lượng nhỏ của những trung tâm huấn luyện thiền nội trú đầy đủ lông cánh ở Tây bán cầu, còn lại là đại đa số những người tu tập Thiền tự ngồi một mình, đó là tất cả nhưng không thể ước lượng được con số ( 5000,10000,20000). chỉ một số ít ỏi những người phương tây tu tập thiền là đã thọ giới và cũng cho thấy rằng đa số ngay cả những tăng nhân hay giáo sĩ đó đã kết hôn và không ít những người trong số đó có con cái. Trong hàng các thầy người Tây phương dạy thiền có gia đình cũng tăng lên, như vậy là đi theo mô hình của giáo sĩ do thái giáo và các mục sư đạo tin lành. 

Điều đáng chú ý là ba trụ thiền chắc chắn là một trong hai quyển sách có ảnh hưởng nhiều nhất ở phương tây, giới thiệu những lời dạy của một trường phái thiền nhật bản được biết có khả năng tiếp cận cho hàng cư sĩ. Lão sư Bahcj Vân An cốc là một giáo sĩ nhưng dã độc chiếm lôi cuốn hầu hết những học viên cư sĩ. Thế thì khó mà ngạc nhiên khi ba trụ thiền đã tìm được âm hưởng đặc biệt trong nền văn hóa phương tây, nơi mà tính cách tu viện chỉ kêu gọi được một số rất ít. 

Nhưng ba trụ thiền ngẫu nhiên chỉ là một cống phẩm cho thiền cư sĩ và những khả hữu của nó. Ảnh hưởng thực sự của nó trên thiền phương tây là giới thiệu cho chúng ta những câu chuyện đầu tay về sự giác ngộ và cái lò ấp trứng nhiều tiềm năng nhất của nó, tức nhiếp tâm, sự biệt tu theo thiền truyền thống. Các khóa nhiếp tâm được lão sư miêu tả một cách gọi hồn đã cho hàng vạn độc giả vào năm 1960 các kinh nghiệm do người khác làm về sự huấn luyện nghiêm khắc có tính cách Sự thực, một nửa của câu chuyện giác ngộ từ nheieps tâm do những người phương tây viết, đã giới thiệu một kiểu mẫu mới của sự tu tập phật giáo. thiền tại gia đã được những con bộc phát có sự định kỳ của sự huấn luyện theo kiểu tự viện củng cố.

Chúng ta đã có thể giữ lại nghê fnghieepj và gia đình mà vẫn uống sâu nguồn giếng truyền thống huyền bí vĩ đại. Ấy là thiền trong kiện hàng mới, có đóng dấu nhãn hiệu Mỹ. chúng ta đã có thể có nó trọn vẹn hay dường như vậy. 

Nhiều thập kỷ cho đến nay, đi vào thực nghiệm mỹ với thiền cư sĩ, nhiều người trong chúng ta đã được điều tiết bởi những chướng ngại cố hữu trong sự căng thẳng mới này của phật giáo thực hành. Là một người dạy, mỗi tuần tôi đều nghe học viên của tôi đấu tranh tìm thời giờ để tọa thiền hằng ngày trong khi tung hứng trách nhiệm gia đình và những đòi hỏi của việc làm. Và họ phải làm điều này trong khi lặn vào cái gì có thể tranh cãi là xã hội bị thị trường lèo lái, thèm muốn có được và bất an nhất. Giống như mọi người khác, người học Thiền đương thời phải vượt qua cơn gió hú của thông tin và hình ảnh trong hình thức quảng cáo, những trò giải trí  phổ thông, và tin tức. Để duy trì tâm tập trung, ổn định trong những điều kiện như thế cũng đủ để đòi hỏi ngay cả với sự trợ gips của một cộng đồng liên kết chặt chẽ. Nhưng thiền tại gia trong nền văn hóa rõ ràng là phi phật giáo của chúng ta thường là một cuộc du hành đơn độc, ở đó gia đình và bạn bè có khuynh hướng không thông hiểu , nếu không chỉ trích những nỗ lực của mình. hơn nữa, ngay cả khi người phát nguyện có được một thầy dạy thiền thì cơ hội gặp nhau gần gũi cũng không có nhiều, như vậy sự tiếp xúc của họ, nếu có, cũng chỉ ở giới hạn qua điện thoại hay thư điện tử. Sự sắp đặt xa cách này là một sự ra đi cấp tiến từ sự sắp đặt của cộng đồng tự viên nơi mà sự tu tập Thiền đã được nuôi dưỡng qua hằng thế kỷ ở châu á. 

Nếu ra những dòng trách nhieemjj trôi nổi của thế gian mà người học Thiền hiện đại đấu tranh hằng ngày, nhịp bước cuồng loạn của đời sống, sự quay quắc của nó, nên chẳng lạ gì rất nhiều người bị lôi cuốn đến nhiếp tâm, cái giá phải trả thường là thời gian được nghỉ làm việc. Sự thực đối với nhiều người phương tây tu thiền, những cuộc ẩn tu có định kỳ trở thành nơi trú ẩn mà họ cảm thấy bắt buộc phải trở lại hết lần này đến lần khác để làm cho tinh thần tươi trẻ lại. Nó cũng chỉ là sự giải bày mà nhiều người từng có đối với sự huấn luyện thiền thực tế, cái mà nó phải đượ cphaan biệt với sự tu tập thiền bình thường. Sự tu tập thiền bình thường gồm mọi người ngồi trên căn bản hằng ngày, mà đa số người phương tây ngồi tại nhà. Mặt khác, huấn luyện thiền là sự tu tập thiền thực hiện trong những định kỳ dài hay ngắn hơn, tại một nơi có tiện nghi thích hợp dưới sự hướng dẫn của những người khác. Vì đa số những người tu tập thiền ở phương tây là gia trưởng, nhiếp tâm trở thành cái mắc nối duy nhất của họ với truyền thống tự viện nơi mà về mặt lịch sử thiền đã gắn liền. 

Nêu ra những khác nhau có ý nghĩa về mặt văn hóa giữa người châu á và người phương tây, một số độc giả có thể lấy làm lạ làm sao so sánh những khóa nhiếp tâm đương thời ở phương tây với những tuần nhiếp tâm đã được miêu tả trong ba trụ thiền. Về cơ cấu, những khóa nhiếp tâm ở thiền viện zen center giống rất nhiều với những tuần nhiếp tâm gồm ba yếu tố chính: tọa thiền, đề xướng và độc tham, ở trung tâm chúng tôi cũng giữ và thực hiện đúng những điều đó. Mỗi ngày có chừng mười tiếng đồng hồ ngồi chính thức do các học viên thâm niên định giờ và điều hành, xen kẽ với những thời kinh hành ngắn theo nhóm. đây là cấu tạo cơ bản của nhiếp tâm trong đó có đề xướng và độc tham, qua đó các kháo nhiếp tâm ra đời. 

Các khoán nhiếp tâm của chúng tôi vẫn duy trì theo phong cách tự viện như đã được miêu tả trong ba trụ thiền. Các khóa nhiếp tâm đã thu hút hầu như toàn là cư sĩ. Một tuần nhiếp tâm bảy ngày mẫu mực gồm, thêm vào đó là một tá hay khoảng đó là ban huấn luyện nội trú của thiền viện cũng là những nam hoặc nữ doanh nhân hay có nghề nghiệp chuyên môn, nghệ sĩ và những bà nội trợ mà những câu chuyện kiến tánh của họ đã được ghi lại trong ba trụ thiền, nhưng còn có những người chuyên bán lẻ, thầu khoán, nhà văn, nhân viên máy tính đinệ toán, nông dân thứ ký khoa học gia người làm vườn....Khonagr một nửa số đó đến từ khu vực rochester, phần còn lại đến từ các nơi khác ở hoa kỳ, canada, mễ tây cơ, châu âu, và các phần khác của thế giới. Khi đến, những người tham dự thấy mọi thứ đã được sắp xếp sẵn cho họ: một phòng ngủ một sự phân công việc làm lao động tay chân tám tiếng đồng hồ hằng ngày, một chỗ ngồi được chỉ định ở thiền đường. Như ở chùa phát tâm, tự viện được miêu tả trong ba trụ thiền, nơi philip kapleau được huấn luyện trong lễ khai mạc vào xẩm tối họ được nhắc nhở về hai điều quan trọng nhất: hoàn toàn im lặng và mắt giữ thấp trong tất cả thời gian ở mọi nơi trong khuôn viên tự viện. Hai yếu tố đơn độc này đi suốt cond dường dài hướng đến trợ giúp những người tham dự ổn định tâm và đạt những trạng thái thấm nhập sâu hơn. Cũng vậy, qui luật không cử động trong khi ngồi chính thức, để tiết chế sự uể oải hay gãi ngứa ảnh hưởng nhiều đến việc tăng thêm sức cho sự cam kết với nhất tâm tập trung vào hơi thở hay công án. 

Ở những khóa nhiếp tâm dài hạn hươn này, hướng dẫn chút ít là cần thiết, bởi vì mọi người được chấp nhận đã sẵn sàng theo dự một khóa nhiếp tâm hai hay bốn ngày tại thiền viện để chứng tỏ sự nghiêm túc và sức chịu đựng của họ. song những đòi của nhiếp tâm được miêu tả trong ba trụ thiền cũng có thể còn làm nản lòng ở đây. Năm chướng ngại cổ điển của phật giáo đối với tu tập tham dục, oán ghét, bất an, phiền não và nghi ngờ là những thách thức phi thời gian và phổ biến khiến nhiều người muốn chạy trốn một cách dễ dàng. Vì lý do này, tất cả những người tham dự được yêu cầu ký một hợp đồng thực hiện đầy đủ khóa nhiếp tâm. Chỉ hiếm hoi có người từ giã không hoàn tất lời cma kết nghiêm trọng này khăng khăng vượt qua những chướng ngại không thể tránh được trong tọa thiền kịch liệt và kiên trì. 

Độc tham được tặng cho ba lần một ngày trong nhiếp tâm. Như ở nhật, nó được cống hiến trên căn bản ai đến trước được phục vụ trước, và vì nhu cầu, không phải mọi người có thể mong đợi được vào tất cả một lần. 

Giống như tất cả các khái niệm, hình ảnh tự ngã tiêu cực của phương tây không có thực chất, và như thế không có thực tại cư ngụ. Nhưng nó vẫn ngấm ngầm phá hoại niềm tin của mình vào chân ngã, và cùng với những thiên kiến văn hóa khác tạo ra một bụi cây rậm rạp của các khái niệm về sự tu tập và chứng đạt thiền. Thấm nhập các lý tưởng về tự do và bình đẳng của người Mỹ, và cái thông điệp rằng chúng ta có thể trở thành bất cứ cái gì chúng ta muốn, chúng ta mong muốn thức ngộ mà nó là quyền khai sinh của chúng ta. Cho đến bây giờ mọi sự đều tốt. Nhưng khi chúng ta không thành công với thiền. Sự thất bại này tăng sức mạnh cho ảo tưởng về cái ta có tì vết chí tử. Ở tịa điểm này, một vài hành giả có thể nhường đường cho sự từ nhiệm, trong khi vớt vát tự ái của họ bằng cách chui vào Thiền vô thực: cái thế đứng để nói, trở thành giác ngộ là mâu thuẫn trong lời nói vì tất cả chúng ta vốn đã giác ngộ rồi. Lão sư Kapleuau đã cảnh cáo cái tránh né triết học này - một phủ nhận giá trị của kinh nghiệm ngộ- trong ba trụ thiền, nhưng thiền vô thực đang bắt đầu lan truyền ở phương tây. nó phải được vạch trần thực sự nó là gì: sự mất niềm tin nơi tiềm năng chứng ngộ của mình. 

Thiền vô thực và những phức tạp tâm trí khác liên hệ với thành công và thất bại cũng làm phiền những người tu tập châu á. Nhưng cảm giác về cái ta của người Mỹ thắt nút chặt hơn có khunh hướng kết tinh thêm những hậu quả cho chúng ta. Sự bất hòa với những khái niệm của phật giáo cổ điển như tái sinh và nghiệp, mà nó đặt sự giải thoát và luật nhân quả vòa một khuôn khổ rộng lớn và  phức tạp, có thể cũng tăng cường cho sự tự trách mình của những học ivieen người mỹ, đưa họ đến đồng hóa với cảm giác hẹp hòi đặc biệt về cái ta ( và thời gian và thấy những thất bại của họ nhất định là nhưu vậy. 

cho đến khi người học viên trực nhận rả rằng chẳng có con người cốt yếu nào cả hoặc tốt hoặc xấu ở bên trong, độc tham sẽ có khuynh hướng làm nổi rõ phản ảnh tâm trí này của sự tự phatsn xét mình. Trong tâm của người học, dù ý thức hay không người dạy ngồi trong phòng độc tham chờ sự phán xét, phản ảnh lại cho người học sự thật trần truồng về sự thiếu sót trong tu tập và đạt ngộ. Như vậy, hậu quả của khi đi đến độc tham và sử dụng nó như thế nào có thể là đơn độc có tính cách vấn đề nhất đối với học viên phương Tây, ít nhất cũng là lúc khởi đầu. Dù tự quan tâm mình là cái gì người ta cũng có thể làm về biểu hiện và sự chấp nhận hay không chấp nhận của người dạy sẽ có khuynh hướng ngẩng đầu lên trước khi, trong khi và sau khi độc tham. Do đó, độc tham là một đấu trường của sự lên men tâm lý học, giàu tiềm năng cho sự chuyển hóa cá nhân. 

Ở những trung tâm huấn luyện tinh thần trên thế giới, một vài yếu tố của thủ tục hàng ngày có thể cạnh tranh với các bữa ăn về tầm quan trọng. Tất cả những bữa ăn phục vụ ở thiền viện cả trong và ngoài nhiếp tâm, đều là đồ chay, giữ theo phong tục phật giáo cổ địa để tránh ự đồng lõa trong sát hại những sinh vật khác. Hai trong ba bữa ăn mỗi ngày được thực hiện một cách chính thức trong im lặng trừ những lúc tụng đọc trong bữa ăn theo truyền thống. Vì tình trạng đông đúc, chúng tôi quì gối trên sàn nhà bên những cái bàn thấp, được thực hiện rộng rãi ở Nhật, nhưng các kế hoạch cho một hệ thống ẩn cư ở một vùng đồng quê mới đang được tiến hành xây cất gần Rochester cung cấp một phòng ăn có bàn ghế. Bữa ăn được ăn với đĩa và bát, nỉa và muỗng bình thường hơn là theo nghi thức oryoki định chế của thiền nhật bản. Khi sáng lập thiền viện lão sư đã thừa nhận tầm quan trọng của sự thực thi trí phân biệt trong lựa chọn và theo các con đường lối châu á. Cùng một cách thức như thế, chúng tôi đã cố gắng trưng bày thư pháp châu á theo cách đơn sơ của mình và tìm những từ tương đương trong tiếng nah cho các từ ngữ và các bài tụng thiếng nhật. Sự cám dỗ bám chặt vào những cái ngoại lai là thông thường trong những phương thức tu tập tinh thần nhập khẩu từ phương đông. nhưng bám vào những vật trang trí của nước ngoài là hành động nguy hiểm đối với truyền thống thiền. 


Thay đổi để tốt hơn

 18.08.2026 Những đội kiếm được tiền từ cty này là đội MH. còn đôi kinh doanh thì không nhiều nhưng vẫn oke.  Còn đội mà lấy từ cty này kĩ n...