Sự gặp nhau của các nền văn mình này chỉ mới bắt đầu , nhưng chúng ta đã có thể nhận dạng được một vài sắc thái hiển hiện của thiền phương tây phân biệt với tổ tiên châu á của nó. Một trong những sắc thái hiển nhiên nhất là những hình thái của đời sống. tăng già phản ánh những nguyên tắc có tính cách bình đẳng rất cơ bản đối với những người bắc mỹ và châu âu. Ví dụ những cuộc họp hàng năm của Hiệp hội thiền sư mỹ là một cải cách của phương tây. Những người dạy thiền từ nhiều hệ phái khác nhau thường kỳ gặp nhau để trao đổi tin tức và kinh nghiệm thì không nghe nói đến ở Nhật. Bên trong các cá thể Tăng già cũng vậy, chúng ta thấy một thẩm quyền đại cương là hàng ngang từ thế hệ của các bậc thầy dạy Theiefn đầu tiên sáng lập các trung tâm của họ. đa số các thầy, một cách tự phụ, giữa đường dây vì các vấn đề tinh thần đòi hỏi thẩm quyền của kinh nghiệm thâm sâu và hy vọng nội kiến tâm linh. Nhưng biên giới giữa các quyết định về tâm linh và thế gian thì để mở cho giải thích ( ở một thiền viện lớn, bây giờ các viện trưởng được tuyển chọn những nhiệm kỳ bốn năm bằng cách thành viên bỏ phiếu).
Nhìn từ viễn cảnh lịch sử, thiền đang chịu một sự biến hình chưa từng có. Không giống phật giáo, thiền tông sinh trưởng từ miền đất của khổng giáo, và dù nó mang những hình thức phân biệt nơi mỗi quốc gia trong các quốc gia khác của phía đông châu á, nơi nó thiên di đến, một số mẫu chung giữa các coonngj dodonngf Thiền và xã hội rộng hươn là phong tục tập quán khổng giáo đã được hcaaps nhận.Như vậy những mối quan hệ của Tăng già đã được hình thành từ khái niệm lễ là một sự kết hợp những qui luật điều hành cách sống. Những qui luật này nhấn mạnh hiếu trung sự tôn trọng tuổi tác và huyết thống, cấp bậc phong thưởng, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị. Khó mà tìm thấy một thế giới quan nào trái ngược với khí chất của người Mỹ nhiều hơn. Chắc chắn, nhiều giá trị của Khổng giáo, nếu được thâu hóa, có thể phục vụ nối kết cái xã hội bị phân chia, xáo trộn một cách tuyệt vọng của chúng ta lại với nhau. Nhưng văn minh phương tây bị cắt đứt vì khác y phục và khi sự thực hành trên đất nước này trưởng thành, các trung tâm phật pháp từ bờ biển này sang bờ biển kia đã bắt đầu buông xuống một ít chủ nghĩa hình thức, sự kính sợ không nghi vấn về thẩm quyền và những khía cạnh khổng giáo khác của Thiền Đông Á mà chúng ta đã mặc thử chơi trong những năm đầu tiên, nhưng nó đã tỏ ra không vừa từ đó.
Một thay đổi khác có ý nghĩa đối với Thiền là sự thừa nhận của chúng ta về sự bình đẳng của nữ giới như là những người thực hành thiền hiện đang trên đường tiến tới. Vai trò của nữ giới trong phật giáo châu á phần lớn không thấy được không phải là bí mật. Các hệ phái chính thức của các thầy, hay tổ hệ theo định nghĩa là độc quyền chỉ gồm nam giới. Nhưng phụ nữ đã đi đến giác ngộ từ trước đức phật, và các học giả đã biết rằng một số nữ nhân đã được xếp vào hàng chân sư. Vậy thì tại sao không một người nào trong những người đó được bao gồm trong chính hệ. Tính cách độc quyền này phản ánh địa vị truyền thống trong xã hội châu á như là một toàn thể, nhwung nó cũng có thể chuyển vận một thông điệp sai lầm rằng thông thường nữ giới không tỷ lệ với nam giới trong khả năng tinh thần. Rồi phụ hệ là một nhắc nhở về những thiên kiến văn hóa có thể ăn sâu như thế nào. Trong trường hợp này, sự ngầm cắt đi giáo lý nòng cốt của phật giáo rằng tất cả chúng sinh, không ngoại lệ đều được phú cho chân tánh giác ngộ.
Sự chấp nhận lâu đời của phật giáo về sự không bình đẳng của tính phái đang cải cách ở phương tây. Trong cuộc họp hàng năm lần thứ mười ba của hiệp hội thiền sư mỹ, đa số những người tham dự là nữ giới, nhiều người trong số đó là giáo sĩ. Khi nữ giới phương tây trở thành quen trong tu tập thiền, họ lặng lẽ cải tiến thái độ và cách hành xử, đem lại sự quân bình đối với thiên kiến dương của thiền tu viện truyeenff thống. Có lẽ là kết quả, các trung tâm Thiền ở mỹ một cách có ý thức đang làm cái việc ném cho nhẹ bớt các hình thái phủ nhận thân xác, cạnh tranh, bị mục đích lèo lái quá độ của sự tu tập thiền truyền thống và đang cho phép các phương diện nuôi dưỡng, hợp tác, và tiến hành có hướng dẫn hơn của chân tánh tự biểu hiện. Người thực sự hiểu rõ , nam hay nữ, sẽ hiện thực tất cả các hình thái của bản tánh họ. Và tất cả chúng ta, trong khi còn thiếu tâm thái cao vời, ít nhất cũng có thể bắt đầu đảo ngược các thiên kiến về tính phái bằng cách thay dodoirngoon ngữ và các hình thức khác cảu di sản chúng ta đóng góp cho các thiên kiến đó. Vì mục đích đó, Thiền viện Rochester Zen Center giống như một số các nơi khác, đã thay phụ hệ bằng tổ hệ, và thêm vào đó một lời tỏ lòng tôn kính.
Và các nữ nhân vô danh, các bậc giác hộ hằng thế kỉ
cam kết với pháp nuôi dưỡng
duy trì sự tu tập của chúng con
chắc hcawns, sự thích nghi sâu xa nhất đòi hỏi thiền ở phương tây xoay quoanh ý niệm về ngã của phương tây như là một cá thể tự trị. Giả định này rất cơ bản đối với cách suy nghĩ của chúng ta như là để quyết định thế giới quan trọn vẹn của chúng ta. Nhưng về mặt phẩm chất, nó khác với khái niệm về ngã theo truyền thống châu á, ở đó một người được định phận trong mạn lưới của các quan hệ xã hội, và tùy thuộc vào một mạn nhện liên lạc bao gồm những người khác cũng như nơi chốn, thời gian và lịch sử. Định nghĩa này âm vang mạnh mẽ với giáo lý phật giáo, ở đó ngã tương tùy ddeens nỗi nó không có thực tại cốt yếu. Phật giáo không phủ nhận ngã một cách tuyệt đối, nó chỉ phủ nhận ngã như là một thực thể tuyệt đối, không thya đổi, hiện hữu một cách độc lập.
Một khi chúng ta bị các điều kiện qui định mà thấy chúng ta như là hiện hữu một cách độc lập trong các vai trò và liên hệ xã hội, chúng ta trở nên đặc biệt hoài nghi đối với một chủ thể của những chứng bệnh tự tham chiếu chính mình, vì chứng bệnh này khoa tâm lý trị liệu tây phương đã phát triển như là một phương thuốc. Tôi không tạo ra một phương pháp thực hành chung từ khoa tâm lý trị liệu và giới thiệu cho học viên của tôi, vì trong giới hạn ngắn nó có thể tác động kỳ dị với tọa thiền. Trong chiều hướng của khoa tâm lý trị liệu, một cahcs kiểu mẫu, người ta sẽ thấy chính mình bị những ý nghĩ về mình chiếm cứ nhiều hơn, và mối quan tâm về ngã này là phản đề của tọa thiền. Mặt khác, đối với những người cảm thấy cần nó và sẵn sàng vì nó, khoa tâm lý trị liệu có ý nghĩa nhiều như là cuộc giải phẫu cho một lực sĩ bị thương ở đầu gối. Với sự trợ giúp của khoa tâm lý trị liệu trong vài tháng, nhiều học viên của tôi đã thấy có sự cải thiện không chỉ trong những quan hệ và việc làm của họ mà còn trong chính chất lượng tọa thiền của họ. Sự ổn định và trong sáng của tình cảm trở nên lớn hơn, dường như, có thể làm vơi bớt phần nào sự xao xuyến và mối quan tâm về mình rất thường ngăn chặn người ta đạt đến những cảnh giới thấm nhập thiền định sâu hơn.
Không nơi nào ý niệm về một cái ta tách rời được sắp xếp một cách an toàn hơn, được cả quyết một cách mạnh mẽ hơn ở Hoa Kỳ. Theo một viễn ảnh của phật giáo, nó là một khuyết tật của quốc gia chúng ta. Nhưng nó là bàn tay mà chúng ta, những người Mỹ đã được xử lý, hơn nữa, cảm giác xa lạ và sự tự ý thức về mình do nó gây nên, thúc giục nhiều người trong chúng ta thực hành. Dù thích hay không, mỗi hcungs ta hiện hữu trong chúng ta thực hành. Dù thích hay không, mỗi chúng ta hiện hữu trong nhân quả hỗ tương với môi trường chung quanh - một sự kiện mà chihs nó là chứng nhân cho bản tánh thấm nhập tất cả của cái ta.
Không phải chuyện trao đổi trong cảm giác có tính cách cá nhân của chúng ta về cái ta để lấy một cảm giác về cái ta có tính cahcs tình thế hơn, ngay cả khi chúng ta có thể sẽ là giải pháp. Mọi thế giưới quan đều đem lại biểu hiện thiên lệch về sự hiện hữu của con người, và bằng cách làm cho câm nín hay đè ép các dạng thái của kinh nghiệm, mỗi cái gây ra đau khổ bằng những điều khaonr khác nhau. Tham sân và si là những phiền não của con người và các nền văn hóa á châu, trong đó thiền được nuôi dưỡng cũng có những lối đi riêng phân chia lầm lẫn thực tại thành những phạm trù tạo nên đau khổ. Bất cứ trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải làm việc với các hình thái tâm trí tức các hành của chúng ta như chúng hiện hữu. Tọa thiền có hiệu quả một cách phổ biến đánh tan những cấu trúc hư huyễn này, trong bất cứ hạn từ nào, con người cũng phải thích nghi theo để nghĩ bàn về chúng.
Đối với người phương tây, khoa tâm lý trị liệu, như là một phương pháp chữa trị sinh trưởng từ bản xứ, vẫn hy vọng làm tăng thêm quá trình thức tỉnh. Không nên lầm lẫn lãnh vực của tâm lý với thế giới của yếu tánh, nhưng cả hai không tách rời nhau. Vì những người phương tây học thiền, ngay cả những người không có học về tâm lý học, do bản tánh, cũng có khuynh hướng tâm lý học hơn các bạn đồng học châu á của họ. Giáo lý và thực hành thiền đương nheien sẽ phản ánh sự nhuốm màu đó, nếu không vậy là chúng ta thấ bại. Số người phương tây dạy thiền sa đà ngày càng nhiều với các đồng nghiệp của kim cương thừa và minh sát tuệ, đang tự thích nghi với các viễn ảnh, nếu không phải là nhưng xphuowng pháp, của tâm lý học phương tây. Những ai làm ngơ các trước nhu cầu tâm lý học của học viên của họ hoặc chính bản thân họ thường trả cái giá bằng sự nguyên vẹn của cá nhân họ hay của học viên và hậu quả sẽ là phúc lợi và sự hòa hợp của coonngj đồng, tăng già của họ. Cho đến bây giờ điều ấy đã chứng tỏ tai hại đối với phật giáo nhiều hơn xa sự nguy hiểm trong tâm lý học hóa nó của chúng ta.
Thực tế trong nền văn hóa thế tục cao độ cảu chúng ta, có thể nó có một bờ mép phủ lên tôn giáo chính thức, ở đó nó dễ bị những tín ngưỡng khác đồng hóa. Tâm lý học và phật giáo tán tỉnh nhau từ lúc hai bên gặp nhau ở đây. Và bây giờ đã có dấu hiệu thiền bắt đầu thích nghi với truyền thống Do thái ki tô giáo cũng như phật giáo đã thích nghi với đạo giáo và khổng giáo ở trung hoa. Ngày càng nhiều sách ra đời đưa ra trước những đối thoại của phật giáo với ki tô giáo và do thái giáo. Có ý nghĩa nhất trong tất cả là những khía cạnh lai giống trong tu tập thiền thực sự đang cho thấy những yếu tố hợp tác của do thái giáo và ki tô giáo.
Làm thê snoaf phật giáo, một tôn giáo vô thần, tìm được sự thích gnhi với do thái giáo hay ki tô giáo. Hình như là ngược lại thì dễ hơn. Đức phật, trong khi phủ nhận mình là bất cứ một loại vô thần nào, ngài đã từ chối phủ định hay khẳng định sự hiện hữu của thượng đê.s Thiền tông, được biết vì khởi đầu bằng giáo lý bên ngoài ngôn ngữ văn tự, không dựa vòa kinh điển chỉ thẳng bản tâm có trước khi tất cả tôn giáo. Như vậy, những lời dạy của các thiền sư luôn luôn âm vang mạnh mẽ với những giáo lý của các nhà tu huyền bí ki tô giáo và do thái giáo cũng như của các sufi
Tuy nhiên khi đến chỗ hỗn hợp các nghi thức thực tế và những phương thức tu tập sùng mộ khác của Do thái giáo và ki tô giáo với những cái ấy của Thiền, tôi thấy có vấn đề. Chấp nhận, cách của người Mỹ, như Lão Sư Philip Kapleau nói, là tự do mượn từ tất cả mọi truyền thống, và chúng ta quen với pha trộn và cải tiến trong tất cả mọi đề tài văn hóa. Nhưng mọi truyền thống tâm linh đều có đặc tính riêng của nó, tinh luyện qua hàng thế kỷ trong liên hệ ứng xử với những người thực hành nó. Sự công khai đề nghị của Đạt Lai Lạt ma với người phương Tây rằng tốt hơn nên giữ lại với truyền thống tôn giáo của họ hơn là chấp nhận Phật Giáo là một điều mà tôi thấy không nên chấp nhận một cách quá nghiêm trọng vì nhiều người trong chúng ta, một cách đơn giản là không có sự lựa chọn nào cả, cái duyên của chúng ta với phật giáo rất thâm sâu.
Song mọi con đường tâm linh vĩ đại đều có tính nguyên vẹn của nó, khi bị đặt vào tình thế nguy ngập nó càng đắp vá với các yếu tố của các truyền thống khác. Tôi nghĩ đến những lời bình luận của một học giả phật giáo được yêu mến giải thích về sự biến mất của phật giáo ở Ấn Độ nó không chết mà chỉ bị ngộp thở trong sự ôm ấp yêu thương của ấn độ giáo.
Còn một sự phát triển lớn nữa của Thiền ở phương Tây là sự quan tâm trưởng giả với phật giáo dấn thân một phong trào hăng hái áp dụng bi tâm của phật giáo tức trí tuệ trong hành động vào các vấn đề xã hội, chính trị và môi trường. Theo truyền thống, phật giáo đã tập trung vào sự tu tập tinh thần cá nhân như là một phương thức tiến hành thông minh nhất để làm vơi đi sự đau khổ của tất cả chúng sinh. Những người phật giáo dấn thân đồng ý rằng tu tập thiền định là bất khả phân ly, nhưng thừa nhận rằng chúng ta bị quyết định bởi các hệ thống xã hội và chính trị mà chúng ta can hệ trong đó, tìm kiếm phương thuốc chữa trị các chứng bệnh của những hệ thống đó bằng cách chủ động làm việc cho hòa bình, công lý, giáo dục và bảo trì sinh thái. Làm việc như thế là đưa đến nguyên nhân giải thoát, rồi ngay cả khi nó đi theo truyền thống lâu dài của tôn giáo tây phương về phục vụ xã hội.
Phương thức tiến hành tu tập rộng rãi hơn này dường như không có gì mới đối với phật giáo như là một toàn thể, nhưng nó đánh dấu sự ra đi từ điểm hội tụ truyền thống của thiền tông. Chấp nhận, ngay cả trong thiền, mười bức tranh chăn trâu vẽ chân dung giai đoạn cao nhất của ngộ như là vào chợ tiện tay giúp đỡ người có thể giải thích một cách dễ dàng bằng hạn từ phục vụ công chúng. Nhưng dù vậy đây có thể là lý tưởng, sự tu tập chủ yếu trong thiền đông á đã luôn luôn là thienf định im lặng, thường được thực hành ở những nơi hẻo lánh. xã hội hay cộng đồng có nghĩa là tự viện, và những hoạt odondgj từ bi trong các bức tường của nó đem lại lợi ích cho những người khác theo những con đường chủ yếu không thể nói được.
Sự hứa hẹn của đời sống chiêm nghiệm đã tạo ra bản sắc của thiền đông á là sự thiền định vô ngã, hươn là một sự chạy trốn, phương pháp chữa trị chủ yếu cái gọi là thế gian thì không gì khác hơn là Tâm. Song, nhu cầu hoạt động xã hội và chính trị chưa bao giờ bức ép nhiều hơn. Trước kia chưa bao giờ các hệ thống và tổ chức giữ quyền lực toàn cầu như vậy, như thế triển hoãn sự giải trừ tham, san và si của con người là đe dọa môi trường sống.
Rốt ráo, mỗi người thực hành Thiền phải quyết định bao nhiêu thời gian, nếu có, để cống hiến cho các nguyên nhân hoạt động.
Có thể sự ra đi có ý nghĩa nhiều nhất của người phương tây từ thiền truyền thống và điều cấp tiến và hiển nhiên nhất đối với những người bạn đạo châu á của chúng ta, là tánh cách cư sĩ ngự trị của thiền tây phương. Mãi từ thời đức phật, sự chuyển bánh xe pháp cho đến bây giờ đã là việc làm của tăng nhân. Ngày nay chỉ có một số lượng nhỏ của những trung tâm huấn luyện thiền nội trú đầy đủ lông cánh ở Tây bán cầu, còn lại là đại đa số những người tu tập Thiền tự ngồi một mình, đó là tất cả nhưng không thể ước lượng được con số ( 5000,10000,20000). chỉ một số ít ỏi những người phương tây tu tập thiền là đã thọ giới và cũng cho thấy rằng đa số ngay cả những tăng nhân hay giáo sĩ đó đã kết hôn và không ít những người trong số đó có con cái. Trong hàng các thầy người Tây phương dạy thiền có gia đình cũng tăng lên, như vậy là đi theo mô hình của giáo sĩ do thái giáo và các mục sư đạo tin lành.
Điều đáng chú ý là ba trụ thiền chắc chắn là một trong hai quyển sách có ảnh hưởng nhiều nhất ở phương tây, giới thiệu những lời dạy của một trường phái thiền nhật bản được biết có khả năng tiếp cận cho hàng cư sĩ. Lão sư Bahcj Vân An cốc là một giáo sĩ nhưng dã độc chiếm lôi cuốn hầu hết những học viên cư sĩ. Thế thì khó mà ngạc nhiên khi ba trụ thiền đã tìm được âm hưởng đặc biệt trong nền văn hóa phương tây, nơi mà tính cách tu viện chỉ kêu gọi được một số rất ít.
Nhưng ba trụ thiền ngẫu nhiên chỉ là một cống phẩm cho thiền cư sĩ và những khả hữu của nó. Ảnh hưởng thực sự của nó trên thiền phương tây là giới thiệu cho chúng ta những câu chuyện đầu tay về sự giác ngộ và cái lò ấp trứng nhiều tiềm năng nhất của nó, tức nhiếp tâm, sự biệt tu theo thiền truyền thống. Các khóa nhiếp tâm được lão sư miêu tả một cách gọi hồn đã cho hàng vạn độc giả vào năm 1960 các kinh nghiệm do người khác làm về sự huấn luyện nghiêm khắc có tính cách Sự thực, một nửa của câu chuyện giác ngộ từ nheieps tâm do những người phương tây viết, đã giới thiệu một kiểu mẫu mới của sự tu tập phật giáo. thiền tại gia đã được những con bộc phát có sự định kỳ của sự huấn luyện theo kiểu tự viện củng cố.
Chúng ta đã có thể giữ lại nghê fnghieepj và gia đình mà vẫn uống sâu nguồn giếng truyền thống huyền bí vĩ đại. Ấy là thiền trong kiện hàng mới, có đóng dấu nhãn hiệu Mỹ. chúng ta đã có thể có nó trọn vẹn hay dường như vậy.
Nhiều thập kỷ cho đến nay, đi vào thực nghiệm mỹ với thiền cư sĩ, nhiều người trong chúng ta đã được điều tiết bởi những chướng ngại cố hữu trong sự căng thẳng mới này của phật giáo thực hành. Là một người dạy, mỗi tuần tôi đều nghe học viên của tôi đấu tranh tìm thời giờ để tọa thiền hằng ngày trong khi tung hứng trách nhiệm gia đình và những đòi hỏi của việc làm. Và họ phải làm điều này trong khi lặn vào cái gì có thể tranh cãi là xã hội bị thị trường lèo lái, thèm muốn có được và bất an nhất. Giống như mọi người khác, người học Thiền đương thời phải vượt qua cơn gió hú của thông tin và hình ảnh trong hình thức quảng cáo, những trò giải trí phổ thông, và tin tức. Để duy trì tâm tập trung, ổn định trong những điều kiện như thế cũng đủ để đòi hỏi ngay cả với sự trợ gips của một cộng đồng liên kết chặt chẽ. Nhưng thiền tại gia trong nền văn hóa rõ ràng là phi phật giáo của chúng ta thường là một cuộc du hành đơn độc, ở đó gia đình và bạn bè có khuynh hướng không thông hiểu , nếu không chỉ trích những nỗ lực của mình. hơn nữa, ngay cả khi người phát nguyện có được một thầy dạy thiền thì cơ hội gặp nhau gần gũi cũng không có nhiều, như vậy sự tiếp xúc của họ, nếu có, cũng chỉ ở giới hạn qua điện thoại hay thư điện tử. Sự sắp đặt xa cách này là một sự ra đi cấp tiến từ sự sắp đặt của cộng đồng tự viên nơi mà sự tu tập Thiền đã được nuôi dưỡng qua hằng thế kỷ ở châu á.
Nếu ra những dòng trách nhieemjj trôi nổi của thế gian mà người học Thiền hiện đại đấu tranh hằng ngày, nhịp bước cuồng loạn của đời sống, sự quay quắc của nó, nên chẳng lạ gì rất nhiều người bị lôi cuốn đến nhiếp tâm, cái giá phải trả thường là thời gian được nghỉ làm việc. Sự thực đối với nhiều người phương tây tu thiền, những cuộc ẩn tu có định kỳ trở thành nơi trú ẩn mà họ cảm thấy bắt buộc phải trở lại hết lần này đến lần khác để làm cho tinh thần tươi trẻ lại. Nó cũng chỉ là sự giải bày mà nhiều người từng có đối với sự huấn luyện thiền thực tế, cái mà nó phải đượ cphaan biệt với sự tu tập thiền bình thường. Sự tu tập thiền bình thường gồm mọi người ngồi trên căn bản hằng ngày, mà đa số người phương tây ngồi tại nhà. Mặt khác, huấn luyện thiền là sự tu tập thiền thực hiện trong những định kỳ dài hay ngắn hơn, tại một nơi có tiện nghi thích hợp dưới sự hướng dẫn của những người khác. Vì đa số những người tu tập thiền ở phương tây là gia trưởng, nhiếp tâm trở thành cái mắc nối duy nhất của họ với truyền thống tự viện nơi mà về mặt lịch sử thiền đã gắn liền.
Nêu ra những khác nhau có ý nghĩa về mặt văn hóa giữa người châu á và người phương tây, một số độc giả có thể lấy làm lạ làm sao so sánh những khóa nhiếp tâm đương thời ở phương tây với những tuần nhiếp tâm đã được miêu tả trong ba trụ thiền. Về cơ cấu, những khóa nhiếp tâm ở thiền viện zen center giống rất nhiều với những tuần nhiếp tâm gồm ba yếu tố chính: tọa thiền, đề xướng và độc tham, ở trung tâm chúng tôi cũng giữ và thực hiện đúng những điều đó. Mỗi ngày có chừng mười tiếng đồng hồ ngồi chính thức do các học viên thâm niên định giờ và điều hành, xen kẽ với những thời kinh hành ngắn theo nhóm. đây là cấu tạo cơ bản của nhiếp tâm trong đó có đề xướng và độc tham, qua đó các kháo nhiếp tâm ra đời.
Các khoán nhiếp tâm của chúng tôi vẫn duy trì theo phong cách tự viện như đã được miêu tả trong ba trụ thiền. Các khóa nhiếp tâm đã thu hút hầu như toàn là cư sĩ. Một tuần nhiếp tâm bảy ngày mẫu mực gồm, thêm vào đó là một tá hay khoảng đó là ban huấn luyện nội trú của thiền viện cũng là những nam hoặc nữ doanh nhân hay có nghề nghiệp chuyên môn, nghệ sĩ và những bà nội trợ mà những câu chuyện kiến tánh của họ đã được ghi lại trong ba trụ thiền, nhưng còn có những người chuyên bán lẻ, thầu khoán, nhà văn, nhân viên máy tính đinệ toán, nông dân thứ ký khoa học gia người làm vườn....Khonagr một nửa số đó đến từ khu vực rochester, phần còn lại đến từ các nơi khác ở hoa kỳ, canada, mễ tây cơ, châu âu, và các phần khác của thế giới. Khi đến, những người tham dự thấy mọi thứ đã được sắp xếp sẵn cho họ: một phòng ngủ một sự phân công việc làm lao động tay chân tám tiếng đồng hồ hằng ngày, một chỗ ngồi được chỉ định ở thiền đường. Như ở chùa phát tâm, tự viện được miêu tả trong ba trụ thiền, nơi philip kapleau được huấn luyện trong lễ khai mạc vào xẩm tối họ được nhắc nhở về hai điều quan trọng nhất: hoàn toàn im lặng và mắt giữ thấp trong tất cả thời gian ở mọi nơi trong khuôn viên tự viện. Hai yếu tố đơn độc này đi suốt cond dường dài hướng đến trợ giúp những người tham dự ổn định tâm và đạt những trạng thái thấm nhập sâu hơn. Cũng vậy, qui luật không cử động trong khi ngồi chính thức, để tiết chế sự uể oải hay gãi ngứa ảnh hưởng nhiều đến việc tăng thêm sức cho sự cam kết với nhất tâm tập trung vào hơi thở hay công án.
Ở những khóa nhiếp tâm dài hạn hươn này, hướng dẫn chút ít là cần thiết, bởi vì mọi người được chấp nhận đã sẵn sàng theo dự một khóa nhiếp tâm hai hay bốn ngày tại thiền viện để chứng tỏ sự nghiêm túc và sức chịu đựng của họ. song những đòi của nhiếp tâm được miêu tả trong ba trụ thiền cũng có thể còn làm nản lòng ở đây. Năm chướng ngại cổ điển của phật giáo đối với tu tập tham dục, oán ghét, bất an, phiền não và nghi ngờ là những thách thức phi thời gian và phổ biến khiến nhiều người muốn chạy trốn một cách dễ dàng. Vì lý do này, tất cả những người tham dự được yêu cầu ký một hợp đồng thực hiện đầy đủ khóa nhiếp tâm. Chỉ hiếm hoi có người từ giã không hoàn tất lời cma kết nghiêm trọng này khăng khăng vượt qua những chướng ngại không thể tránh được trong tọa thiền kịch liệt và kiên trì.
Độc tham được tặng cho ba lần một ngày trong nhiếp tâm. Như ở nhật, nó được cống hiến trên căn bản ai đến trước được phục vụ trước, và vì nhu cầu, không phải mọi người có thể mong đợi được vào tất cả một lần.
Giống như tất cả các khái niệm, hình ảnh tự ngã tiêu cực của phương tây không có thực chất, và như thế không có thực tại cư ngụ. Nhưng nó vẫn ngấm ngầm phá hoại niềm tin của mình vào chân ngã, và cùng với những thiên kiến văn hóa khác tạo ra một bụi cây rậm rạp của các khái niệm về sự tu tập và chứng đạt thiền. Thấm nhập các lý tưởng về tự do và bình đẳng của người Mỹ, và cái thông điệp rằng chúng ta có thể trở thành bất cứ cái gì chúng ta muốn, chúng ta mong muốn thức ngộ mà nó là quyền khai sinh của chúng ta. Cho đến bây giờ mọi sự đều tốt. Nhưng khi chúng ta không thành công với thiền. Sự thất bại này tăng sức mạnh cho ảo tưởng về cái ta có tì vết chí tử. Ở tịa điểm này, một vài hành giả có thể nhường đường cho sự từ nhiệm, trong khi vớt vát tự ái của họ bằng cách chui vào Thiền vô thực: cái thế đứng để nói, trở thành giác ngộ là mâu thuẫn trong lời nói vì tất cả chúng ta vốn đã giác ngộ rồi. Lão sư Kapleuau đã cảnh cáo cái tránh né triết học này - một phủ nhận giá trị của kinh nghiệm ngộ- trong ba trụ thiền, nhưng thiền vô thực đang bắt đầu lan truyền ở phương tây. nó phải được vạch trần thực sự nó là gì: sự mất niềm tin nơi tiềm năng chứng ngộ của mình.
Thiền vô thực và những phức tạp tâm trí khác liên hệ với thành công và thất bại cũng làm phiền những người tu tập châu á. Nhưng cảm giác về cái ta của người Mỹ thắt nút chặt hơn có khunh hướng kết tinh thêm những hậu quả cho chúng ta. Sự bất hòa với những khái niệm của phật giáo cổ điển như tái sinh và nghiệp, mà nó đặt sự giải thoát và luật nhân quả vòa một khuôn khổ rộng lớn và phức tạp, có thể cũng tăng cường cho sự tự trách mình của những học ivieen người mỹ, đưa họ đến đồng hóa với cảm giác hẹp hòi đặc biệt về cái ta ( và thời gian và thấy những thất bại của họ nhất định là nhưu vậy.
cho đến khi người học viên trực nhận rả rằng chẳng có con người cốt yếu nào cả hoặc tốt hoặc xấu ở bên trong, độc tham sẽ có khuynh hướng làm nổi rõ phản ảnh tâm trí này của sự tự phatsn xét mình. Trong tâm của người học, dù ý thức hay không người dạy ngồi trong phòng độc tham chờ sự phán xét, phản ảnh lại cho người học sự thật trần truồng về sự thiếu sót trong tu tập và đạt ngộ. Như vậy, hậu quả của khi đi đến độc tham và sử dụng nó như thế nào có thể là đơn độc có tính cách vấn đề nhất đối với học viên phương Tây, ít nhất cũng là lúc khởi đầu. Dù tự quan tâm mình là cái gì người ta cũng có thể làm về biểu hiện và sự chấp nhận hay không chấp nhận của người dạy sẽ có khuynh hướng ngẩng đầu lên trước khi, trong khi và sau khi độc tham. Do đó, độc tham là một đấu trường của sự lên men tâm lý học, giàu tiềm năng cho sự chuyển hóa cá nhân.
Ở những trung tâm huấn luyện tinh thần trên thế giới, một vài yếu tố của thủ tục hàng ngày có thể cạnh tranh với các bữa ăn về tầm quan trọng. Tất cả những bữa ăn phục vụ ở thiền viện cả trong và ngoài nhiếp tâm, đều là đồ chay, giữ theo phong tục phật giáo cổ địa để tránh ự đồng lõa trong sát hại những sinh vật khác. Hai trong ba bữa ăn mỗi ngày được thực hiện một cách chính thức trong im lặng trừ những lúc tụng đọc trong bữa ăn theo truyền thống. Vì tình trạng đông đúc, chúng tôi quì gối trên sàn nhà bên những cái bàn thấp, được thực hiện rộng rãi ở Nhật, nhưng các kế hoạch cho một hệ thống ẩn cư ở một vùng đồng quê mới đang được tiến hành xây cất gần Rochester cung cấp một phòng ăn có bàn ghế. Bữa ăn được ăn với đĩa và bát, nỉa và muỗng bình thường hơn là theo nghi thức oryoki định chế của thiền nhật bản. Khi sáng lập thiền viện lão sư đã thừa nhận tầm quan trọng của sự thực thi trí phân biệt trong lựa chọn và theo các con đường lối châu á. Cùng một cách thức như thế, chúng tôi đã cố gắng trưng bày thư pháp châu á theo cách đơn sơ của mình và tìm những từ tương đương trong tiếng nah cho các từ ngữ và các bài tụng thiếng nhật. Sự cám dỗ bám chặt vào những cái ngoại lai là thông thường trong những phương thức tu tập tinh thần nhập khẩu từ phương đông. nhưng bám vào những vật trang trí của nước ngoài là hành động nguy hiểm đối với truyền thống thiền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét