Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022

Đạo bụt nguyên chất

 Kinh hang động ái dục

Đại ý: 

kinh hang động ái dục tiếp nối chủ đề mà kinh thứ nhất đưa ra. Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bị nhốt vào hang động ngũ dục, con người không tìm ra được con đường chánh đạo thênh thang. Ham muốn là hang động giam hãm con người và cũng là những sợi giây trói buộc làm cho con người mất hết tự do. Nguồn gốc của tham dục là si mê chỉ có quán chiếu mới buông bỏ được. Ham muốn là gốc của luân hồi sinh tử. Có ba hình ảnh rất sống động trong kinh này: đó là hình ảnh của một cơn lũ lụt, tương trưng cho tham dục, kéo ta đi. hình ảnh của một con cá thiếu nước, tượng trưng cho khổ đau và hệ lụy và hình ảnh của một  mũi tên cắm vào thân thể, tượng trưng cho tham dục. 

Một trong những phương pháp thực tập là tránh nhìn va fnghe những gì có thể tưới tẩm hạt giống tham dục trong ta. Phương pháp khác là quán chiếu cái tới và cái đi của các pháp. Phương pháp thứ ba là thực tập con đường trung đạo, đừng bị kẹt vào một trong hai cự cđoan: hoặc kham khổ quá, hoặc hưởng thụ nhiều. Trong bài kệ thứ tám, có một chữ ghép sai. Đó là chữ tiêm có nghĩa là mũi nhọn, chép nhầm thành chữ vị làm cho câu kinh amats nghĩa

1. Mình con mang theo tà niệm mà cứ lo chỉ trích ngouwi khác ( về những sai lầm thiếu sót của họ). Mình chỉ ham đề cao cái thấy của mình về sự thật. Khi gặp được một vị chân tu đích thực thì mình thấy rằng vị ấy chẳng quan tâm gì tới chuyện thị phi và hơn thua cả. 

2 Làm sao sử dụng được công phu hành trì của mình để buông bỏ tham dục trong cuộc đời. Làm sao đạt tới được cái đức hạnh cao quý và vượt thoát mọi nhu yếu tranh cãi. Làm sao chế ngự được tham dục. người ta sẽ đặt cho mình những câu hỏi như thế. 

3. Giả dụ có người, không ai hỏi mà tự khoe là mình giữ giới và thực tập giỏi, người ta sẽ nghĩ rằng người này không nói thật và không đi đúng vào con đường của đạo pháp. Vì vậy những ai muốn học hạnh sa môn phải biết lo tự tịnh hóa mình trước

4. Đã thực sự dừng lại rồi, và để không còn bị kẹt vào cuộc đời thế tục thì phải thường tự nhắc nhở là mình phải nắm giữ giới luật cho vững chắc. Phải có đức tin nơi đạo pháp không nên chỉ ba hoa lo dạy đời. 

5. Giáo pháp nói lên không có gì bí hiểm mà cũng không bị hư nát. Khi giảng dạy đừng đưa cái ngã của mình lên, không nên vì vui mà dạy, vì giận mà không dạy. Phải thấy được trong sự hành trì của mình không có gì sai lạc và rơi rụng. Nếu mình không bị kẹt vào cái ý riêng của mình thì còn gì để mừng hoặc để giận. 

6. Những cái gì ta đã ngỡ là của ta, cần được buông bỏ. Những giáo pháp minh sát cần phải nắm lấy để hành trì. Nếu tha thiết muốn có lợi ích chân thực thì mình sẽ đạt được tuệ giác về không, bởi vì nhìn vòa các pháp và tháy được tướng không của chúng cho nên mình biết tất cả vốn là không. 

7. Không nên vướng vào bất cứ một xứ nào trong dong đó có vô sở hữu xứ. Hành trì mà không có ý định sinh về một trong ba cõi. Nếu tất cả những gì vô minh và điên đảo đã được đoạn trừ thì làm sao cái hành của mình lại còn mang tính cách xứ sở. 

8 Ý niệm về có được phá vỡ tan tành, ngôn ngữ để sử dụng giải bày cũng không bòn bị vướng mắc, Đã không bị vướng mắc, đã có khả năng buông bỏ thì cái hành của mình sẽ có công năng đưa mình tới cái tuyệt đối không kỳ thị. 


1. Mình còn mờ mịt mà cứ nói rằng kẻ kia chẳng bằng mình. Vướng víu si mê, cứ để tháng ngày trôi qua, bao giờ mới có cơ hội thấy rõ chân lý? Chưa có pháp môn tu đạo mà cứ nói mình đã thực tập xong xuôi. Tâm còn loạn động, chưa biết hành trì, bao giờ mới cso được kiến giải thực sự.

2. Cứ nghĩ rằng người khác phải hành trì theo cái hành trì của mình. Tự cho rằng cái thấy, cái nghe và cái thực tập của mình là không ai bằng được. Chính mình đang bị sa đọa và ràng buộc vào trong năm cái hang động dục lạc của cuộc đời mà mình vẫn cứ ba hoa nói mình hơn người.

3. Còn ôm chặt si mê và vọng tưởng mà cứ tưởng rằng mình đã đạt tới chỗ chí thiện. Cái học hỏi và sự thực tập của mình còn sai lạc mà mình lại cứ ham muốn độ đời. Những gì thấy, nghe, suy nghĩ và cả những nghi lễ và cấm giới mà mình hành trì, mình vẫn còn bị kẹt vào đấy, chưa thoát ra khỏi. 

4. Bậc thức giả thấy người thế gian đi theo con đường ấy thì nhất quyết không chịu đi theo. Ta chỉ nên hành trì theo chánh niệm và trong khi hành trì pải hết sức thận trọng. Đừng cho rằng mình bằng người, hơn người hoặc thua người. 

5. Cái bây giờ mình không nắm bắt, cái sau này cũng tuyệt đối không làm mình vướng bận. Buông bỏ mọi chủ thuyết, mọi ý tưởng, một mình đi trong tự do. Tuy vẫn có cái biết và cái thấy nhưng thường quán chiếu để không bị kẹt vào chúng. 

6. Không kẹt vào cái nhìn lưỡng nguyên, không kẹt vào ý niệm thọ mạng, ý niệm về đời này và đời sau, kẻ trí giả đi theo con đường trung đạo, quán chiếu các pháp để đạt tới thiền định chân chính. 

7. Phải quán chiếu về những gì thấy, nghe và cảm nhận để đừng khởi lên tà niệm và bị kẹt vào tri giác sai lầm. Dùng trí tuệ để quán chiếu tâm ý và đối tượng tâm ý để buông bỏ được tất cả không còn bị vướng vào một pháp nào trong thế gian.

8 .Nếu các pháp đều không thực sự hiện hữu, thì còn pháp hành trì nào nữa để cho ta kẹt vào? Phải biết tìm trong pháp hành trì của mình cái đệ nhất nghĩa đế, cái sự thật đích thực. Không bị kẹt vào nghi lễ và giới cấm, không cho đó là chân lý, nhờ đó mà vượt qua được bờ bên kia, không bao giờ còn trở lại chốn sinh tử. 

Đại ý: 

Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Khi mình ôm ấp một cái thấy, một chủ thuyết rồi cho đó là chân lý tuyệt đối thì mình sẽ có thái độ khinh mạn đối với những người khác và những cái thấy của họ. Mình không chịu tu tập mà chỉ muốn đi truyền bá cái lý thuyết của mình. Một vị khất sĩ chân chính, một vị phạm chí chân chính không thể đi theo cond dường ấy. Phải buông bỏ sở tri, phải thực tập để thoát ra khỏi hang động của ham muốn, và phải đạt tới tuệ giác vô ngã để phá tan cả ba thứ mặc cảm là hơn người, thua người, và bằng người. 

Còn chấp vào một cái ngã thì còn so sánh, còn so sánh thì còn mặc cảm. Những mặc cảm ấy gây khổ đau và bệnh hoạn. Theo đạo bụt không những mặc cảm thua người đưa tới bệnh tật và khổ đau, mà mặc cảm hơn người và bằng người cũng chứng tỏ ta chưa thoát khỏi khổ đau và bệnh tật. 

Ta có những cái biết và cái thấy, nhưng ta không cần phải bị kẹt vào những cái ấy, thì ta mới có tự do và mới có cơ hội đi lên. 

Bài kệ thứ sáu nói tới con đường trung đạo, vượt qua cái nhìn lưỡng nguyên, vượt qua ý niệm thọ mạng và mở cửa cho giáo lý của kinh Kim Cương Bát Nhã sau này. Bài kệ thứ tám nói về cái không của các pháp và cái sự thật đích thực tức là đệ nhất nghĩa đế. Đây chính là hạt giống của giáo lý trí tuệ vượt qua bờ bên kia ( cầu vi đế, độ vô cực chúng bất hoàn). Vị đạo sĩ đạt được cái thấy bất nhị rồi thì không còn nắm bắt cái bây giờ và vướng bận vào cái sau này. 

1. Kiếp người rát ngắn gnuir

chưa tới một trăm năm

Dù có hơn trăm năm

cũng không sao khỏi chết

2. Lạc thú sinh lo lắng

ân ái sợ vô thường

yêu nhau hay ghét nhau rốt cuộc rồi cũng phải xa nhau

Thấy vậy cho nên có người không còn ưa thích sống đời lứa đôi

3. Không có gì mà cơn lũ của cái chết không cuốn theo nó

Những gì ta ham muốn ngày xưa, những gì mà ta trân quý như một cái ta, nếu lấy tuệ quán chiếu để tìm ra sự thật ta sẽ thấy rằng cái này không phải là ta, và ta không phải là cái này

4. Những lạc thú của cuộc đời cũng giống như những gì ta thấy trong một giấc mơ. Thức dậy rồi thì không còn thấy gì nữa. 

Những gì mà người đời đang tham cầu cũng thế. Một khi tâm thức hết biểu hiện thì còn có gì nữa đâu

5. Tên tuổi người ấy ta còn nghe, nhưng người ấy đã đi rồi. Người ấy dễ thương hay không dễ thương, bây giờ ta cũng không trông thấy nữa. Người ấy đã rời bỏ cuộc đời, người ấy đã đi về đâu. Thần thức đã đi, chỉ có cái tên còn ở lại. 

6. Buồn giận nhau, yêu thương nhau, rồi ghen ghét nhau. Người ta không buôn bỏ được cái vướng mắc vào tham ái. Bậc trí giả biết vậy cho nên buông bỏ ân ái. Lìa xa được sự sợ hãi và đạt tới cõi an lành. 

7. Vị khất sĩ phải sống với sự thực, đừng đánh mất chánh niệm. Phải xa lìa ái dục, biết rằng hình hài này thế nào cũng có ngày hủy diệt. Phải thực tập dừng đuổi theo những đối tượng sắc dục. Phải quán chiếu tâm ý trong tâm ý. Trên con đường tìm cầu chân lý, đừng dừng lại bất cứ ở đâu. 

8. Không dừng lại cũng là pháp môn hành trì của các bậc tôn đức. Cái thương, cái ghét, cái tỵ hiềm, cái buồn và cái lo không động được tới mình. Như những giọt nước rơi xuống không giọt nào dính vào được đóa sen. 

9. Không vướng mắc, cũng không trông cầu. Những gì thấy và nghe có tính cách bất chính ta không ái trước. Cả đến cái giải thoát mà ta cũng không tìm cầu thì ta còn tìm cầu gì những cái ô nhiễm

10. Không vướng vào tham ái như một dóa sen. tuy mọc lên từ bùn nhưn bg bùn không động tới được. Bậc tôn quý trên đời cũng hành xử như thế. Những gì nghe và thấy cũng giống như những gì chư bao giờ thấy, chwua bao giờ nghe. 

Đại ý

Kinh này nói tới cai lo và cái sợ. Dù mình đang hưởng thọ lạc thú, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai mình còn giữ được cái này hôm nay không. Dù mình đang có ân ái, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai người thương của mình có còn hay không. Nhìn cho kỹ thì đối tượng của lạc thú cũng như đối tượng của yêu thương đều vô thường, còn đó ồi mất đó như một giấc mơ. Khi người mà ta thương yêu không còn đó nữa, thì dù ta có khóc thương cách mấy người ấy cũng không sống lại được. 

Các vị khất sĩ phải buông bỏ ân ái, đi như một con người tự do, đừng để bất cứ một hình nahr hay một âm thanh làm vướng bận. Đừng đuổi theo một đối tượng ái dục. Trên con đường đi tới giải thoát không nên dừng lại vì một đối tượng ân ái, dù chỉ là trong khoawnhr khắc. đừng để cái thương, cái ghét, cái buồn , cái lo đụng tới mình. Chính cái giải thoát mà ta cũng không bị vướng mắc vào thì tại sao ta để cho ta vướng mắc vào những cái ô nhiễm. 

1. Tự mình cho là mình đã có pháp thanh tịnh cao nhất, kẻ khác không ai có tuệ gics lớn bằng mình. Kẹt vào cái sở tri của mình và thích thú với cái ý nghĩ là mình đã nắm được chân lý, thái độ ấy đưa người ta đến sự hành trì sai lạc. 

2. Trong những buổi hooij họp thường muốn tỏ ra rằng mình hơn người. Ai cũng cứ nói rằng kẻ kia còn là những người u tối. Lòng cứ đinh ninh là mình có chân lý, nhưng mình không biết thực sự biết là mình đang nói gì. Cứ thế mọi người đặt cho nhau những câu hỏi về chân lý và hy vọng là phía bên kia người ta sẽ không thể trả lời những cật vấn của mình được. 

3. Trong đám đông, họ cật vấn nhau, họ đặt lại những câu hỏi gây khó khăn trong các buổi tranh luận. Khi bị dồn vào thế không trả lời được, người ta nổi cơn giận dữ tại vì đối với những vấn đề gọi là nan giải, ai cũng cho là mình hay nhất. 

4. Lúc bấy giờ, trong sự thực tập của mình , mình bắt đầu có sự nghi ngờ tự cho mình là đã đi sai lạc và bắt đầu có tâm hành hối hận. Trong giọng nói của mình, bắt đầu có sự mất tự tin và không còn tin tưởng vào cái biết của mình nữa. Cuối cùng, cái thao thức muốn đặt những câu vấn nạn kia chẳng giúp ích được gì cho chính mình. 

5. Buồn rầu, lo lắng và khổ đau khi thấy mình thua cuộc. Mình ngồi không vui mà nằm xuống cũng còn ấm ức hoặc hối hận. Cái công phu học hỏi cua mình xưa nay vốn đã sai lạc cho nên mới đưa tới những lời nói và những ý định thế. Một khi thấy mình bị lép vế trong cuộc tranh luận rồi thì mình lại rơi vào mặc cảm thua kém. 

6. Thấy điều ấy rồi thì mình ngậm miệng lại, không dam nsois nữa bởi vì mình biết nếu gấp gáp nói ra một điều gì nữa thì vấn nạn lại do đó mà phát sinh. Vì có chủ yếu vấn nạn cho nên mới phát sinh ra những cuộc tranh chấp, nguyên do cũng chỉ vì mình muốn được khen ngợi, được nổi bật giữa đám đông. 

7., những lời ngợi khen đẹp đẽ kia làm phát sinh sự thích thú cho nên ai cũng bị kẹt vào. Chính thái độ tự cao tự đại của mình làm cho mình rơi xuống thấp. Không chịu lắng nghe học hỏi thì làm sao ta có thể đi lên. 

8 Nếu quả thực có tâm tu học thì ta sẽ không có nhu yếu tranh luận như thế. Không đi theo con đường kia thì ta sẽ có cơ hội đi tới giải thoát tốt đẹp. Nếu cứ ỷ vào ( cái hay, cái giỏi của mình) thì sẽ có nhu yếu năng nổ đi tìm một đối tượng mà mình muốn nạn vấn hơn thua. 

9. Tới và đi với thái độ hùng hổ, kẻ ấy không cảm thấy hổ thẹn, kẻ này bảo rằng: ai có đủ sức nghị luận được với anh, ngoài tôi? Ôm lấy cái khối si mê của mình, rất muốn la lên rằng: chủ trương của quý vị toàn là sai lạc. Mihf đang tự cố thủ lấy cái sai lầm của chính mình. 

10. Thật sự làm mình chỉ mới đi loanh quanh với cái hoa mà chwua bao giờ đi tới được cái quả. Những lời do chính mình nói ra mình cũng chưa hiểu được cái ý nghĩa của chúng nữa là. phải có can đảm vượt khỏi những sai lầm của mình để tìm cầu sự khai minh. Giáo và nghĩa phải đi đôi với nhau, đừng để chúng chống đối và làm tổn thương nhau. 

11. Người đại diện được cái Thiện không còn nhu yếu nói năng gì nữa. Kẻ kia dù đúng hay sai ta cũng không cần quan tâm lo lắng. Chủ đích của sự hành trì là tìm được cánh cửa ( đi vào giải thoát). Đối tượng nào của tâm ý cũng đều phải để tâm quán chiếu cho tường tận. 

12. Cùng với vị chỉ huy trưởng tập họp và  đàm luận chiến thuật với ba quân của mình, từ đốm sáng mờ mờ của con đom đóm, ta phát hiện lên ánh hào quang tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ. 

1. Ai cũng có quan điểm của mình về chân lyls, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái thấy ấy thì người ấy mới thấy được pháp. Còn những kẻ khác ( Vì chưa thấy được sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự thật. 

2. Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói rằng kẻ kia si mê, ta mới thực sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là đang nắm được chân lý. 

3. Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của chính mình. 

4. Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa. Bởi vì ai cũng đang có và đang kẹt vào cái ý của họ. 

5. Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ Người ngu si có thể suy nghĩ và hành sửa như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự do mình là người duy nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta ngu si. 

6. Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả mọi người có thể đi theo. 

7. Trả lời: chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về chân lý của riêng mình. 

8. Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên. Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào mà thiên hạ đang rao giảng. Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có. 

9. Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nảy sinh ra ý tưởng: cái này đúng và cái này sai. 

10. Những gì ta nghe, ta thấy và cả nững giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so sánh và quán sát xem có chỗ nào sai lầm ( nơi tri giác ta) không, nếu không thì sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm. 

11. Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp và lành mà muons mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù. 

12. Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả. 

13. Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đang hổ thẹn. Nếu tất cả mọi người đều phân biệt và ký thị như thế thì trong đời còn ai khôn gphair là kẻ si mê. 

14. Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa. Nói như thế thì dễ gây ra biến loạn, đó la fnguyeen nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán hận. Đi theo hành tri f một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư kiến của mình. Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết thì còn có ai la fsi mê nữa. Còn có ai để mình chê trách nữa. Nói rằng pháp của kẻ kia khoonng có khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao diệu bậc nhất. 

Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào cuộc tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giải đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác. 

Đại ý

kinh này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra. Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động. 

Có người đi tìm chân lý bằng cách họ hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh mình đã trực tiếp thân chứng. Có bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kẹ thứ chín nói rõ: sự thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện , vô đắc , vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài thi kệ thức mười bảy. 

Kinh buông bỏ nắm bắt. 

Khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta uwua tuyên bố: đây mới thật là chân lý. Cái xảy ra sau đó hoặc  là bị mọi người chống đối, hoặc được mọi người khen ngợi. Ít ai biết hổ thẹn về cái thấy còn thiếu sót của mình. ít ai thấy rằng tranh cãi  thường đưa tới một trong hai hậu quả ấy là hơn và thua. Vậy ta nên nhổ tận gốc cái ý muốn tranh cãi để thực tập mà đạt cho tới cái bình an, nơi đó khôn còn nhu yêu stranh cãi nữa. Tất cả các pháp đều có thể tính bình đẳng, giống như mặt đất. Chưa nếm trải được điều đó thì phải tìm cách thực chứng cho được. Nếu không thấy được cái nền tảng bình đẳng ấy thì làm sao có thể sống chung an lạc với nhau. Và làm sao để những gì mình thấy, nghe và nói không đem lại tranh chấp. 

Ham được người ta khen ngợi là nguyên nhân khiến cho kẻ khác không ưa thích mình. Kẹt vào những gì mình thấy và nghe, vướng vào nhận thức và lề thói tranh chấp lưỡng nguyên, những kẻ này a có thể giúp cho họ sáng mắt ra được. Ái dục chưa được đoạn trừ, những kẻ ấy sẽ phải còn tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử. 

Nghĩ rằng sử dụng những cấm giưới và nghi lễ mà mình đang hành trì sẽ đem lại cho mình sự thanh tịnh, nghĩ rằng mình đã khám phá và nắm được chân lý, người kia chưa thực sự đạt tới tịnh hóa, người ấy chỉ có chủ tâm gặt hái tiếng ngợi khen của thế gian. 

Không có tuệ giác mà đi tìm sự hành trì, đó là nguyên nhân đưa tới bao lầm lỡ, cũng như đi tìm sự thanh tịnh nơi sự học hỏi các chủ thuyết thì tự mình đánh mất giáo nghĩa chân thật và tiereeps tục đi vào cái khổ của sinh tử. 

Không nỗ lực trong công phu hành trì thật sự, khi mà cái hiểu và cái làm gì còn nằm trong phạm vi tư duy, thì người ta không thể chấm dứt được sinh tử luân hồi. Tuệ giác đối với người ấy chỉ là những lý thuyết. 

Buông bỏ tất cả những lễ nghi và cấm giới, buông bỏ tất cả mọi ý niệm về tội và phúc, thanh tịnh và ô nhiễm, lúc đó vị hành giả mới không còn bị vướng vào những lo lắng u sầu về vấn đè thanh tịnh và nhiễm

Nói rằng tu theo phép này là tốt nhất và ai không tu tập theo phép này đều là những người đang lầm đường , những người đã đi lạc quá xa, nói như thế thì sẽ gây tranh chấp biến loạn. Ai cũng chỉ nhân danh chân lý để đi tìm kiếm chút lợi danh trong cuộc đời. 

Cho giáo lý của mình là toàn hảo và các giáo lý khác đều còn thô lậu và có nhiều khiếm khuyết, không có giáo lý nào so được với giáo lý của mình, đó là lý do sinh ra tranh chấp và thù oán. Ai cũng có khuynh hướng muốn nói rằng cái thấy và cái hành trì của mình là cách thức duy nhất giữ cho mình không bị sa đọa vào ô nhiễm.

Ai cũng cho chủ thuyết của mình là hay nhất, không có giáo pháp nào có lợi lạc bằng, không có nguồn tuệ giác nào khác có thể đem tới sự tịnh hóa như nguồn tuệ giác của mình. Chính vì thế mà người ta bị kẹt cứng vào cái chủ thuyết của chính mình không thoát ra được. 

Mỗi người tự tôn sùng cái chủ thuyết của mình, cho đó là điểm cao nhất của sự học hỏi, đã từng được chính bậc đạo sư đích thân diễn giải. Sự thật là chủ thuyết kia chỉ là một lý thuyết suông, không phải là một pháp môn thực tập. Trong khi đó, sự tịnh hóa chỉ có thể xảy ra khi người ta hết lòng hành trì. 

Kẻ này nói sự thật là cái này, kẻ kia nói sự thật là cái kia, và cái thấy nào cũng có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng một khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta dễ gây thù với kẻ khác. Lý do là khi mình đã cố chấp cho cái thấy của mình là cao nhất thì mình luôn luôn nói igongj tự cao tự đại. 

Chấp nhận và vướng vào một chủ thuyết, cho rằng nhờ đó mà mình đã được giải thoát, tâm ý tuy có tin tưởng vào điều này nhưng trên thực tế chẳng có cái giải thoát thực sự nào xảy ra cả. Lý do là tại mình chỉ biết nói cho hay, và cái chủ thuyết kia chưa bao giờ đem lại sự giải thoát cho mình cả. 

Hãy quán sát người đời đang kẹt vào tâm và vật, đang lấy trí năng của họ để tìm hiểu về hai cái ấy. Dù ta có tìm hiểu được bao nhiêu về hai cái ấy thì cũng không phải nhờ thế mà ta được thanh tịnh và chuyển hóa. 

Có được một pháp môn thực tập có công năng đưa tới tuệ giác thì mình không còn bị hệ lụy vào bất cứ một chủ thuyết nào. Cái thấy và cái biết của mình, mình cũng không bị vướng mắc đó. Không đi tìm cái khuyết điểm của người, chỉ lo hành trì cho đúng pháp, người hành giả vượt qua mọi tranh cãi, không chấp nhận tham dự vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào. 

Thực tập quán chiếu cho đến nơi đến chốn, không đi theo một học thuyết nào, không chấp chặt một ý thức hệ nào, như đóng chặt tất cả các cánh cửa để phòng ngự mọi tham đắm, người hành giả chỉ thực tập quán chiếu mà không đi tìm những lý thuyết hấp dẫn kỳ lạ

Bậc Mâu Ni đã buông bỏ được tất cả những gì mà người đời thường hay nắm bắt, không còn lận đận với sở thủ và sở sinh ( đối tượng nắm bắt và đối tượng trở thành). 

Vị ấy không chọn lựa một quan điểm hay đi theo một phe phái nào trong những cuộc tranh chấp và cảm thấy thanh thản tự tại giữa đám quần chúng phàm tục đang buồn khổ và oán ghét nhau. 

Đã buông bỏ những ham muốn ngày xưa, và không đang xây dựng một ham muốn mới nào, vị ấy không còn cầu mong gì nữa, và do đó sẽ không còn vướng bận gì nữa. Vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, đã dũng mãnh bước qua đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại. 

Vị ấy không còn nghi nan gì nữa đối với tất cả các chủ thuyết, không còn bị kẹt vào bất cứ một cái gì đã nghe, đã thấy và đã nghĩ. 
Sau khi buông bỏ được gánh nặng, vị Mâu Ni đã thực sự giải thoát, không còn mong mỏi một cái gì nữa cả, hoặc cho quá khứ hoặc cho tương lai. 

Người ấy trước hết phải thấy rằng gốc rễ của mọi ham muốn là tin tưởng vào sự hiện hữu của một cái bản ngã. từ tri giác sai lầm về bản ngã ấy mà biết bao nhiêu loạn động phát sinh. Nếu trong tâm ái dụng đang còn thì bên ngoài còn có nhiều đổ vỡ. Phải luôn luôn thực tập cảnh giác chánh niệm về điều này. 

Đừng thấy mình hơn người, thua người hoặc bằng người. Mỗi khi được thiên hạ xưng tụng và khen ngợi đừng để cho tâm ngạo mạn cống cao phát sinh. 

Đừng kẹt vào cái sở tri và cái mình đã học hỏi. Phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Cần nỗ lực tinh tiến hành trì. Không nắm bắt gì và không thấy có gì cần nắm bắt. 

Phải làm chủ được mình, phải thực hiện cho được sự bình an nội tâm. Cái bình an ấy không thể tiếp nhận được từ kẻ khác. Do sự thực tập quán chiếu bên trong mà tâm ý yên tĩnh lại được. Cái yên tĩnh ấy không tới từ bên ngoài. 

Nên an trú trong hiện tại như an trú trong chiều sâu của biển cả. Ở đó có sự bình an, không hề có sóng gió. Sống tĩnh lặng tất cả năm uẩn đều được làm cho lắng dịu. Đừng để cho tâm ý và các giác quan bị kích động. 

Phải phát tâm cầu mong chứng đạt cho được con mắt của trí tuệ lớn. Tự mình chcuwngs đạt và giúp cho kẻ khác chứng đạt. Phải nuôi dưỡng, chế tác đức từ bi và bao dung. Phải thực tập, quán chiếu và tập trung cho tới mức vững chãi. 

con mắt đừng nhìn láo liêng bên này bên kia. Không ham nói nhiều, không mất thì giờ nghe những câu chuyện đàm tiếu. Không chạy theo vị ngọt của tham dục. không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì trong cuộc đời. 

Phải có chánh niệm về những xúc tiếp của cảm quan. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý đau buồn. Đừng để nảy sinh ra tâm ý ham muốn. Đừng để nảy sinh tâm giận hờn và tâm sợ hãi. 

Khi được cúng dường thức ăn, thức uống và những vật dụng khác như quần áo, thuốc men... phải tiếp nhận vừa đủ nhu cầu của mình, đừng có tâm chất chứa để dành cho mai sau. Phải biết dừng lại, đừng để cho lòng tham kéo đi. 

Phải siêng năng thực tập thiền định, ưa ngồi trong rừng cây. Đừng đi vào những nơi đám đông tụ họp, vào chống hý trường tiêu khiển. Khi ngồi cũng như khi nằm, chọn nơi yên tĩnh và đem hết tâm lực mà hành trì. 

Đừng ngủ nhiều, phải học hỏi và tu tập trong nghiêm túc. Đừng lơ là, cũng không nên bi quan. Không đánh mất thì giờ trong các cuộc vui rộn ràng. Những gì mà kẻ thế gian ưa chuộng và chạy theo mình đều buông bỏ. 

Không thực tập phù phép, bùa chú đoán mộng. Không bói toán, chấm số tử vi, đoán vận mạng, đoán điềm tốt xấu. Không cầu tự, không làm thầy địa lý, không kết nghĩa với người thế gian. 

Không mua bán, không tạo lãi. không hùn vốn để kiếm lợi tức. Gặp gỡ người trong xóm làng, đừng đi theo họ với mục đích mưa cầu lợi dưỡng. 

đừng vừa đi vừa nói chuyện. Không được nói lưỡi hai chiều. Suốt một đời tu chỉ nhắm tới sự nghiệp tuệ giác. Hành trì giới luật đừng để sơ suất, kể cả những giới điều nhỏ nhặt. 

Có ai cật vấn, đừng ngại ngùng. Có ai tôn kính, đừng nói lời đại ngôn. Đừng tham lam, đừng tật đố. Đừng nói louowix hai chiều, đừng giận dữ hoặc buồn phiền. 

Không nói những lời thô, lậu, tà vọng.. Đừng làm điều gì có thể gây ra thù oán. Những điều sai quấy đừng bắt chước làm theo. Phải biết hổ thẹn, phải đừng tự hào. 

Khi nghe những lời thô ác, không dễ thương của những bạn đồng tu hoặc của người thế tục nên giữ im lặng. Đừng tham dự vào. Cũng đừng phản ứng bằng những lời nói tương tự. 

Đã có cơ duyên gặp được chánh pháp của bậc như lai thì phải để hết tâm ý hành tri,f đừng ham vui nữa. Nên thực tập hết lòng theo lời Gotama chỉ dạy để đạt tới cái yên tĩnh của niết bàn. 

Nuôi lớn tuệ giác, chánh pháp không bao giờ lãng quên. Phải tập thấy được chân lý bằng con mắt của chính mình. Vị khất sĩ luôn luôn thực tập theo tuệ giác của đức như lai mà không chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài của thế gian nữa. 

Hãy lắng nghe và quán sát để thấy tại sao mà từ trạng thái an lành người ta đã đưa xã hội tới tình trạng đầy khủng bố bạo động như hiện nay.

Người đời trải nghiệm từ cái khổ này đến cái khổ khác, như con cá sống trong một nơi mà ở đó càng ngày nước càng khô cạn. Trong hoàn cảnh khổ đau, ý tưởng bạo động nảy sinh và con ngươi fvif u mê đi tìm sự bớt khổ bằng phương tiện khủng bố và trừng phạt. 

cả thế giới đang bốc cháy vì bạo lực, mười phương, loạn lạc cả mười phương, không có nơi nào thực sự còn an ổn. ai cũng cho mình là hơn người, ít ai biết buông bỏ cái đam mê của mình. Vì không thấy được sự thực ấy, cho nên con người cứ ấp ủ mãi cái tri giác sai lầm của mình. 

Tự trói buộc mình bằng những tri giác sai lầm ấy, người ta chỉ đem lại thêm cho mình nhiều tối tăm và thống khô. Tôi đã nhìn sâu vào trong tâm ý của những người không có có hạnh phúc và tôi đã thấy một mũi dao nhọn được che giấu dưới mũi dao nhọn ấy trong tâm, cho nên họ khó có khả năng chịu đựng được niềm đau. 

Cái niềm đau gây ra do mũi dao nhọn ấy kéo dài, không thay đổi, và vì cứ tiếp tục ôm lấy mũi dao nhọn ấy mà đi cho nên họ đã làm cho niềm đau trong họ tràn ngập thế giới. Chỉ khi nào có cơ hội nhận diện được nó và lấy nó ra khỏi trái tim thì khổ đau mới không còn và mình mới có cơ hội dừng lại. 

Trong số những hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vương vấn vào bất cứ một hệ lụy nào. Những gốc rễ của tà loạn phải biết cắt đứt, phải buông bo đừng nương vào chúng nữa. Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn. Kẻ hành giả pải vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệ giải thoát cho chính minh. 

Kẻ hành giả chân chính phải có tâm dạ chí thành, đừng tự hành động dựa tren vọng tưởng, cứ đường thẳng mà đi, không nói lươi xhai chiều. Phải biết cách dập tắt ngọn lửa của sự hờn giận, phải biết cách làm tan vỡ khối tham vọng của mình. Nếu biết cởi bỏ được nhữn ràng buộc của phiền não thì mình có thẻ bắt đầu thấy được bến bờ giải thoát. 

Nên buông bỏ sự tự hào, đừng ham ngủ, đừng để chìm vào trạng thái hôn trầm. Biết sóng và làm việc cho có chừng mực, đừng đánh mất mình trong đám đông. Đừng vướng vào những cái bề ngoài hào nhoáng. Phải biết từ khước chúng. Phải quán chiếu thường xuyên tự tánh không của vạn pháp đê dạt tới niết bàn tĩnh lặng. 

Đừng nhục mạ ai, cũng đừng để mình bị níu kéo và vướng mắc vào những hình sắc dối gạt bên ngoài. Đừng dấn mình trong những cuộc vui mà quên đi muc j đích của sự hành trì là giải cứu khổ nạn. 

Những gì thuộc về quá khứ, đừng nghĩ tới chúng nữa. Những gì thuộc về tương lai, đừng vọng tưởng đến chúng. Những gì đang xảy ra trong hiện tại phải được nhận diện để đừng bị vương vấn vào. Cứ như thế theennh thang bước một mình khắp năm châu bốn biển mà không còn bị ai ganh ghét. 

Tôi nói rằng tham dục là mãnh lực gây ra tàn hại nhiều nhât.s Đó là cơn lũ lụt làm ngập tràn cả thế gian. Thấy được điều đó thì mới chế phục được mọi nghi ngờ. Cần để tâm quán chiếu về lý duyên khởi. Phải thấy được rằng nếu không thoát ra được cái ô nhiễm của tham dục thì ta khó có thể chấm dứt được khổ đau. 

Trong hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự than vương vấn vào bất cứ một hệ lụy nào. Những gốc rễ của tà loạn phải được cắt đứt. Phải buông bỏ, đừng nương vào chúng nữa. Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn. Kẻ hành giả phải vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệp giải thoát cho chính mình. 

thế diệc hữu tất mạc thọ: Trong hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vương vấn vào bất ứ hệ lụy nào. 

Hữu là có, thế diệc hữu là trong cuộc đời có những hệ lụy. Mạc là đừng có, mạc thọ là đừng vướng mắc vào một trong những hệ lụy, những cái cột mình, giam hãm, đè nén mình. Tất là tất cả, tất mạc thọ là đừng nhận chịu, đừng vướng víu vào những hệ lụy đó. 

Khi mới sinh ra, em bé không có khả năng gì hết. Nó có hai tay, hai chân nhưng hai tay của nó không làm được gì, hai chân của nó cũng không đi được. Nó hoàn toàn bất lực, phải có một người nào khác lo cho nó, cho nên ngay lúc đó nó đã bắt đầu có tình yêu rồi. Ta cần một người để chăm sóc cho ta. Tình yêu của anh, tình yêu của chị phát sinh từ giây phút đó. 

Nếu bây giờ mình đi lang thang kiếm một người bạn đời thì đó chẳng qua là sự tiếp nối của ước mơ hồi còn bé thơ. Nếu bây giờ mình cảm thấy đơn độc, khó có thể sống một mình rồi mình đi tìm một người để sống đời lứa đôi thì việc đó không có gì mới cả. Nó là sự tiếp nối của ngày xưa. Một mình, mình không thể sống được, mình cần một người chăm sóc cho mình. Người đó ngày xưa là mẹ, bây giờ người đó là em hay là anh. sự thật là như vậy. Ước muốn của mình bây giờ chẳng qua là sự tiếp nối của ước muốn ngày xưa. Sự sợ hãi, sự mong chờ ngày xưa. Mình mong muốn được sống sót, mong muốn có một người lo cho mình tại vì mình bất lực không làm gì được. Dù cho mình lớn lên 20 tuổi, 30 tuổi mình có thể tự một mình sống được nhưng cái mong muốn kia, cái cảm tưởng một mình mình không thể sống được vẫn còn. Vì vậy mình phải đi tìm ít nhất là một người để lo cho mình. 

Tất cả những điều đó mình phải quán chiếu. Mình phải thấy sự phát sinh, sự trưởng thành của những tâm hành, trong đó có tâm hành sợ hãi, tâm hành lo lắng, tâm hành giận dữ. Tuy em bé đang còn nhỏ, chỉ mới có mấy ngày, mấy tuần thôi nhưng nó học rất mau. Nó biết cách làm thế nào để có một ít quyền lực, bắt người ta phục vụ cho nó. Nó khóc, nó la, nó ré, nó đạp tất cả đều là chiến thuật của nó. Mình tưởng nụ cười  của nó rất thiên thần nhưng đôi khi đó cũng là nụ cười ngoại giao, tại vì khi mẹ thấy nó cười thì mê quá, muốn gì mẹ cũng cho. Em bé khôn lắm, nó dùng đủ mọi cách để đạt được ước muốn. 

Mình đã như vậy từ hồi còn nhỏ nên khi lớn lên mình cứ tiếp tục như vậy, mình lẫy, mình hờn với người kia. Đó chẳng qua là sự tiếp nối của ngày xưa. Mình quán chiếu để thấy thâm hành đó phát sinh như thế nào, trưởng thành như thế nào và chuyển hóa như thế nào? mình phải thấy được sự hận thù, sự giận dữ cua rminhf đi đôi với tham vọng và hy vọng của mình, hy vọng được sống sót. Muốn sống sót thì phải tiêu diệt người kia tại vì người kia có thể là một mối đe dọa cho mình. Hai tâm hành dính với nhau, tham vọng và hận thù, nên trong kinh đã đưa hai cái đi đôi với nhau ( nhuế, tham). Tâm hành thứ ba là tâm hành sợ hãi. Để chuyển hóa bộ ba tâm hành tham vọng, hận thù, sợ hãi mình cũng có bộ ba tâm hành vô tham, từ và bi. Nếu óc từ và có bi mình sẽ chuyển hóa được tâm hành hận thù, giận dữ. Mình phải tập thế nào để chế tác được năng lượng từ và bi vì từ và bi là phương thuốc đối trị hận thù. Mình tu tập như thế nào để đem lại từ và bi. Mình biết rất rõ, trong tàng thức của mình có hận thù, có lo lắng, nhưng cũng có hạt giống từ và bi dù hạt giống đó đang còn rất nhỏ. Nếu biết cách tưới tẩm, nuôi nấng thì hạt giống đó sẽ càng ngày càng lớn. Khi từ bi lớn lên, chúng ta dùng năng lượng đó để quán chiếu thì sẽ thay đổi, chuyển hóa được sự hận thù trong ta. 

Trong kho tàng văn học A tỳ Đạt Ma, chúng ta học được rất nhiều phương pháp thực tập để làm phát sinh ra tâm niệm từ và bi. Khi có năng lượng từ và bi chúng ta chuyển hóa được sự hận thù, sự sợ hãi trong ta rất dễ dàng. Trong mình có một tâm hành gọi là niệm tức chánh niệm, trái tim của sự thực tập tại làng mai. Niệm là đem tâm để ý tới một mục tiêu, nhận diện nó. Duy trì niệm cho vững chãi, lâu bền mình sẽ chế tác được định, tức sự tập trung. Có niệm và định rồi thì thế nào mình cũng có một cái thấy, cái thấy ấy đó gọi là tuệ. 

trong tâm của mình có những đường đi nẻo về. Bây giờ khoa học thần kinh nói tới nẻo đi, nẻo về  của các tế bào thần kinh. Có những nẻo đi của thần kinh mà mình đã đi quen rồi, hễ đụng vào thì nó dãn mình tới chỗ kia rất mau. Ví dụ như khi mở tở bào ra mình thây smoojt quảng cáo, quảng cáo đó đánh động tới sự thèm muốn của mình. Tiếp xúc với hình ảnh trong quảng cáo, con đường của thần kinh dẫn mình đi tới sự ham muốn. Khi ham muốn nẩy lên con người mình bất an, mình đi tìm cách để thỏa mãn sự ham muốn đó. Mình đã đi ngang qua một neuro pathway rất mau chóng. Trong quá khứ mình đã đi qua con đường thần kinh đó rồi và mình bị kích thích. 

có một tâm hành gọi là tác ý. Tâm của mình chú ý vòa một đối tượng nào đó, gọi là tác ý. Khi tác ý về những đối tượng của dục hay của sân thì con đường thần kinh đưa mình đi tới cái sân hận rất nhanh chóng. Mình đã đi ngang qua một neuro pathway rất nhanh chóng. Trong quá khứ mình đã đi qua con đường thần kinh đó rồi và mình bị kích thích. 

Có một tâm hành gọi là tác ý. Tâm của mình chú ý vào một đối tượng nào đó, gọi là tác ý. Khi tác ý về những đối tượng của dục hay của sân thì con đường thần kinh mình đi tới cái sân hận rất nhanh chóng. Mình chỉ cần nghe một câu, thấy một cái gì thì sự hận thù trong mình đùng đùng nổi dậy. đạo phật gọi đó là phi như lý tác ý. Khi tâm mình để vào những cái có tác dụng lợi lạc, như tiếng chuông chẳng hạn, thì gọi là như lý tác ý. Khi có tiếng chuông để ý tới tiếng chuông và duy trì ý thức của mình với tiếng chuông, tiếng chuông giúp mình nhớ phải thở và làm lắng dịu lại cơ thể. Con đường thần kinh đi từ tác ý tới chánh niệm, từ chánh niệm tới định, từ định tới tuệ và từ tuệ tới hạnh phúc, giải thoát. 

Có người nghe tiếng chuông nhưng không để ý đến tiếng chuông, tiếng chuông đối với họ không có giá trị gì cả. Họ tới chùa, nghe chuông tiếp tục nhưng không thực tập, chỉ đê rý tới việc đi gặp người này, người kia nói chuyện. Nhưng cũng có người tới chùa, khi nghe tiếng chuông thì tự nhiên họ dừng lại, thực tập như lý tác ý để lòng theo tiếng chuông. 

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm. 
Tự nhiên thân tâm của họ lắng dịu lại và họ duy trì sự lắng dịu đó. Niệm đưa tới sự lắng dịu, sự tập trung và họ bắt đầu thấy.: Sướng quá! mình đang ở trong chùa, mình đang được gặp thầy, mình đang có tăng thân. Mình đang có cơ hội để sống nhưng giây phút hạnh phúc. Con đường của thần kinh này đi từ tác ý tới niệm, tới định, tới tuệ và tới hạnh phúc an lạc. Đó là nhờ tác ý đúng gọi là như lý tác ý. 

Ngược lại, nêu mình để tâm vòa một đối tượng quảng cáo, đối tượng quảng cáo đó sẽ đưa mình tới tà niệm làm mình nhớ tới một giây phút hưởng thụ của ngày xưa và nó bắt đầu đốt cháy mình. Tâm mình không nghĩ tới chuyện khác, có bao nhiêu điêu fhay, điều đẹp xung quanh mình không nghĩ tới, mình chỉ nghĩ tới chuyện làm thế nào để đi kiếm đối tượng đó mà tiêu thụ. tà niệm và tà định đưa tới một nhận thức rằng là: Nếu không mua dduwoc cái đó, không có cái đó đẻ tiêu thụ thì chắc là mình không sống được. Vì vậy cho dù xa cách mấy, cho dù tốn bao nhiêu đi nữa mình cũng đi tìm đối tượng đó để tiêu thụ và rồi mình sẽ chết vì nó. 

Vì vậy ở ngoài người ta bán đồ ăn, thức uống rất nhiều. Chungst a phải ý thức, phải biết mình đang làm gì. Trong đời sống hàng ngày có thể chúng ta chỉ tìm cách trốn tránh những cảm thọ khó chịu và đi tìm một vài cảm thọ dễ chịu. Mình không có khả năng xử lý, chuyển hóa những cảm thọ khó chịu, mình chỉ muốn khỏa lấp mà thôi. Tình trạng của chúng ta là vậy. Khỏa lấp bằng sự tiêu thụ, đó là cách thông thường của người đời. đó là bản chất của nền văn minh hiện đại. 

Vì vậy công phu tu tập quán chiếu cảm thọ trong quản thọ rất quan trọng. Đi từ cư xá ra nhà bếp hay ra thiền đường, mình phải có mặt trong từng bước chân, trong từng hơi thở để xem xét và nhận diện những cảm thọ nào phát hiện. Nếu thực tập thiền đi, mỗi bước chân của mình phải làm phát hiện được niềm vui, sự thanh thản và hạnh phúc. Chánh niệm càng vững, chánh định càng kiên cố thì niềm vui chế tác được bằng mỗi từng bước chân của mình càng lớn và có tính cách nuôi dưỡng. đó là đạo lực cao cường. Nếu chánh niệm và chánh định ốm yếu thì tuy mình cũng đi thiền hành như mọi người nhung hạnh phúc đạt được trong khi đi không có bao nhiêu cả. Đạo lực cao cường có nghĩa là niệm và định hùng hậu. 

Thiền đi là một pháp môn rất quan trọng của làng mai. Thiền ngồi cố nhiên ai cũng thích rồi, thiền ngồi có từ xưa tới nay và chỗ nào cũng có. Nhưng với làng mai, chỉ thực tập thiền ngồi thôi thì không đủ mình phải thực tập thêm thiền đi. Thiền đi ở đây không có nghĩa là chỉ vào giờ thiền hành mình mới thực tập thiền đi. MÀ bất cứ khi nào cần di chuyển mình đêu fphari áp dụng thiền đi. Mỗi ngày mình đi rất nhiều, vì vậy mình có rất nhiều cơ hội để thực tập thiền đi. Theo pháp môn cảu Làng mai, khi đi mình phải đầu tư thân và tâm vào trong từng bước chân, phải có pháp lực cao cường. pháp lực có cao cường hay không là do mình có niệm và định thực sự hay không. Niệm và định vững chãi thì mỗi bước chân đưa lại niềm vui và hạnh phúc. Nuôi dưỡng tự thân của mình là nuôi dưỡng luôn cả chúng. Sư anh, sư chị, sư em của mình và các vị phật tử cư sĩ tới từ các nơi rất hạnh phúc khi thấy mình đi được những bước chân như vậy. Khi đi cùng với đại chúng thì năng lượng tập thể thấm vào trong từng người. Cũng như lúc ngồi với nhau mà có một tiếng chuông thì tất cả mọi người đều ngưng suy nghĩ, ngưng nói năng và bắt đầu chú ý tới hơi thở. 

Mình thở vào một cách có ý thức và trân quí hơi thở vào của mình. Mình nhận diện được sự có mặt của những người bạn tu, những anh chị em xung quanh cũng đang thực tập như mình. Trong một đại chúng có tu, trong giây phút tiếng chuông được thỉnh lên thì năng lượng của niệm và của dịnh rất hùng hậu. Những người bạn mới tới lần đầu, khi nghe tiếng chuông họ cảm thấy được năng lượng hùng hậu đso rất rõ. Có nhiều loại im lặng, có loại im lặng rất bức xúc, rất đè nén. Nhưng có những thứ im lặng rất hùng tráng rất có biện tài, thức im lặng rất hùng tráng. 

Xả mông mông mạc thụy ngọa. Mông mông có nghĩa là hồ đồ, mờ mịt, không rõ ràng. xả là buông bỏ mạc là đừng. thụy ngọa là trạng thái nằm ngủ hôn trầm.  xả mông mông là bỏ sự hôn trầm, mờ mịt đừng ngủ nhiều, đừng rơi vào sự hôn trầm. Nên buông bỏ sự tự hào, đừng ham ngủ, đừng để chìm vào trạng thái hôn trầm. 

Viễn vô độ mạc dữ câu: vô độ là khoong có chừng mực. Viễn vô độ là biết sống và làm việc cho có chừng mực. Khi ăn, ăn có chừng mực, khi làm việc, làm việc có chừng mực, khi chơi chơi có chừng mực. Mạc dữ câu là đừng tụ năm tụ bảy nói chuyện, đừng đánh mất mình. 

Kỷ khả ố mạc thủ trúc.  Kỷ khả ố là những cái hào nhoáng bên ngoài, những cái không cần thiết thì người tu bỏ đi. Mạc thủ trú là đừng kẹt trong đó. 

Trước không niệm đương tận diệt: tneeus mình được trang bị bởi cahnsh niệm đó thì chắc chắn mình sẽ tiếp xúc được với niết bàn một cách sâu sắc. Tận diệt là đạt được niết bàn cứu cánh. 

Đương là trong tương lai. Đương tận diệt là trong tương lai mới có khả năng đạt được một cách tuyệt đối cái niết bàn tĩnh lặng. Tận diệt là niết bàn. Niết bàn là cái an tĩnh, dịch là diệt độ. 

Những con nai thì ưa trở về đồng cỏ vì nó cảm thấy thỏa mái, thảnh thơi trong đồng nội của nó. Những con chim thì ưa trở về không gian thênh thang tại vì ở trên trời chúng thấy thỏa mái. Những người trí, những người tu thì luôn luôn muốn trở về niết bàn tĩnh lặng. Niết bàn tĩnh lặng là không gian thỏa mái, an lạc của những người tu. 

Những con nai muốn trở về đồng nội chúng có thể trở về liền tại vì đồng nội đang có đó. Những con chim muốn bay về trời xanh thì chúng có thể bay về được ngay tại vì trời xanh luôn luôn cso đó. Những người tu cũng vậy, nếu muốn trở về niết bàn thì trở về được ngay trong giây phút hiện tại vì niết bàn luôn có đó. Niết bàn không phải là cái gì mình đi tìm ở một cõi khác hay ở một tương lai niết bàn có sẵn đó, mình có muốn về hay không mà thôi. Niết bàn là cõi không sinh không diệt. Nó là bản môn. Có những câu kinh nói về niết bàn rất hay như kinh như thị ngữ bụt nói: cáo cái không sinh không diệt, không tới không đi, không có không không, không còn không mất. Nếu có cái không tới không đi, không sinh không diệt, không còn không mất đó thì những cái sinh diệt tới đi, còn mất sẽ không có chỗ để trở về. Cái đó là cái gì? cái đó là niết bàn. Đoạn văn này rất hay, mình phải học thuộc lòng. 

Cũng như một đợt sóng, một đợt sóng có bắt đầu có chung cục, có lên có xuống, có cao có thấp, có lớn có nhỏ. Nhưng đợt sóng đó có thể trở về nước thì nó không còn thấy có bắt đầu có chung cục. Đi lên nó cũng vui mà đi xuống nó cũng vui, cao nó cũng vui mà thấp nó cũng vui. May thay đợt sóng có nước để trở về. Nếu không có nước thì làm sao sóng có chỗ để trở về. Nếu không có cái bất sah bất diệt, không tới không đi, không lên không xuống thì làm sao có cái sanh có diệt, có tới có đi, có lên có xuống có chỗ để trở về. Vì vậy niết bàn không phải là một ý tưởng, không phải là một cái gì chưa có và chỉ có trong tương lai mà nó đã có sẵn như đồng quê có đó cho những con nai, như không gian có sẵn đó cho các loài chim. Đói với người tu cũng vậy, niết bàn có sẵn đó, mình chỉ cần muốn trở về, về đó rồi mình sẽ thỏa mái hơn nhiều. Đó là bản môn. 

Từ cư xã thiền đường, mình đi rất sâu sắc, đi một trăm phần trăm. Khi tiếp xúc với tích môn, mình tiếp xúc được với bản môn, mình có thể đi ở chỗ không sanh khôn gdieejt, không tới không đi nghĩa là mình đang sống ở niết bàn. Người tu đạo cao cường đi từ phòng ngủ của họ lên thiền đường là đi trong niết bàn, còn mình tu dở thì vẫn trong cõi sinh tử. 

Những gì thuộc về quá khứ, đừng nghĩ tới chúng nữa, những gì thuộc về tương lai, đừng vọng tưởng đến chúng. Những gì đang xảy ra trong hiện tại ta phải nhận diện để đừng bị vương vấn vào. Cứ như thế thênh thang bước một mình khắp năm châu bốn biển mà không còn bị ai ganh ghét. 

Trong đám đông, số người có năng lực buông bỏ tham dục rất ít, thời đại nào cũng thế. Nhưng một khi đã buông bỏ được rồi thì kẻ hành giả lại không cảm thấy mất mát gì, cũng không có nhu yếu di chuyển tới một nơi nào khác: cơn lũ lụt kia tự nó sẽ cáo chung và không có gì còn ràng buộc ta nữa. 

Khi không còn bị kẹt vào các khái niệm tâm và vật như những gì tồn tại ngoài nhau, khi đã không còn bị kẹt vào các ý niệm, không thấy có gì có thể nắm bắt, khi đã thấy được rằng không gian và vật thể là không, thì không có gì trong thế gian còn có thể làm cho vị ấy oán than buồn giận nữa. 

Tâm thức của mình là do sự chuyển động và phối hợp của những tế bào não làm thành. những tư tưởng, những tình cảm, năm uẩn là sản phẩm của não. Não là bản chất là nguồn gốc của thức. Giống như gan làm ra mật, não bộ làm ra tâm thức. 

quan niệm này hineej nay đã bắt đầu bị lung lay. Nhờ khoa học lượng tử người ta thấy quan niệm đó có những sai lầm. Khi nghiên cứu những hạt vật chất, người ta rất ngạc nhiên thấy thi thoảng những hạt đó mang hình tướng của những đợt sóng và thỉnh thoảng chúng lại mang hình tướng là hạt. trong ý niệm của mình, nếu đã là hạt thì chỉ có thể là hạt mà không phải là sóng, nếu đã là sóng thì chỉ có thể là sóng mà không thể là hạt. Nhưng trong thực tế các nhà khoa học đều công nhận. Chính cái hạt vật chất đó, có khi biểu hiện ra như một cái hạt và có khi biểu hiện ra như một làn sóng. 

Trong khoa học lượng tử bây giờ ai cũng nói: khi tâm mình không quan sát lượng tử thì hình như lượng tử có mặt cùng khắp không gian. bản chất của nó là phi cục bộ. Nhưng khi mình bat dau tuda tam vao quan sát thì lúc đó mình thấy nó có một vị trí, một tốc độ. Khi mình để tâm vào quan sát thì sự vật thay đổi, cho nên người ta bắt đầu thấy được rằng vật thể khôn gphair là một thực tại độc lập ngoài tâm. quan niệm tâm và vật là hai cái khác nhau là một quan niệm sai lầm. 

Nhìn xuống không thấy hãnh diện, nhìn lên không thấy sợ hãi, vị mâu ni an trú nơi tự tính bình đẳng, không còn bị vướng vào một kiến chấp nào. Bấy giờ tất cả mọi tranh chấp đều đã được ngưng lại, oán thù và tật đố không còn có mặt, vị ấy tuy đứng trên tuệ giác mà chẳng thấy mảy may tư hào. 



Hạnh phúc mộng và thực 2

 Năng lượng đầu là niềm tin. Người không có niềm tin là người không có năng lượng, đó là một người đã chết. Tin ở một cái gì thật, một cái gì lành, tin vào một cái gì tốt đẹp và những cái đó không thể là những ý niệm. Những điều ta tin phải do kinh nghiệm trực tiếp của ta. Thí dụ tin vào chánh niệm vì ta vừa nghe một bài giảng rất hay về chánh niệm, thì đó chưa phải là chánh tín. được nghe giảng về chánh niệm, ta thực tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm, ta thực tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm là nguồn năng lượng mà ta có thể tạo ra được, ta có kinh nghiệm được, có thể soi sáng cho ta được thì đó mới là chánh tín. Điều này rất là quan trọng, hành giả phải ghi nhớ trong lúc thực tập chánh niệm. 

Nguồn năng lượng thứ hai là Tấn, có nghĩa là sự siêng năng. Nguồn năng lượng thứ ba là niệm, nghĩa là chánh niệm. Chánh niệm là trái tim của sự thực tập ở trong đạo bụt. Chánh niệm là năng lượng mà mình có thể chế tác ra, giống như điện năng do một nhà máy điện chế biến ra. Con người của ta cũng là một nhà máy, cũng là một trung tâm chế biến năng lượng. Năng lượng niệm là năng lượng ánh sáng, ánh sáng soi đường cho ta. Năng lượng niệm làm cho êm dịu, trị liệu những nỗi khổ niềm đau của ta, giúp ta nhìn sâu và thấy được sự thật của đối tượng quán chiếu. Có năng lượng của chánh niệm thì ta có thể chuyển đổi được các tình trạng. Có chánh niệm thì ta sống rất có ý thức, đi đứng nằm ngồi ăn cơm làm việc hoặc đối xử với anh chị em ta một cách rát có ý thức. Khi có năng lượng của n iệm thì ta có năng lượng của Định, nguồn năng lượng thứu tư của người tu. Nhờ định tâm, nhờ sự chăm chú cho nên ta mới thấy được cái bản chất, cái tự tánh của sự sống. Nhờ niệm, nhờ định mà ta thấy được tự tánh của đám mây, của bông hoa, của thức ăn, của niềm vui, của sư em, sư chị, sư anh, và thấy được một cách rất rõ ràng. Cái đó gọi là Tuệ, nguồn năng lượng thứu năm. Tuệ tức là cái thấy rất sâu và rõ, tiếng anh là understanding hay là wisdom

Như vậy niệm là cái năng lượng để soi chiếu. Khi có soi chiếu thì có sự tập trung và khi tập trung thì ta thấy được cái bản chất, cái tự tánh của đối tượng. Chính cái thấy đó là cái thấy trực tiếp, cái thấy do kinh nghiệm bản thân, nên mới gọi là Tuệ. NGược lại, thấy bằng những ý niệm, những lý thuyết chồng chất thì được gọi là kiến hay kiến thức. Học phật pháp ta có thể chất chứa rất nhiều kiến thức về phật pháp nhưng những kiến thức đo skhoong phải la ftueje, đôi khi nó còn có hại. Rất nhiều người học phật trên mười năm nhưng đời sống của họ không có chút nào thay đổi cả. Tại vì họ chỉ có kiến thức mà không có cái thấy trực tiếp của tuệ giác. 

Trong phương pháp tứ y do chư tổ đặt ra, điều thứ tư là Y trí bất y thức. Y trí là nương tựa vào tuệ, bất ý thức là đừng  nương tự vào keiens thức. Tuệ tức là cái biết trực tiếp bằng kinh nghiệm. còn kiến là cái biết nhận từ những ý niệm don gười khác trao truyền lại hay từ đọc sách. Hai cái đó rất khác nhau. Tuệ có công dụng giải phóng, trị liệu cho ta, còn kiến làm cho ta càng ngày càng tự hào và trở thành nạn nhân của những kiến thức của ta. Ví dụ khi nghe thầy giảng về chánh niệm, Thầy tìm mọi cách để cho ta thấy rằng chánh niệm không phải là một ý niệm mà là một vùng năng lượng ở trong con người. Tôi đang thở vào và tôi biết rằng đây là hơi thở vào, tôi đang thở và tôi biết rằng đây là hơi thở ra. Cái năng lượng nhờ đó mình nhận diện được hơi thở vào là hơi thở vào là chánh niệm. Khi uống nước mà không biết là mình uống nước thì lúc đó chánh niệm không có mặt. Thành ra chánh niệm là một cái có thật và mình có thể tiếp xúc được. Khi học về niệm như vậy rồi thì mình đâu bị kẹt vào ý niệm về niệm, tại vì mình đã có kinh nghiệm trực tiếp về loại năng lượng mà mình gọi là niệm và niệm đó là do tuệ đưa tới. 

Khi thấy ta đã có khả năng chế biến ra năng lượng niệm, và năng lượng niệm giúp ta tập trung được, hiểu biết được thì ta có đức tin về niệm, và đức tin này hoàn toàn làm bằng kinh nghiệm, không phải bằng ý niệm, ch oneen nó là chánh tín. Dù cho một số rất đông người tin vào một điều gì, dù cho cả một nước tin vào một chủ nghĩa thì niềm tin đó chỉ mới là niềm tin trên một ý niệm mà thôi. Ví dụ nước nga tin vào chủ nghĩa Mác Xít trong 73 năm, nước Việt cũng tin vào chủ thuyết cộng sản trên 45 năm, cả hai dân tộc đã chịu không biết bao nhiêu đau khổ vì ý niệm, vì niềm tin không được soi sáng và thực chứng đó. Trong kinh kalama bụt đã dạy rất rõ đừng vội tin vào điều gì, dầu điều đó là điều đa số đang nói tới như một sự thật, đừng vội tin điều gì dầu điều đó đã được biên chép trong kinh điển, đừng vội tin vào điều gì dù điều đó đã được một vị đạo sư nổi tiếng nói ra. Những câu đó là những câu do chính bụt đã nói, ta phải đem ra thí nghiệm. Nếu thực tập và thấy những điều có thể diệt trừ được khổ đau, xây dựng được sự giải thoát, sự an lạc, thì lúc đó ta mới tin. Niềm tin đó mới là chánh tín. 

Bốn đặc tính của pháp

Pháp có nhiều đặc tính. Đặc tính thứ nhất là thiết thực hiện tại, tức là có thể sờ mó được, có thể chứng nghiệm ngay bây giờ. Trong khi đó có những chủ thuyết, những ý niệm hứa hẹn rằng 30 năm sau hay đời sau thì thiên đường sẽ hiển hiện, nhưng có thể là không bao giờ nó xảy ra cả. Ngược lại, đặc tính của pháp là ngay giây phút mình bắt đầu thực tập là mình có thể cảm thấy được hiệu quả của nó. Ví dụ thở vào, tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra, nắm lấy điều này để thực tập thì tự nhiên chánh niệm phát sinh và ta có định liền lập trức và ta trở về được với chính ta. Như vậy dù chưa đến mức độ cao siêu, nhưng niệm định và tuệ đã thực sự phát sinh và sự thực tập của ta có kết quả liền lập tức. 

Đặc tính thứ hai là pháp là akalika, nghĩa là vượt thoát htowif gian/ Những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc có tính cách lệ thuộc vào thời gian, nằm trong thời gian. Ngược lại, pháp thì vượt thoát thời gian. 

Đặc tính thứ ba của pháp là Ehipassika nghĩa là tự mình tới, tự mình thấy, mình kinh nghiệm mà không cần phải qua trung gian của một ai hết. Ta có thể dịch là đến để mà thấy. Không cần phải có một giai cấp tăng lữ đứng làm trung gian để giúp ta tới chứng kiến cái mầu nhiệm của pháp. 

Đặc tính thứ tư của pháp là upanayika tức là có khả năng đưa mình tới chỗ an lành tốt đpẹ, có khả năng hướng thượng. Ta có thể dịch là có công năng dẫn đạo đi lên. 

Chỉ nương tựa vòa hải đảo tự thân là có đủ năm nguồn năng lượng

Chúng ta có bài thực tập nương tựa. 

Quay về nương tựa, là hơi thở đầu, Hải đảo tự thân là hơi thở thứ hai. Bụt dạy rằng, đừng nương tựa vòa bất cứ một điều gì, nhất là đừng nương tựa vào ý niệm, dầu ý niệm về bụt, vì ý niệm đó có thể sai, cso thể không phải là bụt. Bụt và ý niệm về bụt là hai cái khác nhau. trong quá trình tu học càng ngày ta càng khám phá ra chân tướng của bụt và những ý niệm xưa của ta về bụt cứ từ từ biến mất. Nếu những ý niệm về bụt không rơi xuống thì chân tướng của bụt không bao giờ hiển hiện ra được. Điều này cũng phải được áp dụng cho những hiện tượng khác, như trời xanh, mây trắng, hạnh phúc, người sư anh, sư em, sư chị của ta. Những ý niệm về họ phải được lột ra, phải được làm cho rơi xuống rào rào, thì cái bản thân, cái chân như của người đó, của vật đó mới phát hiện ra được.  Cho nên có ý niệm về một điều gì là rất nguy hiểm. Bụt dạy chúng ta phải quay về để tiếp xúc cho được cái pháp ở trong tự thân, ngài nói trong hải đỏa của tự thân có năm nguồn năng lượng, khi nương tựa vào năm nguồn năng lượng thì rất có an ninh. Đó là lời bụt căn dặn các thầy và các sư cô vào năm ngài 80 tuổi. Ngài biết rằng ngài sẽ nhập diệt trong vòng mấy tháng nữa và trong số môn đệ của ngìa có nhiều người sẽ cảm thấy rất bơ vơ. Ngìa nói với các đệ tuwrL này các thầy, các thầy đừng nương tựa nơi bất cứ một cái gì khác, hãy trở về nương tựa nơi hải đảo tự thân. 

Hải đảo là một vùng đất rất khó bị sóng cuốn đi, vì vậy cho nên nó đứng vững. trở về nương tựa nơi hai đỏa của tự thân tức là trở về nương tựa nơi pháp, vì trong hải đảo tự thân có pháp. Quí vị có nhớ năm nguồn năng lượng mà mình gọi là ngũ lực không? Tín, tấn, niệm, định, tuệ là chỗ mình trở về là nơi mình nương tựa. Năm điều đó không phải là năm ý niệm, mà là năm nguồn năng lượng có thật trong mỗi người chúng ta. Nếu ta sợ hãi, khổ đau, bơ vơ là vì ta không biết tìm về nương tựa nơi năm nguồn năng lượng đó. 

Chánh niệm là bụt, soi sáng xa gần, là hơi thở thứ ba và thứ tư. 

Bụt không còn là ý niệm nữa. Bụt là một chất liệu có thật mà mình có thể tiếp xúc bất cứ lúc nào, đó là chánh niệm. Một em bé năm tuổi cũng có khả năng chế biến ra chánh niệm, có thể đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm, nhìn trong chánh niệm, nắm tay người thân trong chánh niệm. Cho nên chánh niệm không phải là một ý niệm, mà là một nguồn năng lượng, là bản chất của một vị Bụt. vì vậy ta thường nói chánh niệm là Bụt. Quay về nương tựa bụt tức là quay về nương tựa nơi nguồn năng lượng đó của chánh niệm, trong đó có chứa bốn nguồn năng lượng khác là Tín, tấn, định, tuệ. Chánh niệm là ánh sáng được chế biến do sự thực tập. Khi có ánh sáng rồi thì ta được soi chiếu, được dẫn dắt, và nhờ đó mà ta biết nên làm gì và không nên làm gì, nên nói gì và không nên nói gì, nên nghĩa gì và không nên nghĩ gì, nên sinh sống bằng cách nào và không nên sinh sống bằng cách nào. Đó là bát chánh đạo, như vậy bát chánh đạo là tám con đường được chiếu sáng bởi ánh sáng của chánh niệm. 

Người có niềm tin nơi chánh niệm luôn luôn trở về với hải đảo tự thân và lấy năm nguồn năng lượng đó làm nơi nương tựa và soi sáng cho mình. trong câu chánh niệm là bụt, soi sáng xa gần, gần tức là bây gowiwof và ở đây, những cái gì đáng làm, những cái gì không nên làm, những cái gì đáng nói, những cái gì không đáng nói ngay trong giờ phút này. Xa nghĩa là trong tương lai, mình cũng biết được những gì đáng làm, đáng nói, không đáng làm, không đáng nói trong tương lai. 

Hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm là câu thực tập hơi thở thứ năm và thứ sáu. Pháp ở đây cũng không phải là ý niệm, pháp ở đây là một thực tại. Ví dụ một bài pháp thoại ở trong băng, chưa hẳn là pháp, nó chỉ là những ý niệm về pháp: một cuốn kinh cũng chưa phải là pháp mà chỉ là ý niệm về pháp. Ngược lại một hơi thở có ý thức là pháp sống, pháp linh động, pháp đích thực. thành ra khi đi thiền hành mà đi có chánh niệm, là ta đang thuyết pháp, thuyêt sphaps bằng thân và tâm của mình. Đó gọi là pháp đích thực. Còn một bài giảng dầu hay cách mấy cũng chỉ là pháp ý niệm để giúp mình đi tới cái pháp đích thực mà thôi. 

Khi đang nghe thuyết pháp hoặc đang giảng mà nghe tiếng đồng hồ hay tiếng chuông điện thoại reo, ta dừng lại, thở vào thở ra trong chánh niệm, tức là ta cũng đang thuyết pháp, pháp linh động. Khi thấy thầy đang giảng hay mà bỗng dưng ngừng lại khi có một tiếng chuông, các vị chưa quen thường giận lắm, tại sao không để cho thầy nói. Đó là tại ta chưa biết rằng những điều thầy nói tuy hay, nhưng không thể sánh được với hơi thở của Thầy và của ta trong lúc đó. Chính những hơi thở đó mới là pháp mà ta thực chứng được. 

vì vậy với câu thực tập hơi thở thứ năm và thứ sáu, hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm, mình nhận thức được rằng thân và tâm của mình được bảo hộ rằng những hơi thở chánh niệm. sự bảo hộ không phải là một sự bảo hộ thần bí nào cả. khi mình có chánh niệm thì chánh niệm đó là lực lượng bảo hộ cho mình. Một người thợ, một công nhân, trong khi sử dụng máy móc mà có chánh niệm thì không bao giờ bàn tay bị máy cán. Chánh niệm bảo đảm cho sự an toàn. Khi lái xe mà anh có chánh niệm thì chánh niệm bảo hộ cho anh. Khi sắp sửa nói một câu mà có chánh niệm thì chánh niệm cũng sẽ bỏa hộ anh. Đó là sự bảo hộ đích thực của bụt, không phải do một thần lực huyền bí hay phép mmauf nào cả. 

Năm uẩn là tăng, phối hợp tinh cần là hai câu cuối của bìa thực tập quay về nương tựa mà tôi muốn trao truyền lại cho quí vị. Năm uẩn là năm yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 

Khi năm uẩn không hòa hợp ta sẽ khai chiến với bên ngoài. 

Khi một người có chiến tranh với cha mẹ, anh em, vợ con trong gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó đang có sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc đó tâm họ không an lạc, nói một cách khác, năm uẩn của người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng đang chống đối nhau. 

Thường thường khi có chiến tranh ở bên trong là chúng ta hay khai chiến với bên ngoài. Thành ra những người hay khai chiến với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong thân tâm của họ. Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy hơi thở và thở theo chánh pháp, tức là ta biết dùng chánh niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc, ta thôi gây chiến. Trong kinh quán niệm hơi thở, bụt dạy Tôi đang thở vào và làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh, tức là ta có thể dùng hơi thở có chánh niệm để tạo ảnh hưởng tốt trên sắc và thọ của mình. Trong khi thực tập nắm lấy hơi thở ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ tới và nhờ vậy mà mình không còn khai chiến với người khác nữa. Năm uẩn ở đây không có nghĩa là cái thế giới bên trong. Khi nói năm uẩn là năm uẩn của anh là không đúng, tại vì đứng về phương diện thân tức là ắc, cũng như đứng về phương diện thọ, tưởng, hành và thức thì thân thể của tôi được làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi ăn, không khí tôi thở, nước tôi uống, tất cả những cái đó là từ anh, từ chị, từ những người khác, từ những hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái sắc này là của tôi là không đúng. Thọ cũng vậy, thọ tức là cảm giác, mà cảm giác luôn luôn là cảm giác về cái gì, cảm giác về những cái ở trong thân và cảm giác về những cái ngoài thân. Còn tưởng tức là tri giác, cũng vậy. Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về anh thì chủ thể của tri giác với đối tượng của tri giác là một. Anh là đối tượng của tri giác của tôi, thành ra nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm hành khác như giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai. Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả những cái ở bên ngoài. Vì vậy nên nói năm uẩn là những cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi chưa tu học thì ta tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta thấy năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng nó dính chùm, liên kết với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi nó dính líu tới cái mức mà ta không thể nào tách rời ra được. 

Khi một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người không co shanhj phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng có chiến tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm làm lắng dịu và đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy cho nên hơi thở chánh niệm là sự thực tập rất quan trọng. Sơ khởi, chánh niệm làm dịu tâm tư ta lại, gọi là an tịnh tâm hành. tâm hành an tịnh rồi, nếu tiếp tục thì chánh niệm càng soi sáng, ta thấy cái này sai cái kia không đúng. Điều chỉnh lại một lúc tự nhiên có sự hòa điệu ở trong năm uẩn của ta. Cũng như trong căn phòng ta ở, nếu không có thì giờ để sắp xếp, đồ đạc lung tung, thì khi bước vào ta thấy cấn cái, khó chịu. Nhưng nếu có thì giờ, nhìn cho kỹ, ta thấy cái này phải xoay lại một chút, cái kia xếp lại một chút, sắp đặt một hồi tự nhiên căn phòng có không gian, và ta sống được thoải mái. Năm uẩn cũng vậy nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của ta bất an, xáo trộn và vì vậy mà ta khó chiu, bứt rứt ở bên trong. Mà khó chịu ở bên trong thì ta khai chiến với bên ngoài. Cho nên thắp ngọn đèn chánh niệm lên, nhìn cho kỹ, sắp đặt lại bằng hơi thở chánh niệm là tạo ra sự an lạc và hòa điệu bên trong thì tự nhiên mình có hạnh phúc với cả bên trong lẫn bên ngoài. Vì vậy mà năm uẩn đích thực là tăng thân của ta. Khi dùng hơi thở chánh niệm và phối hợp một cách tinh cần, thì ta tạo ra sự an lạc. Từ đó những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng của ta sẽ được chuyển hóa. Sau đó ta thực tập tiếp bài quán niệm hơi thở: 

Thở vào, thở ra,

là hoa tươi mát

là núi vững vàng

nước tĩnh lặng chiếu

không gian thênh thang.

Thở vào biêt thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi thấy là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy tôi là núi, thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi thấy tôi là nước tĩnh...

Lúc đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của ta sẽ lắng xuống và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh, và nhờ vậy nó mới phản chiếu được sự thjat. Nước tĩnh lặng chiếu là vậy. Nếu tâm mình còn ghét, còn giận thì cái hình ảnh về người anh, người em hay người chị của mình nó méo mó một cách rất là buồn cười. Khi tâm tĩnh lặng thì tri giác ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai lầm mà thôi. Tri giác sai lầm sẽ làm cho mình khổ và làm cho người khác khổ theo. 

câu chuối của bài thực tập, không gian thênh thang nghĩa là lúc đó ở trong tâm ta có không gian, và ta thấy khỏe, không còn chật chội nữa. Lúc có những tri giác sai lầm, có những giận hờn buồn phiền thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không có chỗ để cho người sư anh, sư em ngồi trong đó. Khi tâm tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, tim ta mở rộng hơn ra, vì vậy mà có không gian bên trong và chấp nhận được người kia. 

Những lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chãi, là những lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn lúc nào hết. Những lúc không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà thưc tập bài này thì nó hạnh phúc nhiều hơn lên. Đừng đợi tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới thực tập. Chúng ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có chiến tranh ta chỉ cần vài hơi thở là có thể tạo được hòa bình. 

Hạnh phúc là có sự mát mẻ và thanh lương. Trái với hạnh phúc là cơn sốt. Khi rơi vào ngũ dục ta sẽ lên cơn sốt ngũ dục. Dầu đó là danh, là lợi, là tiền tài, là sắc dục, hay là sự ăn ngon. Trong khi hưởng thụ những dục lạc đó, người nào cũng có những cơn sốt. Ta chỉ cần quán chiếu là thấy cơn sốt có mặt trong lúc hưởng thụ và cơn sốt sẽ trầm trọng hơn sau lúc hưởng thụ. 

Khi sốt tức là bị ngọn lửa đốt cháy.

Đó là cơn sốt mà trong năm bẫy dục lạc, cái nào cũng có. Ví dụ một món rất ngon, khi sắp ăn ta sẽ bắt đầu sốt, trong khi ăn ta lại có sốt, và khi ăn xong thì cơn sốt càng trầm trọng hơn. Sau khi ăn xong, ta thường tự hỏi tại sao ta đã ăn và tại sao ta ăn nhiều vậy. Tại sao đã quyết định không nên ăn những thứ này mà ta vẫn ăn. Lúc đó ta thắc mắc, ân hận, lo âu, oán trách.. Đó là những cơn sốt, những ngọn lửa đốt cháy tâm can. 

Dày công tu tập mới chuyển hóa được tàng thức. 

Ta đã biết tất cả hạt giống đều có mặt ở dưới tàng thức của ta. Tuy nhiên, phần tàng thức thiên biến vạn hóa, bất khả tư nghì. Ta đã biết cái danh, cái lợi, cái tài, cái sắc là những bẫy sập, và nhiều khi ý thức của ta thấy điều đó rất rõ. Ta đồng ý một trăm phần trăm với những điều bụt dạy, những lời thầy nói. Ta biết rằng con đường dục lạc không phải là con đường của ta. Con đường của ta là nương tựa vào pháp, là đi theo tăng thân để tạo dựng niềm vui, ta thấy rất rõ, không nghi ngờ gì hết. Vậy mà một đêm, trong giấc mơ ta thấy ta làm khác. Sở dĩ như vậy là vì ở dưới tàng thức ta có những lực lượng của tập khí, chúng đi tìm cái hạnh phúc theo thói quen. Ví dụ một sư chú đã cạo đầu đi tu, đã quyết không những đời này làm người xuất gia, mà đời sau cũng muốn tiếp tục làm người xuất gia. nó rõ ràng rành mạch như vậy, nhưng tại sao đêm qua mình lại nằm mơ thấy mình trở thành một chú rể. Tôi cũng đã trải qua cái hoàn cảnh đó, tôi cũng đã một lần nằm mơ thấy mình làm rễ, có cô dâu đàng hoàng, rất buồn cười. Các sư cô cũng vậy, chắc chắn rằng đã hoặc sẽ có một đêm nào đó các sư cô nằm mwo thấy mình là một cô dâu, mặc áo rất đẹp, có những cô phù dâu đứng ở hai bên. 

Ý niệm về hạnh phúc. Ta thấy rằng tất cả những ý niệm về hạnh phúc có thể là những bẫy sập, giam hãm chúng ta trong vòng khổ đau. Vì vậy mà ý niệm về hạnh phúc nó liên hệ tới ý niệm về những bẫy sập của ngũ dục. Cách đây chừng một tháng, có một đạo hữu từ hòa lan sang làng tu học. Các vị ở xóm hạ hỏi thăm tại sao các cháu không cùng sang, đạo hữu ấy nói: Dạ vì các cháu đang vướng vào bẫy ngũ dục. Đạo hữu đó thấy các con mình ddang vị bướng vào những nỗi khổ của ngũ dục, rất khó thoát ra mà ông không làm gì được hết. Đối với không biết giáo pháp đạo bụt, ngũ dục là con đường của hạnh phúc, là con đường đưa đến hạnh phúc. Ngược lại kinh samiddhi nói rằng đó là những nẻo đường tăm tối, khổ đau. Chúng ta phải có lòng thương, sự hiểu biết, và đạo lực khá thâm hậu thì mới giúp họ thoát khỏi những bẫy sập của ngũ dục được, nếu không thì chúng ta chỉ đứng ngoài mà thương hại thôi. Nói rõ ra, không tu học thì không có khả năng giúp người thoát khỏi những bẫy sập ngũ dục. 

Tôi đâu có bỏ hạnh phúc trong hiện tại để đi tìm một hạnh phúc hứa hẹn hão huyền ở tương lai đâu? Chính tôi dã bỏ hạnh phúc hão huyền kia để đi tìm một cái hạnh phúc có sẵn trong giây phút hiện tại đấy chứ. Thầy samiddhi cũng nói thêm với vị thiên nữ rằng  ngũ dục đem lại cho chúng ta những cơ sốt, những nỗi khổ đau, trong khi đó thì pháp hiện pháp lạc trú đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay bây giờ và ở đây, không phải tìm đâu xa. Vì vậy trong kinh có danh từ vượt thoát htowif gian, nghĩa là không có thời gian tính. Đây cũng là một chủ đề rất lớn trong toàn bộ giáo lý của đạo bụt, và thường được xem là kim chỉ đạo của sự tu học hiện pháp lạc trú. Tiếc rằng có rất ít thiền viện và trung tâm tu học đưa chủ đề này ra triển khai. 

Chủ đề thứ ba là nương tựa. Nương tựa ở đây là nương tựa vào pháp, vào một cái gì không phải là ý niệm. Khi sống với chánh pháp chúng ta đạt được sự an lạc, sự vững chãi, sự thảnh thơi. Nương tựa vào páp còn được gọi là nương tựa vào hải đảo tự thân. 

chủ đề thứ tư của kinh samiddhi là mặc cảm hay là mạn. Ba cái mặc cảm hơn người, thua người, và bằng người đều do ý niệm gọi là ngã chấp mà sinh ra. Khi quán chiếu để thấy được sự tương quan, tương liên hay tương tức của vạn pháp, chúng ta thấy được mọi sự sống là một, ta với người, ta với cây cỏ là một. Cũng vậy, sự bình an, niềm hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân, không thể nào có vấn đề hạnh phúc cá nhân. Khi chúng ta vượt thoát được ý niệm về ngã, thì tất cả những sợ hãi, lo lắng, giận hờn, buồn phiền, sẽ tan biến và hạnh phúc có thể có mặt thật sự. Khi niềm vui được xây dựng trên ý niệm về ngã thì niềm vui đó tính cách mong manh, không vững chãi, không đích thực. Chỉ khi nào sự sợ hãi vắng mặt, nỗi lo lắng giận hờn tan biến, thì niềm vui đó mới là niềm vui đích thực mà thôi. 

Giảng dạy ý niệm về hạnh phúc, bụt đưa ra ví dụ của một người bị án tử hình. Người tử tội biết rằng trong vòng bảy ngày nữa thì mình sẽ bị đem ra chém đầu. May có sự can thiệp của người thân, án được giảm xuống còn khổ sai chung thân. Khi nghe tuyên án lại ông ta rất đỗi vui mừng, nhảy nhót sung sướng! Bụt kế luận cái sung sướng vì đem so sánh với bản án tử hình, thì khổ sai chung thân mới được xem là một niềm vui. Thật ra nó có hạnh phúc gì đâu?

Biết bao nhiêu người trẻ trên thế giới, vì có những niềm đau mà họ đi tìm hạnh phúc trong năm thứ dục lạc. Khi sống trong năm thú dục lạc, họ không tìm được hạnh phúc chân thật, mà họ chỉ tìm được niềm vui của bản án khổ sai chung thân, để vùi lấp niềm đau của bản án tử hình mà thôi. Đó là một tấm bi kịch rất lớn của loài người. 


Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

Hạnh phúc mộng và thực

 Nếu tới làng mai cách đây mười hai năm, quí vị sẽ thấy quan cảnh của làng không giống bây giờ. Thí dụ pháp đường chuyển hóa là một chuồng bò, phân bò chất lên rất cao, phía trên toàn là rơm và sàn gỗ mục hết. Mỗi khi có việc cần vào, ta thường bị những con mạt cắn khắp mình, khi ra phải đi tắm mới hết ngứa. Cỏ dại mọc khắp nơi, phật đường trúc lâm tức là căn phòng đẹp nhất của xóm thượng cũng là một chuồng bò chứa phân cao tới gần một thước tây. Chúng ta đã để ra rất nhiều tuần lễ mới chở hết phân ra, rồi phải dùng một máy xịt nước rất mạnh để rửa từng viên đá. Quang cảnh của làng mai cách đây mười hai năm rất khác với bây giờ. trong suốt 12 năm đó, chúng ta đã cày bừa, dọn dẹp, sắp đặt và quang cảnh của làng mai ngày nay tuy chưa được như mình mong ước nhưng cũng đã khá hơn trước rất nhiều. 

Khi mới đến một vùng đất hoang để khai khẩn, mảnh đất đó có thể làm cho ta nản lòng vì cỏ gai và chướng ngại vật đầy dẫy. Ta cần phải đào, phải bứng, phải chặt, phải cày, phải bừa. Người làm việc có phương pháp. lúc mới đến họ thường chụp hình khung cảnh đất hoang, rồi mới bắt đầu khai khẩn, xây cất. Sau một hai năm xây dựng họ đem hình ra xem để thấy sự khác biệt giữa hai quang cảnh mới và cũ. 

Tu học là điều phục tâm

Sự tu học của chúng ta cũng như vậy. Trước khi tu thì tâm của ta rất là hoang vu và gai góc. Ta tạo ra rất nhiều đau khổ cho chính ta và cả cho những người chung quanh. 

Này các vị khất sĩ, không có một sự vật nào khi không được điều phục mà có thể đem lại nhiều đau khổ như tâm của chúng ta. 

Này các vị khất sĩ, không có vật nào khi đã được điều phục và chế ngự mà lại có thể đem lại nhiều hạnh phúc như tâm của chúng ta. 

vì vậy tu học có nghĩa là điều phục tâm, làm việc với tâm. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ. Tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những bất lợi lớn. 

Bất lợi lớn ở đây có nghĩa là những đau khổ cho chính bản thân và những người xung quanh. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể dưa đến lợi ích lớn như là tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ. Tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những lợi ích lớn. 

Lợi ích lớn ở đây là hạnh phúc cho chính mình và cho những người chung quanh. Khi tu, ta tu với các tâm của ta, nghĩa là ta điều phục bảo vệ và hộ trì cái tâm của ta. 

Tâm cũng như đất, chứa đầy hạt giống. 

Trong văn học phật giáo, tâm có khi được ví với đất. Tại bất cứ nơi nào ở xóm thượng, ngoài hạt giống rau dền, đất xóm thượng còn chứa rất nhiều loại hạt giống khác. 

Ta thường chứa hạt giống trong bồ hoặc trong nhà để chờ ngày gieo và do đó nghĩ hạt giống là một cái gì có ở ngoài đất. Kỳ thực, hạt giống luôn luôn nằm trong đất. Nếu ta có hạt giống chứa trong bồ thì hạt giống cũng từ lòng đất mà ra, chứ không phải từ trên không rơi xuống rồi đem cất vào bồ. Cái ý niệm đất là tâm là một ý niệm vô cùng tuyệt diệu, vì vậy cho nên ta có chữ tâm địa. Trong đất tâm, ta có đủ mọi hạt giống: hạt giống của  gai góc,  của tham giận, của si mê, của kiêu căng, của ganh tị... Nhưng trong tâm ta cũng có các hạt giống hạnh phúc, của giác ngộ, của giải thoát, của sự tha thứ, của sự thương yêu... Tu học có nghĩa là phân biệt cho được những hạt giống đó để chuyển hóa những hạt giống xấu và tưới tẩm những hạt giống tốt. 

Trước khi tu tập, đất tâm của ta rất cứng và với đất đó ta không làm gì được cả. Vì vậy, việc đầu tiên là phải cày đất. Lưỡi cày đất tâm là chánh niệm. 

Ở làng mai, đứng trên đồi nhìn xuống, ta thấy những ruộng nho, những đồi mận rất đẹp. Ta nên biết rằng những vùng đất đó đã dược cày bừa rất kỹ lưỡng. Tại Xóm Hạ, đất ở các vườn trồng rau trong nhà mặt trời đã được chuẩn bị thật kỹ cho nên ta mới có các loại rau mọc lên rất mạnh và tốt tươi. Sư cô bảo nghiêm và sư cô chân vị là hai người đã để ra tất nhiều thì giờ và công phu để chăm sóc những vườn rau ở xóm hạ. Các sư cô biết rất rõ nếu không xới, không nhổ cỏ, không làm cho đất mềm, đất nhuyễn thì không thể nào trồng rau được. Tâm của ta cũng vậy, nếu tâm của ta không được điều phục không được uốn nắn, không được bảo hộ  thì tâm của ta sẽ gây ra đau khổ và không thể nào tạo được hạnh phúc cho mình và cho người. 

Ba tâm sở mới trong đạo bụt nam tông

Trước hết là tâm sở nhu nhuyễn,  nhu nhuyễn là mềm. Tâm nhu nhuyễn dễ làm việc lắm, còn nếu tâm cứng ngắc thì rất khó làm việc. Đất cứng mà không cày thì không trồng trọt gì được. Hãy lấy một cành cây khô mà ta lượm ở pháp thân tạng làm ví dụ. Khi ta uốn cành cây khô này thì nó gãy. Trong khi đó với một cành tre nen hay một dây mây, ta có thể uốn nắm một cách rất dễ dàng. Sự khác nhau giữ cành cây khô này thì nó gãy. Sự khác nhau giữa cành cây khô và sợi dây mây là ở chỗ một bên có sự nhu nhuyễn, một bên không có sự nhu nhuyễn. Tâm của ta cũng vậy, có khi nó cứng ngắc, cố chấp đủ thứ, dù có người muốn giúp, cố nói cho ta nghe một điều gì đó nhưng tâm ta nó vẫn trơ trơ vẫn không lay. Tâm đó gọi là tâm không nhu nhuyễn. 

Một tâm sở khác là tâm thích ứng. Ngày xưa dịch là tâm thích nghiệp, vì trong đó có chữ karma, nhưng dịch là tâm thích ứng thì dễ hiểu hơn. Tâm thích ứng là tâm uyển chuyển, tâm có thể chấp nhận được những hoàn cảnh mà ta không chờ đợi trước. Ví dụ ta có một ý niệm về làng mai, nghĩ rằng làng mai là thế này hoặc thế kia, nhưng khi về tới làng thì thấy làng mai không giống như những điều mà ta đã vẽ ra, đã suy nghĩ đến, vì không bỏ được cái ý niệm trước của ta về làng mai nên ta không thích ứng được. Kết quả là ta cảm thấy thời gian ở làng mai không hạnh phúc vì những điều ta mong đợi đã không xảy ra. Tâm đó gọi là tâm không thích ứng. Trong khi đó, tâm thích ứng là tâm dễ hội nhập với hoàn cảnh trong hiện tại. 

Tâm hữu năng dihcj là tâm tinh luyện hay tâm xảo diệu. Tâm xảo diệu là tâm có khả năng làm được những việc mà nhưng xtaam khác không thể làm được. Người có tâm đó thì rất khéo léo,,khéo léo như hai bàn tay của một cô y tá khi chích thuốc hay băng bó. Phải luyện tập lắm mới có được hai bàn tay của cô y tá. Ai muốn biết bàn tay cô y tá ntn thì hỏi sư chị. Tâm của mình cũng vậy, khi tâm của mình xảo diệu thì mình có thể đối cơ, đối cảnh và độ đời được một cách dễ dàng. Mình có thể sống với các sư em, sư anh, sư chị một cách rất hạnh phúc, còn nếu không có tâm xảo diệu, nếu cứng ngắc và không biết thích ứng thì mình chỉ chịu chết thôi. 

Tất cả những tâm sở và tâm hành này đều có hạt giống ở trong tàng thức. Nếu thực tập chuyện cày ruộng, thực tạp chuyện tu học hàng ngày thì hạt giống của tâm nhu nhuyễn, của tâm thcish ứn và của tâm xảo diệu sẽ tưới ẩm và ta sẽ trở thành một người sống có hạnh phúc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vì vậy mỗi khi giận, buồn, hoặc thất vọng ê chề, ta thối thất muốn bỏ đi, muốn trốn tránh xã hội loài người thì ta phải biết rằng cái tâm của ta ddagng còn là một miếng đất hoang chưa được cày bừa, chưa được tu tập. Bụt dạy rằng tâm không tu tập sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Vì vậy đối với người tu hành, công việc hàng ngày là cày cấy mảnh đất tâm của mình. Khi ngồi thiền mình cày ruộng tâm của mình. Khi đi thiền hành mình cũng cày ruộng tâm của mình. Khi nghe chuông, khi thở, khi ăn cơm đều là những lúc mình cày ruộng tâm của mình cả. Cũng vậy, khi lượm mận, làm mứt, nấu cơm, đều là những lúc ta cày miếng đất của ta. Đừng nghĩ rằng tu hành chỉ xảy ra trong khi ngồi thiền hay nghe thuyết pháp mà thôi. Cái tâm của mình phải luôn được tu tập. Theo danh từ hán việt, tu là làm cho đẹp, làm cho tốt, làm cho nó có thể sử dụng được như trong danh từ tu bổ. 

Hiện pháp lạc trú là sống hạnh phúc trong khi tu tập

Tại sao lại bỏ cái lạc thú heienj tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời như thế

Chúng ta thấy trong câu này có hai chữ hiện tại và phi thời, chữ hiện tại cũng như chữ phi thời mà vị thiên giả dùng là theo nghĩa ngoài đời, nó có nghĩa rất khác vưới chữ hiện tại và phi thời trong văn học đạo bụt. Phi thời ở đây có nghĩa là không đúng lúc, nó nằm trong tương lai chứ không có mặt ở hiện tại, nhưng đọc tiếp kinh này ta sẽ thấy rõ hai danh từ phi thời và hiện tại được dùng với ý nghĩa trong tinh thần đạo bụt. 

Ban đầu thầy Samiddhi cũng sử dụng hai danh từ đó theo cái nghĩa của vị thiên giả, và thầy trả lời: Tôi đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời. Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đấy chứ. Nói như vậy tức là thầy dựa vào giáo lý hiện pháp lạc trú mà đức thế tôn đã dạy cho thầy. Hiện pháp lạc trú là sống trong hiện tại với tất cả những niềm vui và sự an lạc của mình trong khi tu tập, chứ không phải tu để mong ước niềm vui trong tương lai, khôn gphair khổ để tu hành, khổ ấy vui. Điều này là rất quan trọng. Ví  như khi thiền hành mà quí vị nghĩ rằng đi thiền hành khổ cực bây giờ để mười năm sau sẽ có hạnh phúc, thì tất cả công phu đi thiền hành của quí vị đổ xuống biển hết. Đi thiền hành như vậy thì quí vị có đi mười năm cũng không ích lợi gì, tịa vì quí vị cho rằng đi tiền hành là một lao tác, một cực hình để đi tới một kết quả hạnh phúc an lạc trong tương lai. Vì vậy phương châm của sự thực tập là phải có hạnh phúc ngay trong khi thực tập. Đi thiền hành ta phải có an lạc ngay từ trong mỗi bước chân. Đây là nguyên tắc dẫn đạo cho sự tu học. Nếu tron gkhi đi thiền hành mà chúng ta không có an lạc thì đừng mong gì ta sẽ có an lạc trong tương lai. phải đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân nuôi dưỡng được mình và đem lại được niềm vui và sự an lạc cho mình ngay trong lúc đi. Từng bước chân thảnh thơi, có nghĩa như vậy.  Thức dậy hôm nay, tôi biết rằng tôi có hai mươi bốn giờ tinh khôi và tôi không muốn đi qua hai mươi bốn giờ đó như là đi trong mộng, tôi muốn đi trên miếng của thật tại, vì vậy tôi phải thắp lên ngọn đèn của chánh niệ, của tỉnh thức. Mỗi bước chân của tôi đều dẫm lên đất thật chứ không muốn dẫm lên trên thế giới của mộng mơ 

Ở đời có một chứng bệnh gọi là bệnh mộng du, mình đang ngủ mà mình đang đi. có những người ban đêm tự nhiên chổi dậy và đi. Họ đi trong giấc mơ mà họ không biết. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có những người đó mới đang mộng du thôi. kỳ thực trong đời sống hằng ng ày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du thôi. Kỳ thực  trong đời sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du. chúng ta đi trên đất, bước trên đất mà giống như chúng ta bước trên mặt trăng. Có một thiền sư một hôm đi chơi trong vườn chùa với một số khách tới viếng thăm mà trong đó có thể có những vị xuất gia, đã dừng lại, chỉ vào một bụi cây có những cành lá rất xanh rồi mỉm cười nói. Người đời bây giờ nhìn những lá này, họ chỉ thấy được những cái lá này ở trong mộng. Tôi đang cùng đi với quí vị, nhưng có thể quí vị đang đi trong một giấc mơ. Chúng ta thấy có những người học phật, nhưng trong khi học hoặc bay bổng trên hư không. Sự học phật của họ, cái giáo lý mà họ học không dính líu gì đến đời sống hằng ngày của họ hết. Thành ra không hẳn là họ đang học đạo giải thoát, học đạo tỉnh thức. Họ đánh mất họ trong thế giới của suy luận, trong cái thế giới của siêu hình. Ăn một miếng cơm mà họ ăn trong giấc mơ, họ không thực sự ăn cơm tại vì cái tâm của họ hiện không có mặt. Họ bước một bước mà họ không thực sự bước trong gời phút hiện tại, tại vì họ không có chánh niệm. Khi dẫm chân trên thực tại ta tiếp xúc đượ cvowis chân như, tiếp xúc được với bản môn, tiếp xúc dược với niết bàn và kết quả là ta được nuôi dưỡng bằng cái chân như, bằng bản môn, bằng niết bàn, chứ ta không bị nuôi dưỡng bằng những cái hình bóng giả tạo trong mộng. 

Bảy đặc tính của chánh pháp. 

Hôm thứ năm vừa qua chúng ta đã nói về danh từ akalika và có nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa vua ba tư nặc và bụt thích ca hồi ngài còn ba mươi tám tuổi, bụt đã nói đại vương, vấn đề giác ngộ không phải là vấn đề thời gian. Đó là ý nghĩa vượt thoát thời gian, không phải già thì mưới giác ngộ mà trẻ thì không giác ngộ được. Tu học không phải là công chuyện chỉ nên làm khi chúng ta lớn tuổi. Trong minh tâm bảo giám, một cuốn sách mà tất cả các học sinh VN và Trung hoa thời xưa học thuộc lòng có câu. 

Mạc đãi lão lai phương học đạo

Cô phần đa thị thiếu nhiên nhân

Nghĩa là đừng đợi tuổi già rồi mới học đạo, những nấm mộ cô độc ở ngoài nghĩa địa phần lớn là những nấm mồ của người trẻ. 

Trong truyền thống bà la môn giáo ngày xưa, khi còn trẻ ta phải hưởng những thú vui dục lạc, phải cưới vợ, phải lấy chồng, phải sinh con. Đến khi con lớn rồi mới có quyền đi tu. Vua tịnh phạn đã hươn một lần trích dẫn quan niệm đó với thái tử tất đạt đa. Tuổi trẻ với tất cả năng lượng của nó mới có đủ sức để chọc thủng bức màn vô minh và đem lại ánh sáng giải thoát, nếu đợi đến khi già rồi thì làm sao còn có đủ sức để làm chuyện vĩ đại kia được. 

Tự mình có thể giác chi. 

Tự mình thông đạt. 

Quê hương đích thực và thiền đường trong giấc mơ

Ngày xưa có thể chúng ta đã có cơ hội sống với hiến pháp, nhưng đã bỏ cái thiên đường thật đó để chạy theo một thiên đường mà ta mơ tưởng, không bao giờ có thật. Trong một bài giảng bằng tiếng Anh trước khóa tu này, tôi có nói rằng mỗi người trong chúng ta đều có cảm tưởng là đã đánh mất cái thiên đường của mình và trong cuộc sống hiện tại, ta đang tìm lại cái thiên đường đó. Ta tin rằng có một nơi, có một cảnh mà trong đó nếu trở về được thì sẽ có an lạc, hạnh phúc, sẽ được che chở và có an ninh. Vì vậy mà suốt đời chúng ta cứ đi tìm một thiên đường trong giấc mwo. 

Người tu tịnh độ đầu tư vào việc tìm về bằng cách mỗi ngày lần bao nhiêu xâu chuỗi, niệm bao nhiêu chục ngàn danh hiệu bụt. Qua sự hành trì đó ta cũng nhận diện được ước muốn được trwor về với quê hướng đích thực của họ. Trong bài giảng tiếng anh nói trên tôi có nói rất rõ rằng, một ý niệm về quê hương đích thực. Khi nghe chuông ta thực tập: lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm, có khi ta nói đưa về quê hương. Như vậy chúng ta là nnhuwngx người đã mất quê hương đích thực và trong cuộc sống hằng ngày ta cứ mãi đi tìm cái quê hương đích thực đó. 

Quê hương đích thực là gì. Ý niệm của chúng ta về quê hương đích thực là gì? Quê hương đích thực là một nơi mà ta cảm thấy có an ninh, cảm thấy được che chở không phải lo sợ, không đánh mất chúng ta. Quê hương đích thực True home không phải là một cái ý niệm mà cũng không phải là một cảm tưởng. 

Ngay từ đầu, ý niệm về quê hương đích thực là một ý niệm mà ta cần phải cứu xét. Mỗi chúng ta đều giữ lại cái kỷ niệm một thời mà ta còn là bào thai trong lòng mẹ. Mỗi chúng ta đều cư trú khoảng chín tháng trong bụng mẹ. Bụng mẹ tiếng Hán Việt gọi là tử cung, nó có nghĩ là cung điện của đứa bé. 

Những nuối tiếc âm thầm trong tàng thức

Trong lý thuyết văn nghệ mác xít, người ta hay nói không được bôi đen thực tại, mà cũng không được tô hồng thực tại. Thực tại là thự tại, mình không nên bôi cho nó đen thêm, cũng khôn gneen tô cho nó hồng hơn. Trên lý thì như vậy, nhưng thực tế thì các nhà văn, nhà thơ, nhà họa luôn luôn có ý muốn bôi đen hoặc tô hồng. Tô hồng tức là làm cho đẹp hơn sự thật và tàng thức của chúng ta thường làm công việc đó. 

Có những điều mà trong khi tỉnh, ta biết rằng không đáng để ta theo đuổi, vậy mà trong giấc mơ ta vẫn theo đuổi. Khi nghe nói trong bụng mẹ tối hu và cung điện của đứa con không phải là cái đích mà ta tìm tới, thì ta có thể đồng ý một trăm phần trăm rằng đó không phải là quê hương đích thực của ta. Nhưng có thể trong giấc mơ ta vẫn âm thầm đi tìm về cái hướng đó. Và chính tôi có thể cũng đang làm như vậy! Thức dậy buổi khuya tôi vẫn thấy mình nằm ở trong tư thế ấy như thường. Thành ra ta phải biết sự thật là trong con người của ta có một sự mâu thuẫn, có một sự khác biệt giữa ý và tàng. Những đối tượng của năm thứ dục lạc kia, khi quán chiếu bằng ý thức, ta không thấy chúng có sức hấp dẫn như vậy, nhất là khi ta đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm, ta đã thấy rõ mặt mũi chúng. Ta nghĩ rằng ta đã được giải thoát rồi, nhưng than ôi, khi đi vào giấc mơ ta vẫn còn bị kẹt. Và vì vậy cho nên phải tiếp tục thực tập quán chiếu để chuyển hóa cái thấy của tàng vì cái thấy của ý chưa có nghĩa là ta đã được hoàn toàn giải thoát. Ta đã có thể cắt đứt những sợi dây kết sử phía trên phần ý, nhưng mà những sợi dây kết sử ở dưới phần tàng, gọi là hạ phần kết sử, hay là tùy miên, có thể ta chưa cắt đứt được, vì vậy cho nên ta đừng khinh thường. 

có một sư cô vì không gặp may mắn trên đường tu học, không có thầy giỏi, không có tăng thân tốt, nên đã không thành công trong việc chuyển hóa. Trong sự buồn đau và thất vọng đó, cô ngã bệnh. Trên giường bệnh, chỉ còn mấy ngày nữa là từ trần, cô bảo những người xung quanh hãy đme tới cho cô một muỗng nước mắm để cô uống. 

Sự tu hành của chúng ta hiện giờ cũng vậy. ta phải đạt cho được cái hạnh phúc trong khi tu học. đi tu là vì ta đã thấy được những sơn sốt, những đau khổ, những phiền não trong cuộc đời và cái thấy đưa tới một cái tâm muốn tạo hạnh phúc cho ta và cho người khác, muốn đem giọt nước thanh lương để xóa tan cái sầu khổ trong lòng mình và trong lòng người. Do đó mình phát ra một cái tâm rất đẹp, rất tươi, rất mát, gọi là tâm bồ đề, có khi gọi là sơ tâm. Sơ tâm tức là cái tâm ban đầu của người đi xuất gia. 

Ngũ Dục tạo nên những cơn sốt

ý niệm về hạn phúc là những chướng ngại của hạnh phúc

Trong ta mỗi người đều có một ý niệm về hạnh phúc. Ta nghĩ rằng hạnh phúc là phải như thế này hay như thế kia. nếu ta không được như thế này hay như thế kai thì ta kết luận là ta không có hạnh phúc. Ta cho rằng bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc của mình, và trong nhiều trường hợp, ý niệm về hạnh phúc của mình là chướng ngại căn bản để mình đạt tới hạnh phúc. Ví dụ mình ham muốn đậu được cái bằng đó, và nnghix rằng nếu không có cái bằng đó thì không bao giờ mình có hạnh phúc cả. Nhưu vậy tức là mình đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc. Trong khi mình đang có vô số cơ hội để có hạnh phúc,mình đánh mất hết, chỉ vì mình đã tự đóng khung cái hạnh phúc của mình vào trong cái ý niệm có bằng cấp kia. Đó alf một cái muốn, một thứ ái dục, ái dục về bằng cấp. Trong đời sống tu hành cũng vậy. là một ông thầy tu mình có thể nghĩ rằng muốn nói cho thiên hạ nghe thì mình phải có một cái bằng cấp vì có bằng cấp thì thiên hạ mới nể, thuyết pháp người ta mới nghe. Vì vậy cho nên mình phải xông xáo ra đời vài ba năm để học và giật cho được bằng cấp đó. Mình đâu có biết rằng vì ý niệm về bằng cấp mà sự nghiệp tu hành của mình có thể sẽ bị hư hỏng. Tóm lại tất cả đều do ý niệm của mình mà ra, và ý niệm thường rất dễ bị sai lạc. 

Có một anh chàng nói: Hạnh phúc của đời tôi là phải cưới cho được cô này, nếu không cưới được cô ấy thà rằng chết còn hơn, hạnh phúc khkoong thể nào có dược. Như vậy anh chàng đã cột đời của mình vào trong ý niệm  là phải cưới cho được cô kia. Cưới không được thì đời không còn có ý nghĩa gì cả. Tại sao đời không có ý nghĩa gì nữa cả. Đời còn nhiều nghĩa lắm chứ. Nhưng tại mình không thấy được tất cả những cái nghĩa khác của cuộc đời mà chỉ thấy có một nghĩa đó mà thôi. Cái đó gọi là ý niệm, ý niệm đó ở trong đạo bụt gọi là tưởng một cái tưởng của minh về hạnh phúc. 

Muốn sử dụng vô số những điều kiện để có hạnh phúc, muốn đừng dẫm lên những điều kiện của hạnh phúc mà đi, ta đừng nên bị ràng buộc vào một ý niệm nào về hạnh phúc cả. Khi đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc là ta không còn cơ hội nào khác để có hạnh phúc nữa. ý niệm hạnh phúc đó gọi là dục tưởng. 

Ý niệm về hạnh phúc hay dục tưởng là đối tượng cần quán chiếu. 

Ý niệm về hạnh phúc có thể là một ý niệm cá nhân, mà cũng có thể là một ý niệm có tính cách cộng đồng, goi là tâm thức cộng đồng. Nếu ta hỏi một người mỹ bình thường phải có những điều kiện nào mới có hạnh phúc, thì người ấy sẽ liệt kê những điều kiện tối thiểu mà một người mỹ phải có để có thể gọi là một người có hạnh phúc. Trước hết là phải có một trình độ học thức tương đương với BA hay BS, nghĩa là tốt nghiệp đại học cấp 1. kể để phải có công ăn việc làm tương đương với trình độ học vấn, lương đủ cao để có thể thuê 1 căn nhà, mua một chiếc xe. Trong nhà phải có TV tủ lạnh...Cái hạnh phúc đó gọi là ước lệ. Đó là ý niệm về những đk mà mình tin là cần thiết và là căn bản của hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ lại, ta thấy rằng rất nhiều người đang có những đk như vậy, nhưng không hạnh púc gì cả. Họ có thể đang bị đau khổ cùng cực. Ngay cả khi có nhiều hơn trên cả những điều kiện đã đòi hỏi, họ vẫn khổ đau vô cùng. Vậy thì ý niệm về hạnh phúc là một dideuf cần phải được quán chiếu, cần phải tìm hiểu vì ta có thể chết vì nó. 

Đừng nói gì ngoài đời, ngay ở trong đạo, người đã tu rồi, cũng có thể có một ý niệm về hạnh phúc.Ví dụ mình nghĩ là phải có một ngôi chùa riêng để tự do sắp đặt theo ý mình, để không phải làm theo điều người khác sai phái. Chừng nào làm trụ trì, làm viện chủ của một ngôi chùa rồi thì mới có quyền, mình có thể bảo chú này, cô kia làm theo điều này, điều nọ. Mình nghĩ: có một ngôi chùa riêng để làm chủ là điều kiện của hạnh phuc.s Nhưng than ôi, khi đã có một ngôi chùa riêng rồi mình mới biết rằng cái ý niệm về hạnh phúc có thể không đúng chút nào. Thật ra có một ngôi chùa, có một trung tâm tu học không phải là điều dễ. Ta có thể căn cứ vào điều kiện đó để tạo rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng không hẳn phải làm chủ một ngôi chùa mới có thể làm được những điều đó. Nếu mình là một người có hạnh phúc, có khả nwang hướng dẫn tu học và tạo dựng hạnh phúc cho người, thì không có chùa mình vẫn làm được việc đó. Mình lại khỏi phải chăm sóc và lo lắng cho ngôi chùa như một vị trụ trì. Nhiều khi không có chùa mình có thể tọa hạnh phúc cho mình và cho người gấp mười, gấp trăm lần khi mình có một ngôi chùa. Có rất nhiều người đau khổ vì không gọi bằng các danh từ đó. Khi được gọi bằng một danh từ khác họ thấy trong người như có lửa đốt, như bị sốt rét. Tại sao đáng lý mình được gọi bằng danh từ ây smaf người ta gọi mình bằng danh từ này. Khi có sốt rét, khi bị một ngọn lửa đốt cháy, mình biết rằng mình đang bị một dục tưởng trấn ngự, dù đó là một cái danh rất nhỏ. Vì vậy dục tưởng hay ý niệm về hạnh phúc là một đối tượng mà mọi chúng ta cần phải quán chiếu. Khi quán chiếu và đập vỡ được cái dục tưởng ấy rồi thì mình được giải thoát, và tự nhiên ta có vô số hạnh phúc. Điều kiện hạnh phúc có mặt rất nnhieeuf trong ta và chung quanh ta, sở dĩ ta không sử dụng được chúng là vì ta đang kẹt vào trong cái gọi là dục tưởng. 

Trong hai câu chuối cùng của bài kệ bụt nói cho vị thiên giả. 

Danh sắc trung sinh tưởng nghĩa là từ trong phạm vi danh và sắc, đã phát sinh ra những tri giác, những nhận thức. 

ai cũng nghĩ rằng phải có cái đó mới hạnh phúc, vì vậy mà chúng ta chạy theo cái dó, không suy nghĩ. điều này cũng là một đối tượng quán chiếu rất quan trọng của thiền quán. 

Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc không?

Hạnh phúc là gì? Trong thiền quán khi chiếu sáng vào, ta nhìn rõ ràng bản thân của ái dụng, để thấy rằng những hình ảnh mà bụt đưa ra là những hình ảnh ất tuyệt diệu. Hình ảnh của moojtj khúc xương trần, một miếng htijt sống, một bó đuốc rơm cầm ngược gió, một hố than hồng, một con rắn độc rất là dễ sợ. Nhìn chung quanh, ta thấy biết boa người đã bị rắn độc cắn, biết bao người đã rơi vào hố than hồng, đang lăn theo đối tượng của dục vọng để gặm, để nhấm, để ham muốn, để hi cầu. Những người ấy khoogn bao giờ thỏa mãn cả. Không cần phải nhìn xa, chỉ nhìn chung quanh là ta thấy được những điều bụt dạy. đó là quán chiếu. Trong khi đó, người có tự do là người không ôm ấp một ý niệm vê fhanhj phúc, không ôm ấp dục tưởng, những người ấy có vô số cơ hội để có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Trời mưa cũng có thể hạnh phúc mà trời nắng cũng có thể hạnh púc. 


Điều quan trọng nhất là muốn có hạnh phúc chân thật, ta phải đặt vấn đề nghi ngờ cái ý niệm của mình về hạnh phúc, tại vì mỗi chúng ta đều có ý niệm rằng nếu được như thế này, được như thế kia thì ta sẽ có hạnh phúc. Có thể ví cái ý niệm đó mà trong quá khứ mình đã đau khổ vô cùng. Gạt bỏ được ý niệm về hạnh phúc, mình sẽ bắt đầu có cơ hội hạnh phúc. Trước khi gạt bỏ được ý niệm đó, ta vẫn chưa có hạnh phúc. Tại sao?

Khi có một ý niệm về hanh phúc rồi thì ta không thể an trú trong hiện tại được, vì ta cứ nghĩ rằng chừng tôi đạt được cái đó, chừng nào tôi thành tựu được cái kia, thì tôi mới có hạnh phúc. Khi có một dục niệm như vậy làm sao mà có hạnh phúc ngay trong hiện tại được. Nên điều kiện tiên quyết để có hạnh phúc là phải rời bỏ ý niệm về hạnh phúc đi để có thể an trú trong hiện tại. Bụt dạy rằng chúng ta có thể tiếp xúc với hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại hiện tại lạc trú là có nghĩa như vậy. 

Trước đây tôi đã nói về sự thầm mong trở về quê hương của chúng ta. Hôm nay tôi nói thêm về quê hương đích thực. 

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, 

Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương. 

Quê hương này là quê hương đích thực. Quê hương này không phải là quê hương Pháp, quê hương Mỹ... hay quê hương VN mà là cái quê hương tâm linh của chúng ta, nơi ta cảm thấy thỏa mái và hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội trong bụng mẹ hơn chín tháng. Thời gian đó ta không lo lắng về quá khứ hoặc tương lai còn hiện tại thì đã có mẹ lo  hết. Ta có cảm tưởng rất an lành dầu ta còn rất bé. Khi ra đời rồi, cảm giác đó dần dần bị đánh mất, vì vậy trong ta có khuynh hướng muốn trở về cái cung điện của đứa con, muốn trở về nằm trog bụng mẹ. Dầu ta có mỉm cười biết rằng trở về nằm trong bụng mẹ để có sự an toàn là chuyện không thể làm được, nhưng trong tàng thức, cái ước muốn thâm trầm đó vẫn còn. Tại sao? Tại vì sự khác nhau về cách vận hành giữa ý thức và tàng thức .Ý thức biết rằng không làm thế nào để trở về trạng thái bao thai để có sự an toàn, đó là một chuyện không tưởng. Ý thức biết rất rõ như vậy, nhưng A Lại Gia Thức vẫn còn mang cái ước muốn đó. Quán chiếu xa thêm chút nữa, ta thấy rằng sự an toàn đó chỉ là một ý niệm an toàn mà thôi. Thực tế thì nơi êm ấm an toàn mà ta đã nằm là một phần thân thể của mẹ. Vì vậy sự an toàn ha bất ổn của ta hoàn toàn tùy thuộc vào những ái, ố hỷ nộ của mẹ. Tùy thuộc vào những chất dinh dưỡng hay độc tố mẹ dùng. Nếu một thi sĩ có cảm tưởng mình đã đánh mất thiên đường, mình đang đi lang thang, đang bị đày đọa, thì cái ý niệm về thiên đường đó cũng đã taojdduowjc từ cảm giác an toàn mà ta đã có trong thời gian còn trong bụng mẹ. Ra khỏi bụng mẹ tức là ra khỏi thiên đường. 

Xét cho kỹ, ta vẫn còn thiên đường tới một mức độ nào đó. Nằm trong nôi, vẫn còn là nằm trong loại thiên đường. Ta nhớ rằng hồi còn bốn, năm tuổi, khi cha mẹ ta bận với công này việc nọ, ta thường đi thơ thẩn một mình ra vườn. Ta chơi với con ốc, con bướm, con sâu. Ta thơ thẩn một mình, làm quen với những gì chung quanh ta. Có khi ta sang hàng xóm chơi với bạn. Đến khi rảnh tay hay đi chợ về, mẹ gọi ta, cho một cái bánh in, một khúc mía thì ta có hạnh phúc rất nhiều. Tất cả những cái đó đều là những yếu tố của một thiên đường mà hiện giờ ta đã mất. Thiên đường ở đây có thể gọi là quê hương. Quê hương đầu tiên là bụng mẹ. Quê hương thứ hai là thời thơ ấu, là cây khế ngọt...

Ngày xưa ta không cần phải có những điều kiện lớn lao mới có hạnh phúc, chỉ cần một cây khế để leo lên hái ăn là đã có đủ hạnh phúc rồi. Cây khế đó bây giờ có còn hay không? Trong thiên đường của ta chắc chắn lúc nào cũng có một cây khế. Ngày xưa tôi có nói với thầy bổn sư Nếu gõi tịnh động mà không có cây khế thì con không chịu về tịnh độ đâu. Nói thế tại vì cây khế là một yếu tố rất cần thiết trong thiên đường của tôi. Cách đây hai hôm, lúc ở sơn cốc, tôi ngồi dưới một cây táo laoij Golden Apple, trái bắt đầu chín và ăn một trái táo vừa mới hái trên cành, ăn rất thảnh thơi, ăn với tất cả sự có mặt của mình. Hồi còn nhỏ, tooid dược ăn chuối, ăn cam, ăn xoài, ăn đủ thứ trái cây ngon, nhưng trái táo thì rất hiếm. Tôi thường nghĩ rằng sau này có cơ hội đi sang các nước tây phương, thế nào mình cũng tìm cách leo lên một cây táo và ăn một trái táo ngay trên cây thì mới đã. Cái ước mơ đó của tôi đã được thực hiện. Nhưng ngày hôm kia, khi ngồi dưới cây táo và ăn trái táo đó một cách rất chánh niêm, rất sâu sắc và rất hạnh phúc thì tôi biết rằng cái thiên đường kia nó nằm ở đó chứ không nằm ở đâu cả. Cây khế ngày xưa có còn hay không, đó là tùy theo nhận thức của mình. cây khế ngày xưa còn đó, và nó có thể nằm dưới hình thức một cây táo hay cây mận. Tại sao lại phải cái thời gian đó, cái địa phương đó, cái cây tên đó thì nó mới thuộc về thiên đường của mình. Ta đã thực sự đánh mất cái thiên đường của ta hay chưa. 

Quê hương là đường đi học 

Con về đuổi bướm vàng bay

Những hình ảnh ấy đã mất hay chưa? Những con đường thiền hành ở xóm thượng, những con đường thiền hành ở xóm hạ, những con bướm, những hạt sỏi, những lối rẽ đi quanh có bóng mát trưa hè... những cái ấy có hay không

Tại sao ta phải ước mơ, phải hoài vọng về một thiên đường trong quá khứ. Tại sao chúng ta không có khả năng thấy được rằng con đường đi học vẫn còn có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Nếu biết an trú trong hiện tại, biết nắm lấy hơi thở, thì ta có thể trở về ngay với quê hương của ta. Tại sao trong khi thầy trò đi thiền hành với nhau ta lại không cmar thấy được hạnh phúc cực kỳ mà ta đã cso trong khi đi học trên con đường quê hương. Ta phải có khả năng dừng lại trong giây phút hiện tại để khám phá ra cái sự thật đơn giản là quê hương của ta vẫn còn đó, quê hương đích thực của ta vẫn còn đó. Quê hương đích thực không phải và không thể nào chỉ nằm trong quá khứ. Quê hương đích thực cũng không thể chỉ nằm trong tương lai. Nếu đã là một quê hương đích thực thì nó phải có ngay trong hiện tại nó phải có ngay bây giờ và ở đây. 

Cái gì cấm ta, không cho ta trở về quê hương, trở về với thế giới của hạnh phúc, với thiên đường của ta. Cái gì bắt chúng ta phải than phiền rằng thiên đường của ta đã mất. Cái gì bắt ta phải đi tìm kiếm một thiên đường khác. Cái đó là dục tưởng, là ý niệm về hạnh phúc. 

Quê hương đích thực đã mất đâu. Thầy samiddhi hiện đang có mặt bên cạnh chúng ta. Con sông mà thầy samiddhi tắm, con đường mà thầy samiddhi đi thiền hành cũng vẫn đang có mặt. Bụt cũng đang có mặt bên cạnh chúng ta. Sở dĩ ta chỉ than khóc, chỉ hoài niệm là tại ta đang kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc xa vời. Nếu có khả năng buông bỏ cái ý niệm đó về hạnh phúc thì ta có thể trở về an trú trong hiện tại và bắt đầu khám phá ra được tất cả những yếu tố và điều kiện của hạnh phúc đang nằm ngay bây giờ và ở đây. Ngày xưa sở dĩ ta chơi được với một hòn sỏi với một con bướm, với một dòng suối là vì ta không kẹt về tương lai, không tiếc nuối quá khứ. Sở dĩ ngày xưa ngồi trên bãi cát, ta say mê chơi với cát, tạo ra một lâu đài bằng cát, đem hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến mặt trời đã lặn, không kể đến giờ cơm chiều đã qua, là tại sao? Tại vì lúc đó ta có khả năng an trú trong hiện tại và giờ đây ta đã đánh mất cái khả năng đó. Lỗi tại ai nếu không phải là lỗi của ý niệm về hạnh phúc mà ta đã đưa vào trong đầu của ta. 

vì vậy tưởng là những đối tượng quán chiếu quan trọng. Ta phải chiếu ánh sáng vào dục tưởng, phá cho nó tan tành để ta có thể thực hiện sự trở về với quê hương đích thực. Trở về được thì có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại .

Que ehuowng là chùm khế ngọt. Chùm khế còn đó nhưng bây giờ nó có thể gọi là chùm mận. Quê hương là đường đi học, đường đi học còn đó mà bây giờ nó có thể được gọi là đường thiền hành. Không phải chỉ nằm ở tỉnh đó, trong xã đó nó mới là đường đi học. Nó có thể ở xóm thượng hay xóm hạ. Quê hương là một cơm mưa và trong cơn mưa đó, ta xúm xít lại ăn bắp rang với nhau. Những cái đó là những cái vẫn còn cho ta tiếp xúc. Ta đã mất thiên đường hay chưa? quê hương của ta đã mất hay chưa? Hạnh phúc của ta có thể có được hay không? Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc hay không? Đó là những câu hỏi rất căn bản và cấp thiết. Và câu trả lời là câu trả lời của bụt. Hạnh phúc ấy đang có mặt và hạnh phúc ấy rất lớn. 

Để tiếp nhận được hạnh phúc này ta cần thực tập, và trong khi thực tập ta có anh, có chị, có em, có bạn cùng thực tập với ta. Nếu mọi người đều cùng thực tập, thì sẽ trở thành rất dễ dàng và ta dễ có hạnh phúc. 

Nếu mình biết được bản chất của điều mình gọi là hạnh phúc, thì mính ẽ không bị níu kéo bởi ý niệm sai lầm về hạnh phúc. Khi đã biết được tính cách sai lầm, cái không tưởng của ý niệm thì mình sẽ không bị kẹt vào trong ý niệm ấy nữa, nhờ vậy mà không một người nào, một vị thiên gia nào có thể xúi biểu hoặc lay chuyển được mình tại mình đang an trú trong thực tại của vạn pháp. 

Bản không vô hữu tính , nghĩa là bản tính của chúng ta là vô hữu. Chữ không ở đây có nghĩa là không phải như vậy, không phải như mình tưởng. Chữ khôn gnafy đã có từ lâu. Trong áo nghĩa thư nó có nghĩa là không phải như vậy, khôn gphair như vậy. Ví dụ mình co smootj ý niệm về hạnh phúc và mình cho ý niệm đó là chính xác là đích thực. Người có trí tuệ nhìn vào thì thấy điều đó không phải là hạnh phúc chân thật nên bảo rằng đó khôn gphair là hạnh phúc đâu, không phải đâu. Chữ snyata còn có nghĩa là không của bát nhã. Tuy nhiều nghĩa nhưng một trong những nghĩa căn bản là khôn gphari như vậy không phải như vậy. 

Trong đời sống hàng ngày, phần lớn nhận thức của ta đều sai lầm Tất cả những khổ đau mà ta chịu đựng đều phát xuất từ nhận thức sai lầm của ta. Cho nên phương pháp tu là mỗi khi thấy, nghe, nhận thức điều gì, ta đừng vội quả quyết đó là sự thật. Trong ta có rất nhiều chất liệu mê mờ, cho nên phải cẩn thận lắm mới được. Tôi thường cho các thiền sinh một câu thần chú để bảo vệ thân tâm: mỗi khi có một nhận thức làm cho trong người thấy bực bội thì phải đọc câu thần chú

Are you sure? Mình có chắc là như vậy hay không. 

Cái tưởng tạo nên bóng dáng của hạnh phúc

Tóc mai sợi ngắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm

Nếu lấy nhau được thì ta sẽ không thương nhau đến ngàn năm, đôi khi chỉ thương được có một năm thôi. Chính vì không lấy nhau được nên ta mới thương một ngàn năm. Thương như vậy là thương cái ý niệm về người kia, thương cái hình bóng đẹp mà ta đã tạo ra từ người kia. Còn nếu lấy người kia thì ta bắt buộc phải sống với cái thực tại của người kia. Mà sống với thực tại thì cố nhiên là ý niệm mơ hồ và đẹp tuyệt vời về người kia sẽ dần dần tan biến. Câu ca dao đó là một câu ca dao chỉ nói về chuyện tình mà thôi. Cố nhiên khi một người thương mọt người khác thì bóng dáng của người con trai hay của người con gái kia là bóng dáng tuyệt vời mà ta mơ mộng. Một sợi tóc mai đủ để cột ý chí của một đấng anh hùng. 

Nếu có được nhận thức chính xác đối với danh sắc và thấy được tính cách sai lạc, tính cách không có thật của chúng, thì ta được gọi là những người biết đi theo con đường của bụt dạy, vĩnh viễn xa lìa được những nẻo về tối tăm. 

Quán chiếu về vô ngã sẽ diệt được ba mặc cảm. 

Sau khi bụt đọc bài kệ đó cho vị thiên giả nghe. 

Mặc cảm hơn, kém, bằng

Tạo ra nhiều rối rắm

Ba mạn đã vượt rồi

Tâm không còn khuynh động


Nếu quán chiếu về ngã thành công thì ba cái mạn tức là ba cái mặc cảm đó sẽ tan tành. Giáo lý này sâu sắc lắm, chúng  ta không thể đọc qua mà hiểu ngay được. Nó có liên hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của chúng ta nên rất hữu dụng. 

Cả ba mặc cảm hơn, thua, bằng đều sai lầm vì chúng được tạo nên bằng một chứng kiến sai lầm. Cái thấy sai lầm ấy gọi là ngã chấp. Chữ ngã mạn mà chúng ta thường dùng không có nghĩa là mình hơn người khác. Theo đúng nghĩa của nó thì ngã mạn là bị kẹt vào cái ý niệm về ngã. Vì bị kẹt vào cái ý niệm về ngã cho nên ta mới thấy mình hơn, bằng hoặc thua người kia. Cả ba đều xấu hết, vì mặc cảm tự ti cũng có hại như mặc cảm tự tôn. Cái mặc cảm bằng người cũng có hại, vì trong ý niệm bằng người vẫn còn có sự so sánh, vẫn còn có sự tự hào. Ví dụ mình nói rằng Anh nói tiếng anh được thì tôi cũng nói tiếng anh được. đó là mạn. Như vậy cái bằng cũng được làm bằng chất mạn. nếu không có mặc cảm hơn thua, bằng thì mình la fnguowfi giải thoát. Vấn đề không phải là có bằng cấp hay không, biết tiếng anh hay không, có học xong trường cao cấp phật học hay không. Vấn đề là mình có ngã chấp hay không. Hạnh phúc là ở chỗ đó. Tất cả giáo lý nguy nga của đạo bụt đều được xây dựng trên một giáo lý cơ bản goi là vô ngã, tức là thực tại không có một cái ta riêng biệt. Chúng ta cùng chia sẻ sự sống. Sự sống đó không thể được cắt xén thành ra những vùng riêng biệt. Vì vậy mỗi khi người kia nói một câu làm cho mình buồn, làm một điều khiến mình bực, đó là một cơ hội để ta thực tập vô ngã. Chính nhờ những dịp như vậy ta mới có thể tiến bộ trên con đường tu tập. Nếu chung quanh chúng ta đều là những vị bồ tát thì chúng ta sẽ không thể nào tu được. Cứ tưởng tượng quí vị toàn là bụt và bồ tát, người nào cũng toàn mỹ, chắc quí vị sống không nổi. Vì vậy đừng đi tìm một tăng thân toàn là thánh tăng. phải có người có yếu kém về mặt này, mặt kia, mình mới có dịp so sánh và học hỏi được. Vì vậy tăng thân của chúng ta không cần phải là một tăng thân tuyệt hảo, những yếu kém của tăng thân là những chất lượng rất cần thiết cho việc tu tập của ta. Trong ta có những yếu kém, và trong các phần tử khác của tăng thân cũng có những yếu kém. Nhưng ta cũng như tất cả những phần tử khác đều có cái nguyện là sẽ đi trên con đường chuyển hóa, vì vậy mà chúng ta có cái chất thánh của một trong ba viên ngọc quý: tăng bảo. Một tăng thân trong đó còn có phiền não, lỗi lầm, khuyết điểm thì vẫn là một viên ngọc quý như thường. Ta chấp nhận những yếu kém của bản thân và chấp nhận những yếu kém của những phần tử khác trong tăng thân, đó là chuyện phải làm. Cùng nhau tu học là cùng đi trên một con đường và giúp đỡ lẫn nhau chuyển hóa những yếu kém. Vì vậy khi người kia nói một câu hay làm một việc gì có tính cách phát xuất từ sự vô ý, sự vụng về hay là sự giận hờn, ta phải biết đó là một cơ hội bằng vàng để ta thực tập. còn nếu người kia không bao giờ nói một câu không dễ thương, không bao giờ làm một điều gì không dễ thương, thì chúng ta đâu có cơ hội để tu. Quanh ta, nếu tất cả đều là toàn mỹ thì ta tu sao được. 

Nương tựa hải đảo tự thân

Một hôm có một sư cô trẻ lên than thở với thầy

Quán chiếu về tương quan sẽ dẫn tới cái thấy vô ngã

Các đây mấy tuần, một hôm ra vườn ngồi chơi trên bãi cỏ, có một con bọ xít nhỏ xíu bay bám vào áo mà tôi không hay. Ngồi một lúc, thoán có ý hay tôi vào phòng và ngồi vào bàn để ghi lại kẻo sợ quên. Vừa cầm cây bút lên thì thấy anh chàng bọ xít đang đậu trên vai trái. tôi có cái tập khí la fkhoong ưa bọ xít vì mùi hôi của nó. Do đó, với phản ứng tự nhiên, tôi đua tay lên phủi một cái, và con bọ xít rớt xuống. Lúc đó tập khí mạnh và chánh niệm tới trễ, quí vị có nhớ ngày xưa khi chưa đi tu, hễ biết con muỗi đậu vào má mình thì mình đưa tay đánh một cái bốp liền. Nhưng nhờ tu học nên chuyện đánh cái bốp cho con muỗi chết, mình không làm nữa, mình chỉ đuổi cho nó bay đi thôi. Điều này ta cần thực tập mới làm được. Từ chỗ đánh cái bốp cho con muỗi chết cho đến chỗ mình chỉ xua cho nó bay đi, phải cần một thời gian thực tập tinh chuyên. Tôi cũng vậy. Sau khi phủi con bọ xít rồi, tôi cúi xuống định ghi lại cái tư tưởng vừa có thì tự nhiên chánh niệm tới và nó nói. Trời đất ơi. Con bọ xít nhỏ xíu mà phủi mạnh như vậy thì làm sao nó sống được. Bọ xít cần một mooit rường, một khung cảnh mới có thể sống, bây giờ đem nó vào thư viện, nơi chỉ sách, có nhang và tọa cụ thôi, thì nó ăn gì để sống. Toi muốn đứng dậy đi tìm con bọ xít để đưa nó ra ngoài, nhưng ý nghĩ thứ hai lại đến. Sao mình không ghi xong tư tưởng kia rồi sẽ đi kiếm và đưa nó ra ngoài sau. Tôi cúi xuống ghi chép và bỏ bút đứng dậy đi tìm con bọ xít. Tìm nó gần mười năm phút mà không thấy. Tôi liên tưởng đến người việt đi tị nạn được đưa vào xã hội tây phương mà còn khó sống, huống hồ đằng này người ta đang ở ngoài vườn, có cây, có lá, có đất đai, có hạt sương tươi mát... mà lại đem bỏ vào một onwi chỉ có tọa cụ, kinh sách thì làm sao người ta sống được. Cái hiểu đưa tới cái thương và thôi thúc mình đi tìm. Tôi rất làm lạ là chỉ trong một vùng chừng hai ba  thước vuông, vậy mà lật mọi thứ lên cũng vẫn không tìm thấy. Tôi hơi hối hận là tại sao lúc đó mình không đi tìm ngay mà phải đợi ghi cho xong một câu rồi mới đi tìm. 

Tìm mãi không được tôi thất vọng và hình dung rằng con bọ xít này sẽ từ từ khô đi giống như những con ốc leo tường. nó sẽ khô như vậy, sẽ chết như vậy và tội nghiệp cho nó quá. Tôi tự hứa lần sau sẽ hành động có chánh niệm hơn. Với tâm trạng đó, tôi ngồi tiếp tục làm việc. Chừng nửa giờ sau, nhìn lên tôi thấy chàng bọ xít đã trở về đậu trên vai áo, gần chỗ nó đậu hồi nãy! Sự trở về của con bọ xít làm cho tôi mừng. Tôi có cảm giác vui như vừa tìm lại được một người bnaj cũ và cái buồn cái hối hận đột nhiên biến mất. Tôi cúi xuống lượm một tờ giấy, để con bọ xít lên rồi đi ra vườn đặt nó lên một chiếc lá rất cẩn thận. Trong cuộc sống nhiều lúc ta có những niềm vui đơn giản như vậy. Tôi thấy rất rõ ràng việc làm lúc đó của tôi và niềm vui của tôi trong khi làm việc đó, nếu có một quan sát viên nhìn vào, chắc sẽ buồn cười. Có biết bao nhiêu sinh mạng ở ngoài trời đang chờ chết, mình cứu được một con bọ như thế có nghĩa gì đâu. Sự có mặt của con bọ đối với quan sát viên kia không quan trọng gì hết, nhưng đối với tôi nó quan trọng vô cùng, tại vì tôi biết rằng cái hạnh phúc của mình tùy thuộc vào chỗ mình có lòng tư bi hy không. Một người không có lòng từ bi thì không thể có hạnh phúc. Cho nên tu tập là làm cho lòng từ bi càng ngày càng lớn để hạnh phúc của mình ngày càng lớn lên. Nếu ta có được lòng thương đối với những sinh vật li ti như vậy thì ta cũng có thể có lòng thương đối với những sinh vật lớn hơn, trong đó có sư huynh, sư đệ và học trò của ta. 

Cho nên khi quán chiếu về vô ngã không có nghĩa là ngồi đó để suy nghĩ về vô ngã, mà mình phải sống đời sống hàng ngày một cách có ý thức. Tiếp xúc với con sâu, với hạt lúa, với chén tương, với người bạn tu, với mặt trời... một cách có chánh niệm để thấy sự liên hệ mật thiết giữa tất cả các hiện tượng tức là quán chiếu vô ngã. Thí dụ khi ăn trái mận mình thấy một đám mây trong trái mận. Trái mận không bao goiwof có được nếu không có đám mây, không có mặt trời, không có đại địa, không có người trồng mận, không có anh, không có tôi. Vì vậy mà tôi có trong trái mận, và trái mận có trong tôi. Trái mận cũng đồng thời là mặt trời là đám mây. trái mận bất diệt và tôi cũng bất diệt. Đó là một bài thực tập quán chiếu về tính vô ngã. 

Mình càng quán chiếu như vậy, càng sống có chánh niệm như vậy thì tự nhiên trái tim mình càng ngày càng lớn thêm lên. trái tim ở đây tức là sự thương yêu, là lòng từ, và nhờ vậy mà mình sẽ dung chứa được tất cả mọi người và mọi loài trong đó. Trái tim của em có thể chứa được tôi không? Trái tim của em có thể chứa được người kia không? Có thể chứa được người mà mình nghĩ là khó chịu hay không ? Có thể bao dung được cô Francois Berthot không? Nếu hiểu rằng Francois đã bị người ta giành mất con, đã từng sống một đời sống rất khó khăn, đã lâm vào tình trạng mất trí, thì tự nhiên cái hiểu đó đưa tới cái thương và ta có một chỗ ngồi ấm áp cho Francois trong trái tim ta. 

Thiên đường của tuổi thơ

Mỗi khi trời mưa ta thường có cảm giác êm dịu, mát mẻ và thường nhớ đến những cơn mưa mùa hè ngày xưa. Tuổi thơ nào cũng được đánh dấu bằng những cơn mưa. Khi còn là em bé, ta cởi trần cởi truồng, đùa chơi dưới mưa. Cái thiên đường kia đâu đã mất vì cho đến bây giờ ta vẫn còn có những cơn mưa và vẫn có thể an trú trong thiên đường tuổi thơ đó trong giờ phút hiện tại. 

Quê hương đích thực là quê hương không bao giờ bị đánh mất. Nó không chỉ có mặt trong quá khứ mà còn có mặt bây giờ và trong tương lai nữa. Hồi còn bé, khi được mẹ cho chén cơm với dưa giá thịt kho, hoặc cá kho, ta mang bát cơm với đôi đũa ra ngồi ở bực cửa, vừa ăn vừa nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống. ta cứ đưa mắt lên,  đưa mắt xuống nhìn những giọt nước mưa từ lá rơi xuống do những giọt nước mưa tạo ra và ăn rất ngon lành. Ở tuổi đó, ta không lo lắng cho tương lai không tiếc nuối thơi quá khứ chỉ ngồi đó một mình và ăn rất chậm. Có khi chậm quá mẹ phải gọi. Con ơi. sao ăn một chén ocwm mà lâu quá vậy. Đó alf trường hợp ta ăn một mình. Nếu sanh trong một gia đình có anh chị em, ta có thể ngồi quây quần với nhau để ăn cơm. Chúng ta cũng ngước mắt xuống nhìn những bong bóng phập phồng. Chúng ta đã rất sung sướng vì có em, có chị, có anh cùng ngồi bên cạnh và cùng hưởng cái thiên đường đó của tuổi thơ. 

Khi lớn lên, ta đánh mất cái thiên đường đó, tại vì phải lo cho tương lai, phải nghĩ về quá khứ. Khi đi học ta lo về chuyện thầy giáo hỏi bài, về việc thi cử, về quần áo, về cái lược chải đầu, lo đôi giày cho bóng, lo chúng bạn chê cười. Ta mất đi cái hồn nhiên của tuổi thơ và từ từ ta đánh mất cái thiên đường của tuổi thơ đó. Ta cũng đánh mất cía thiên đường ngây thơ, quây quần ovwis anh chị em trong gia đình. 

Hồi đó, tết đến ta không có nhiều quà, chỉ có một bộ quần áo mới nhưng ta rất mừng và thường nôn nao chờ đón ngày tết. Sáng mồng một mặc áo quần mới vào, đi sột soạt vì vải mới còn dính chất hồ, nghe rất oai. Đến trưa, mẹ cắt cho một khoanh bánh tét, lấy một chiếc đũa cắm ngan, lăn ngang một ít đường cát, đưa cho ta rồi nói con đi ra ngoài chơi. Có thể lúc đó mẹ đang bận công việc, không muốn ta quanh quẩn vướng víu. Vui mừng ta mang khoanh bánh ra sân, vừa nhẩn nha ăn vừa nhìn con mèo, con chó, nhìn bông hoa vạn thọ, nhặt xác pháo giao thừa mà lòng tràn đầy hạnh phúc. Những hạnh phúc đó còn lại trong tàng thức ta dưới dạng những hạt giống hạnh phúc, khiến ta thường có cảm tưởng thiên đường đó đã mất và thường đi tìm

Người Tây phương cũng như người đông phương đều cùng có mtooj cảm nghĩ là quá khứ bao giờ cũng đẹp, quá khứ bằng vàng. Những ngày tháng ngọc ngà ngày xưa bây giờ đã biến mất rồi. Thủa đó đời sống đẹp hơn mặt trời cũng rạng rõ hơn ngày hôm nay, đó là lời bài hát nổi tiếng của pháp. 

Cái cảm nghĩ thiên đường trong quá khứ bao giờ cũng đẹp hơn thực tế hiện tại, thường được nuôi dưỡng bằng những kỷ niệm của tuổi thơ mà ta thường nghĩ bây giwof không còn nữa. T

Thưc tập chánh niệm là để khám phá ra rằng không có gì đã qua và đã mất. Cái hạt giống hạnh phúc kia của thiên đường tuổi thơ vẫn còn trong chúng ta. Nếu biết thực tập nghĩa là biết cày bừa ruộng tâm, biết tưới tẩm và vun bón hạt giống, ta có thể tiếp xúc và làm phát khởi niềm hạnh phúc đó trở lại. Đây là một sự thực rất đáng mừng. 

Ngũ căn và ngũ lực

Đạo bụt có một dụng cụ rất mầu nhiệm để cày bừa, để gieo hạt, để tưới tẩm, để vun bón, gọi là chánh niệm. Chánh niệm là cái năng lượng mà ta có thể phát khởi trong đời sống hàng ngày. Nói chung năng lượng có nhiều thứ: Năng lượng để phá hoại, năng lượng để xây dựng, để thanh lọc. 

Khi bỏ củi vào lò để đốt, ta làm phát xuất một loại năng lượng gọi là nhiệt lượng. Nhiệt lượng đó sưởi ấm căn phòng, giúp cho ta có thêm hạnh phúc. đó là một loại năng lượng mà mùa đông ta rất cần đến. Trong con người cũng vậy, ta cần phải có sức nóng thì mới sống được. Vì vậy ta phải ăn cơm, ăn cơm là đưa những nguyên liệu vào trong cơ thể để các tế bao ftaoj nên một loại năng lượng gọi là thân nhiệt. Khi giận người ta phát ra một loại năng lượng gọi là giận, và cá năng lượng đó cũng làm ta nóng, nhưng nóng khó chịu hơn là cái nóng của lò sưởi mùa đông. Năng lượng giận làm cho cơ thể ta bốc cháy, đau khổ, và ta vung vẫy niễm đau nỗi khổ của ta lên những người và vật chung quanh. 

Nghi ngờ cũng là một loại năng lượng. Khi tưới tẩm hạt giống nghi ngờ trong ta nó phát sinh ra một năng lượng làm ta uể oải, mất hết sức sống, nhìn gì cũng thấy không thấy có ý nghĩa. Năng lượng đó là loai năng lượng tiêu cực, có tính cách phá hoại. Tương tự như thế,  năng lượng giận cũng chứa rất nhiều tiêu cực, và sức phá hoại của nó cũng rất trầm trọng. 

Hiện nay ta có những trưng tâm sản xuất năng lượng để thắp đèn, để chạy máy. 

Đạo bụt dạy về ngũ căn và ngũ lực. Ngũ căn là năm địa điểm để phát sinh ra năm năng lượng. Ngũ lực là năm nguồn năng lượng phát sinh từ năm địa điểm đó. Ngũ căn có thể ví với năm nhà máy phát sinh ra năng lượng. căn tức là gốc

Ba đối tượng để tin  của ta là chân  ( một cái gì là thạt), thiện ( lành), mỹ ( đẹp. Thật có nghĩa là không phải giả, vì đạo đức có khi là giả. Ban đầu ta có thể tin vào đạo đức giả, nhưng sau một thời gian cái thần tượng đó nó đổ, nó rớt xuống và lúc đó niềm tin trong ta tan biến.  Lâm vào tình trạng này là vì ta đã nhận giả làm chân, nhận ác làm thiện, nhận ố làm mỹ. Tất cả vì ta vô minh. Khi niềm tin không được thắp sáng bởi trí tuệ thì nó dễ bị tan vỡ, và từ chỗ tin tưởng, ta có thể lâm vào trạng thái nghi ngờ. Khi năng lượng của nghi ngờ phát sinh trong tâm thức, ta sẽ uể oải, rã rời, hết muốn làm gì nữa. Do đó theo giáo lý đạo bụt, mọi niềm tin phải được làm bằng chất liệu của trí tuệ. tin mà không quán chiếu thì niềm tin đó rất nguy hiểm. Bụt dạy, Tín ta mà không hiểu ta tức là bài báng ta. Do đâu mà có niềm tin. Do cái hiểu, vì vậy nhà máy năng lượng thứ hai trong đạo bụt là nhà máy tuệ. 

Tuệ là cái thấy của hiểu. Năng lượng của niềm tin được chế tạo từ nguồn năng lượng của trí tuệ. Có quán chiếu ta mới thấy rõ được sự thật. Thấy rõ được sự thật thì ta mới có thể xa lìa những cái giả ngụy trang bằng vỏ chân, những điều ác ngụy trang bằng vỏ thiện, và những việc xấu xa ngụy trang bằng vỏ tốt đẹp. Lúc đó niềm tin ta sẽ được goi là chánh tín. Muốn có trí tuệ, tức là muốn có cái thấy sâu sắc, ta phải biế nhìn. Nhìn cho sâu sắc tức là quán chiếu bằng năng lượng của chánh niệm. Vì vậy nhà máy phát sinh năng lượng thứ ba trong đạo bụt là nhà máy niệm. 

Trung tâm tu học là nơi cung cấp vật liệu để tạo ra nhà máy niệm. tại các trung tâm tu học, ta được dạy nhiều phương thức để thiết lập nhà máy chế biến một loại năng lượng tích cực gọi là năng lượng chánh niệm. đây là một thứ năng lượng rất cần thiết để chúng ta có thể nhìn sâu và thấy được sự thật tiềm tàng trong sự sống. Khi biết ăn cơm trong chánh niệm, biết rửa nồi trong chánh niệm, biết đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và thở trong chánh niệm thì tâm của ta hướng về một phía, nó tập trung, không bị tán loạn. trnajg thái đó gọi là định. 

Định là nhà máy năng lượng thứ tư trong đạo bụt. Người không có định thì không làm được gì cả. Muốn giải quyết một vấn đề cho riêng mình hoặc cho đại chúng mà không có định thì không đi tới kết quả nào. Khi soạn một bài giảng hay thực tập quán chiếu để tìm sự thật của một vấn đề, ta phải có định tâm. Vì vậy nhà máy định rất cần thiết, nếu không có nhà máy định thì không bao giờ ta có tuệ cả. Nếu không tập trung thì làm sao thấy được giải pháp, tìm được sự thật. 

Khi có bốn nguồn năn gluowngj kể trên  đời sống của ta là một đời sống tinh chuyên, không uể oải, không bệ rạc. Nếu ta uể oải, rã rời, không có niềm vui, không thiết sống là vì ta không có năn gluowngj tinh chuyên. đó là nhà máy thứ năm trong đạo bụt, nhà máy tấn. Tấn tức là sự siêng năng, sự chuyên cần. 

Năm nahf máy đó goi là năm căn. Căn ở đây là nhà máy phát sinh ra năng lượng. Với năm nhà máy đó, khi chúng bắt đầu hoạt động thì chúng phát sinh ra năm loại năng lượng gọi là năm lực. vì vậy ngũ căn cũng là tín, tấn, niệm, định, tuệ mà ngũ lực cũng là tín tấn, niệm, định tuệ. Căn tức là hình thức của nhà máy, những trang bị của nhà máy. Lực là năng lực phát xuất từ sự vận hành của các nhà máy đó. Ngày xưa khimowis học tôi thường thắc mắc đã có năm căn : tín, tấn, niệm, định, tuệ tại sao phải có năm lực nữa?  lúc đó tôi chưa hiểu năm căn là năm nhà máy và năng lực là năm loại năng lượng do năm nhà máy đó phát xuất và biến ra. 

Nếu trong thân và tâm ta không có đủ năng lực, hoặc nwang lượng yếu ớt, ta phải biết xét tìm trong năm nhà máy đó, xem những bộ phận nào bị hư hỏng để lập trức tìm cách chữa trị. xem xét và chữ trị thường xuyên mới đúng là đời sống tu tập tinh chuyên. 

5 tương tức mầu nhiệm của các chủng tử

nếu năm nhà máy chế tạo năng lượng toàn hảo thì chúng sẽ phát sinh ra năm nguồn năng lượng rất cần thiết cho sự tu tập và chứng ngộ của ta. Bụt dạy tâm ta có hai phần: tàng thức và ý thức. Tàng thức là nơi chứa tất cả hạt giống của năng lượng. ý thức là nơi hạt giống biểu hiện, đơm hoa, kết trái. Có những điều mà khi nhìn vào vùng ý thức ta không thấy , nên ta quả quyết ta không có điều đó. thực ra điều đó có trong tâm ta, nó nằm trong tàng thức dưới dạng những hạt giống, và chưa phát hiện ra mà thôi. Nếu trang bị đầy đủ phương tiện và chăm bón các hạt giống này, chúng ta sẽ phát sinh ra những năng lượng trên vùng ý thức. Ví dụ khi quý vị noisL bây giờ tôi không giận ai hêt.s Điều đó đúng. Bây giờ có ai đỏ mặt tía tai, có ai sân si la mắng ai đâu mà có người giận phải không. Thật ra thì cái giận không chỉ có mặt trên phần ý thức nhưng nó vẫn có mặt ở dưới phần tnagf thức. 

chúng ta ai cũng đều dang có cái giận trong lòng, nhưng nó đang ở trong trạng thái hạt giống và đang ngủ yên trong kho tàng thức của ta. Người tu học phải khôn ngoan, phải biết lợi dụng lúc những hạt giống tiêu cực đang ngủ yên để lo vun bón gieo trồng những hạt giống tích cực. Thiền sinh ru hội kết là một bài thực tập ru ngủ các hạt giống tiêu cực. Nội kết là những niềm đau, nỗi khổ, ở trong lòng ta. Nếu ru cho chúng ngủ thì ta sẽ ranh rang để cày bừa, gieo trồng, tưới tẩm những hạt giống tốt. Đừng nghĩ rwangf khi lấy hết những hạt giống xấu xa rồi thì ta mới có thể tu được. nếu những hạt giống xấu được lấy ra hết rồi thì ta đã là toàn mỹ, và đã là toàn mỹ thì có gì sai đâu mà phải sửa, phải tu nữa. 

Hạt giống của nghi ngờ cũng có trong tất cả chúng ta. nếu ta không tu tập tín, tấn, niệm, định và tuệ thì hạt giống nghi ngờ sẽ phát sinh, nó sẽ bao trùm hết cả con người ta và năng lượng tiêu cực đó sẽ làm tiêu mòn đời ta. Nó sẽ làm cho ta khổ và những người chung quanh ta cũng sẽ khổ theo. Khi một người có niềm tin, tin vào một điều thật lành, thật đẹp thì tự nhiên đôi mắt người đó sáng long lanh và người đó có rất nhiều năng lượng. Người đó sống có định tâm, có chánh niệm và có sự hiểu biết. 

Tu học là cày bừa mảnh đất tàng thức và gieo vào những hạt giống tốt, tưới tẩm và gieo vào đó những hạt giống tốt, tưới tẩm để chúng nảy mầm rồi mọc thành cây trên phần ý thức. Khi mọc, những cây đó sẽ đơm hoa, kết trái rồi trở thành những hạt giống lành cùng loại và rơi xuống mảnh đất tâm. Duy thức học gọi đó là dẫn tự quả, nghĩa là một hạt giống có thể sanh ra nhiều hạt giống có cùng một tính chất. Đây là một trong sáu tính chất của chúng tử. Muốn một hạt giống tốt phát hiện trên phần ý thức, làm đẹp cuộc đời rồi gieo xuống tàng thức những hạt giống tốt cùng lại, ta cần có một điều kiện gọi là đãi chúng duyên. Đãi là đợi, chúng là những, và duyên là điều kiện. đãi chúng duyên là đợi những điều kiện thuận lợi. Hạt giống nào ở dưới tàng thức cũng cần những điều kiện thuận lợi mới phát hiện được trên phần ý thức, kể cả hạt giống chánh niệm. Những điều kiện thuận lợi đó gồm có điều kiện tăng thân, điều kiện thầy, điều kiện thiền đường, điều kiện pháp thoại, điều kiện thực tập. khi ta trang bị đầy đủ những dideuf kiện đó thì hạt giống tốt tiềm tàng dưới tàng thức sẽ có cơ hội để nảy mầm và phát sinh, làm đẹp cho cuộc sống của ta và gieo lại những hạt giống đồng loại vào đất tâm, làm rạng rỡ môi trường sinh sống của ta. Người nào đã học 50 bài tụng duy biểu chắc còn nhớ hai tính chất vừa nói của chúng tử. Bụt thường dạy rằng tất cả chúng sinh đều có phật tánh, tất cả chúng sinh đều có thể trở thành những bậc toàn giác. Kinh Pháp hoa có câu: nhất thiết chúng sinh giai hữu phật tánh, nghĩa là chúng sinh ai cũng có hạt giống bụt ở trong mình. nếu hạt giống đó có đầy đủ điều kiện thì nó sẽ phát triển. Mục đích của tu học là nhận thức trong ta có hạt giống bụt và tìm đủ mọi cách, trang bị đủ điều kiện để cho hạt giống đó phát sinh và nảy nở. Ta có thể gọi hạt giống đó là hạt giống của chánh niệm hay là hạt giống của tuệ giác, hoặc hạt giống của chánh tín. Chúng cùng là một thực tại nhưng tùy trường hợp ta có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau. trong trường hợp này ta gọi là hạt giống niệm vì niệm có chứa định, trong định có chứa tuệ, trong tuệ có chứa tín, trong tín có chứa tấn. Vì vậy niệm là hạt giống của bụt ở trong ta. Ta cũng có thể gọi hạt giống trong ta là định, tuệ, tín hay tấn. Nhưng để cho dễ dàng ta lấy niệm làm biểu tượng cho hạt giống bụt ở dưới tàng thức. 

Bụt là phiên âm của chữ buddha. Danh từ buddha do động từ budh mà ra. budh có nghĩa là thức dậy, hiểu biết, thức tỉnh, giác ngộ. Biết cái gì đang xảy ra, và biết một cách sâu xa thì gọi là Budh. Chánh nnieemj nghĩa là biết cái gì đang xảy ra, thấy được cái gì đang xảy ra. Tùy theo trình độ thấy của mình mà cái thấy đó sâu hay cạn. Nhưng tất cả đều là cái thấy. Bụt là người đã thấy, đã hiểu, đã tỉnh thức hoàn toàn. Mỗi chúng ta đều có khả năng tỉnh thức. Cái khả năng tính có thể thực dậy, có thể trở thành một vị bụt, gọi là phật tánh. Tiếng phạn là buddhata. Phật tánh tức là hạt giống chánh niệm. Ta không thể nói ta không có hạt giống đó. Tại vì chánh niệm trước hết được định nghĩa là ý thức được cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Ví dụ tôi nâng ly lên và tôi biết tôi đang nâng cái ly lên thì lúc đó năng lượng chánh niệm đang có mặt. 

Các hạt giống vô giá trong tàng thức. 

Ta có mặc cảm thấp kém và thường nghĩ rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi, không thể nào thành bụt được. Đó là vì ta không công nhận hạt giống bụt ở trong ta. 

Một trong ba mặc cảm mà kinh samiddhi đề cập tới là mặc cảm tự ti, nói rõ ra là mặc cảm cho rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi. Thật ra trong chúng ta ai cũng đều có hạt giống bụt, tức là có khả năng tính thành phật. Khả năng tính thành phật là danh từ mới, trong quá khứ ta gọi là phật tính. Dầu sống trong thất niệm 24 tiếng mỗi ngày và chánh niệm không bao giờ có mặt trên vùng ý thức, nhưng trong tâm ta lúc nào chánh niệm cũng nằm trong tàng thức dưới dạng một hạt giống. Cái kho tàng ta thường đi kiếm nó nằm ngay trong tâm của ta mà ta không hay. Chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình chỉ là người bần cùng, suốt đời đi cầu xin một chút tình thương, một chút hiểu biết, một chút giác ngộ của bụt, còn chính ta thì không có gì cả. Vì vậy mà bụt nói kinh pháp hoa để giúp ta đánh tan mặc cảm thấp kém đó. Kinh dạy rằng trong tâm ta có đủ kho tàng của giác ngộ, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc, đừng tìm kiếm đâu xa. 

Hỡi người giàu sang bậc nhất

Tha phương cầu thực xưa nay

Hãy thôi làm thân cùng tử

Về đây tiếp nhận gia tài

Ngày xưa có một vị bồ tát vì thấy đượ ccais phật tánh trong mọi người là một sự thật nên ngài phát một hạnh nguyện rất lớn. Ngài thường làm một việc rất bình thường và vì công việc đó mà ngài thường bị người ta la rầy, xưa đuổi nhưng không bao giờ ngài mất niềm tin. Ngài tên là thường bất khinh. Thường bất khinh là nghĩa là tôi không dám khinh ai cả, tai vì tôi biết mỗi người đều có khả nawg tính thành phật. 

Một khả năng tính nữa là khả năng tính hạnh phúc, một khả năng rất quí giá trong đời sống hàng ngày. người có khả năng hạnh phúc thì sống trong điều kiện nào cũng có thể có hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. được sống chung với một người như vậy là ta có phước lắm. Khi lâm vào tình trạng khó khăn, người có khả năng hạnh phúc thường có đủ khả năng tạo ra ánh sáng cùng niềm vui cho mình và cho người xung quanh. Nếu đi vào địa ngục người đó sẽ làm cho địa ngục sáng lên, làm cho tiếng cười vang lên nơi địa ngục. Những người như vậy có thật. Bồ tát địa tạng là một người chuyên đi vào những chỗ tối tăm nhất, khổ đau nhất để làm cho ánh sáng và tiếng cười có mặt ở những nơi đó. Nếu không tu tập phát triển hạt giống của hạnh phúc, không dày công vun xới khả năng tính hạnh phúc trong ta, thì làm sao ta làm được điều đó, làm sao ta đi vào được những nơi tăm tối như vậy để cứu giúp người. Khả năng tính hạnh phúc là một chất liệu tạo nguồn vui cho mọi người. Nếu trong đại chúng có một người mà trong hoàn cảnh nào cũng cười được, vui được và cũng không mất niềm tin, thì đại chúng đó đã được hưởng rồi, huống hồ khi trong đại chúng có được nhiều người như vậy. Thử hỏi ta có phải là một người như vậy hay không. Mới nhìn vào vùng ý thức, ta hơi nghi ngờ cái khả năng của mình. Nhưng như vậy là ta đã mang cái mặc cảm thứ ba, mặc cảm thua kém. Ta phải theo gương bồ tát địa tạng, bồ tát thường bất khinh nhìn sâu vào tàng thức và công nhận các khả năng tính của ta, công nhận ta có thể có hạnh phúc được. Muốn dễ dàng có hạnh phúc, trong đời sống hàng ngày ta phải tu tập và phát triển cái hỷ tính của mình. 

Tất cả đều tùy thuộc vào cách ta tiếp xử với hoàn cảnh. Nếu có khả năng hạnh phúc thì trong điều kiện nào ta cũng có thể tạo dựng được hạnh phúc cho ta và cho những người chung quanh. ngược lại, nếu không tu tập và cứ nghĩ rằng hoàn cảnh này không tạo được niềm vui cho ta, ta phải đi kiếm một hoàn cảnh khác, thì ta luôn luôn lmaf tăng thân cùng tử làm thân của một cô hồn lang thang. 

Vậy thì hoàn cảnh nào là hoàn cảnh lý tưởng của ta. Thật ra thay vì thắc mắc như vậy, ta phải tự hỏi: ta có khả năng có hạnh phúc hay không. nếu có thì trong hoàn cảnh nào ta cũng tạo được hạnh phúc cả. Sống tại đây ta cũng thấy vui, ở úc hay mỹ cũng vậy, mà ở vn ta cũng tìm được hạnh phúc như thường. sống ở đâu ta cũng có hạnh phúc, đó là hờ trong khi tu tập ta cắm rễ được trong giây phút hiện tại, và lấy tất cả những điều kiện trong giây phút hiện tại làm nền tảng cho sự sống, cho niềm vui của ta. Trời nắng ta vui, trời mưa ta cũng thấy hạnh phúc. trời mưa là một trong những yếu tố không thể thiếu trên quê hương đích thực của tôi. Nếu sanh qua nước bụt A Di đà ma fkhoong có trời mưa thì tôi sẽ thấy thiếu thốn vô cùng, tôi sẽ thấy rằng cõi tịnh độ của ngài chưa được toàn hảo và thế nào tôi cũng năn nỉ bụt cho mưa mỗi ngày một lần, cho nắng mỗi ngày một lần, cho cõi bụt có cây chanh, cây khế, cây mận, cây trúc, cây đào. 

Tuy nhiên, mình đâu cần phải đi đâu, đâu cần du lịch về tương lai hay quá khứ mới có những điều đó. Những cái thuộc về quê hương đích thực của ta nó đang có mặt ngay ở đây và trong giờ phút này, chỉ vì ta không có khả năng tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc, chỉ vì ta đang làm thân cùng tử, đang làm người hành khất, chỉ vì ta khoonng có khả năng an trú trong hiện tại cho nên ta chưa thấy thỏa mái đó thôi. 

Bốn lãnh vực của chánh niệm

Niệm có nhiều nghĩa, nghĩa đầu tiên là nhớ lại.  phần trên của chữ niệm là chữ kim có nghĩa là bây giờ, phần dưới có chữ tâm, tức tâm của ta. Vậy trước hết niệm có nghĩa là cái tâm của ta ngay trong lúc này. Một điều gì ta đã quên, bây giờ nó trở về trong giây phút hiện tại thì goi là hớ. Ức niệm. Nói về nhớ, ta có nhiều thứ và nhiều cách để nhwos. Chẳng hạn ta nhớ những việc đã qua nhứ nhớ đến những khổ đau, những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ, và trong khi nhớ ta có thể đánh mất mình, có thể chìm đắm trong những kỷ niệm khổ đau, hay hạnh phúc trong quá khứ. Cái đó cũng là niệm nhưng hoài niệm. trong giáo pháp bụt dạy, những sự nhớ nghĩ như vậy là tà niệm, vì ta tự đánh mất mình trong lúc nhớ, nên nó không phải là chánh niệm. 

Khi nghĩ tới tương lai, ta lo lắng, thao thức, chìm đắm trong tương lai thì điều đó cũng là một loại niệm, nhưng nó được gọi là vọng niệm. 

Ngay cả trong hiện tại nếu ta bị lôi cuốn bởi những hình sắc, những âm thanh, tâm ta không tự chủ được, không an trú được trong cái thấy chân thật về thực tại, thì tuy thuộc hiện tại, nhưng nó cũng không phải là chánh niệm. Ví dụ khi ăn bánh hay cà rem, ta có hạnh phúc trong khi ăn. Nhưng nếu quên rằng ăn những thứ đó nhiều quá, sẽ nguy hại cho thân và tâm của ta, thì tuy đang sống trong hiện tại, nhưng ta đang không sống trong chánh niệm mà đang sống trong thất niệm. Cho nên không phải khi tiếp xúc được với những gì trong hiện tại thì gọi là chánh niệm. Tiếp xúc mà bị lôi cuốn bởi những cái trong hiện tại thì đó gọi là tà niệm. Bởi chánh niệm cho ta thấy rằng ăn cà rem nhiều như vậy thì nguy quá. Ăn nửa ly hay một ly đều biết rằng ăn nửa ly hay một ly thì không đến nỗi nào tức là lúc đó ta có thực tập quán ăn uống chừng mực. Nhưng ăn tới ly thứ hai mà vẫn không có sự soi sáng, thì rõ ràng ta đang bị cà rem nó kéo đi. Như vậy tuy gọi đang sống trong hiện tại nhưng kỳ thực ta đang bị hiện tại kéo đi, ta không có tự chủ. Điều đó gọi là thất niệm. Thất niệm là đánh mất chánh niệm. Chánh niệm là không bị lôi cuốn và chìm đắm trong quá khứ, không bị lôi cuốn và chìm đắm trong tương lai, cũng như không bị lôi cuốn và chím đắm trong hiện tại. Sống mà có sự tỉnh thức thì mới gọi là sống trong chánh niệm. 

Chánh niệm có bốn lãnh vực: lãnh vực của thân, của thọ, của tâm và của pháp. 

1. Khi biết những gì đã xảy ra trong cơ thể của ta, ví dụ khi ta ngồi, ta biết ta ngồi, khi cúi xuống, biết ta cúi xuống, khi đi biết ta đi, khi đau bụng biết ta đau bụng, gan yếu, biết gan ta yếu, thì những cái thấy và biết đó được gọi là thân niệm. Quán chiếu về cơ thể và vệ sự vận hành sinh lý của cơ thể thì gọi là thân hành niệm. Kinh thân hành niem dạy rất rõ về những phép quán chiếu này. 

2. Khi nhận diện được những cảm thọ của ta như vui, buồn, dễ chịu, khó chịu, hay không vui buồn, không dễ chịu, không khó chịu thì gọi là thọ niệm. Thọ là một trong 51taam hành của ta. trong tàng thứ ta có 51 hạt giống gọi là 51 tâm hành. Trong đó niệm là một, thất niệm là hai, thọ là ba, tưởng là bốn, xúc là năm và thọ thọ được liệt kê riêng ra như một đối tượng đặc biệt của chánh niệm vì thọ là một tâm hành rất quan tọng

3. Còn 50 loại tâm hành khác được liệt kê vào phạm trù thứ ba gọi là tâm. còn gọi là tâm hành. Khi buồn, khi vui, mà ta biết ta đang buồn, đang vui thì cái biết đó gọi là tâm niệm. Quán chiếu về tâm tư và về sự vận hành tâm là gọi là tâm hành niệm. 

4. Lĩnh vực thứ tư là pháp, tức là những đối tượng của tâm hành. Có tất cả là 51 tâm hành. Mỗi tâm hành đều có đối tượng riêng của nó, nghĩa là ta cũng có 51 pháp. Ví dụ giận là một tâm pháp, 

ta phải nắm rõ kiến thức nà. Để dễ hiểu ta hình dung hình vẽ một trái quít có 5 múi. trái quít này đem ví với năm yếu tố làm ra con người ( năm uẩn)(. múi đầu là sắc, nghĩa là thân ta, múi thứ hai là thọ, tức là cảm thọ của ta, múi thứ ba là tưởng ( tri giác cũng là 1 trong 51 tâm hành) múi thứ tư là tâm hành, 

Thọ tưởng và hành thường xuất hiện trong phòng khách.. khi ta buồn vui thương ghét nhớ quên... thì tấ cả những tâm hành đó phát hiện trên ý thức. khi không có mặt trong phòng khách, chúng nằm nghỉ ở tàng thức dưới dạng hạt giống. vì vậy đây có nghĩa là tàng thức và thọ tưởng hành là nội dung của ý thức. 

Một trong những phouwng pháp để tránh khó khăn là ta nên tỉnh táo để mời thêm một người bạn biết tiếp khách, người bạn chánh niệm tới để soi sáng, vỗ bề và chăm sóc người bạn kia. Cũng như khi đứa con khóc thì bà mẹ dù đang ở dưới bếp cũng chạy lên ẵm lấy con. Vì vậy mỗi khi ta buồn chán, giận ghét ta phải mời người bnaj chánh niệm lên để ôm lấy cái buồn cái giạn, cái ghét, cái chán đó mà an ủi chuyển hóa chúng. Tu tập nghĩa là luôn mời chánh niệm lên để ý thức được ai đang ở trong phòng khách và phải tiếp xử như thế nào để cho cái phòng khách của ta nó đẹp, nó vui hầu ta luôn luôn có hạnh phúc. 

Bốn ý nghĩa của niệm. 

Niệm là một trong 51 tâm hành và được gọi là tâm sở niệm. tâm sơ rniemej có thể là niệm. 

Kể đến niệm còn có nghĩa là chánh niệm, nó tương đương với đức bụt tiềm tại trong ta. đây chính là phật tánh ở trong ta, và là một trong năm lực

nghĩa thứ ba của niệm là khoảng thời gian ngắn nhất, như sát na. Ví dụ trong văn cảnh sách qui sơn có câu. 

niệm niệm tấn tốc, nghĩa là sát na này nói theo sát na kia, thời gian đi qua rất mau. 

Chuyển tức tức thị lai sainh, thay một hơi thở là đã đi sang đời mới rồi. 

Hà nại yến diên không quá, vì vậy không nên chần chờ để cho thời gian trôi qua. 

Trong mỗi niệm có thể có những cảm thọ, nhiều tri giác. Thành ra niệm còn có nghĩa là khoảng thời gian chứa đựng nhwungx cảm thọ những tri giác. 

Thứ tư, niệm còn có nghĩa là tà niệm. tà niệm tức là tri giác sai lầm. Nghĩa này mới phát sanh, không phải có từ thời bụt còn tại thế. Vào đời đường, trong khi thiền tông rất huwgn thịnh, có hai thầy tên là vô tướng và vô trú. Thầy vô tướng ở chùa tịnh chúng. 

Vốn liếng của người tu là cái năng lương của chánh niệm, một nguồn năng lượng giúp ta có mặt, tỉnh táo để thấy được cái gì đang xảy ra để giữ được sự tự do của ta và không bị cái đang xảy ra cuốn theo. Vì vậy phương pháp tu tập chánh niệm là phương pháp an toàn và cụ thể nhât.s 

Ba loại năng lượng của chánh niệm. 

Trước hết, năng lượng của chánh niệm giúp cho ta có mặt đích thực bây giờ và ở đây, nhờ vậy mà ta có thể trở về với quê hương của mình được. Chánh niệm tức là phương tiện chuyên chở, giúp ta trở về quê hương của mình. Đã về, đã tới và về được , tới được là nhờ chánh niệm. Năng lượng thứ hai của chánh niệm là công nhận sự có mặt của đối tượng. Nếu không có mặt thì làm sao ta công nhận sự có mặt của kẻ kia được. phải có mặt trước thì ta mới nói được rằng tôi biết anh đang ngồi đó. thở vòa, tôi biết là tôi có mạt ở đây, thở ra tôi biết là anh đang ngồi đó, trước mặt tôi. nội một hơi thở như vậy thôi đã có thể đem lại cái khả năng tỉnh thức, hiểu biết, thương yêu rồi. Mà thương yêu là gì? thương yêu là công nhận sự có mặt của con sâu, tờ lá, mặt trăng, cây khế, hay của bà mẹ, người anh, người chị. 

Nếu không có mặt thì làm sao ta bước được bước thứ hai là công nhận sự có mặt của kẻ kia. cho nên khi nhìn lên mặt trăng rằm mà nhìn bằng con mắt có năng lượng của chánh niệm thì mình thấy được mặt trăng tròn, sáng và mát. Mà sở dĩ mặt trăng có mặt một cách hiện thực, rõ ràng, tươi mát, là tại vì ta có mặt. Ngược lại nếu ta đánh mất ta trong sự lo nghĩ, giận hờn thì làm sao mặt trăng đó tươi mát được. Có mặt đích thực mới thấy được ngôi sao mai, và mới nói được với thị giả. này con , con có thấy ngôi sao mai không. người học trò của mình có mặt và ngôi sao trên trời cũng có mặt, là nhờ mình có mặt. cho nên khi ta vun bón hạt giống chánh niệm, thì hạt giống chánh niệm tạo ra một nguồn năng lượng để giúp ta có mặt đích thực. 

Hai bước của thiền tập

Thiền tập có hai bước, bước đầu là chỉ, bước thứu hai là quán. Chỉ tức là dừng lại và tập trung vào một đối tượng. Quán là dưa mắt nhìn xâu vào để thấy rõ như nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ em, nhìn kỹ cây hoa đào, nhìn kỹ mặt trăng, nhìn kỹ con sâu, nhìn kỹ lá gan của mình. Nhìn kỹ trong bốn phạm vi thân , thọ, tâm pháp, gọi là tứ niệm xứ. Khi nhìn kỹ như vậy thì ta mới thấy và mới hiểu. Cái hiểu, cái thấy đó cởi trói giúp cho ta giải thoát và chuyển hóa. Những bước thiền tập đó sẽ dẫn đến tuệ. 

Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa

Vườn tâm tuệ giác nở trăm hoa. 

Thành ra những từ giác, trí, tuệ có thể dịch bằng danh từ đơn giản như là thiểu và thấy. 

Con người khổ đau là tại vì cái tà niệm, cái vọng niệm, cái tri giác sai lầm của mình. Khi nhìn sâu, quán chiếu để làm tan những vọng niệm, những sai lầm của tri giác, thì ta có tuệ, nghĩa là giải thoát được những khổ đau của ta. Ta giận hờn, ghen tuông và khổ đau là vì ta bị trói buộc bởi những tri giác sai lầm của chính ta. Do công phu quán chiếu, nhìn sâu thì ta hiểu, ta thấy và ta được cởi trói, cho nên ta chuyển hóa được và có hạnh púc. Tất cả những công trình đó thực hiện được là nhờ một loại năng lượng gọi là chánh niệm. NGoài công việc thực tập hơi thở chánh niệm, thực tập, đi đứng nằm ngồi làm việc trong chánh niệm, thực tập ăn cơm có chánh niệm, uống trà có chánh niệm, thì ta đâu còn cơ hội nào để sản xuất được thứ năng lượng quí giá gọi là chánh niệm đó. Cho nên công phu thực tập hàng ngày rất quan tọng. Có thể ta cũng đi thiền hành với mọi người, cũng ăn cơm yên lặng, ngồi thiền, rửa bát, chùi phòng tắm, cầu tiêu với mọi người, nhưng nếu trong khi người khác làm công việc đó mà phát ra tinh lực chánh niệm tràn đầy, còn ta chỉ làm hình thức thôi thì đó là một điều rất uổng phí. Đi thiền hành nửa giờ có thể làm lưu xuất không biết bao nhiêu là tinh lực của chánh niệm để nuôi dưỡng, soi sáng và chuyển hóa. Nếu chỉ đi cho có hình thức, đi là vì người khác đi, thì rất uổng. Cũng như cùng đi qua một rừng trầm hương châu báu, có người thu thập được rất nhiều châu báu, trong khi ta lại về tay không. Vì vậy khi vòa tu viện, chúng ta nên học ngay những bài thi kệ nhật dụng. 

Diệt tam mạn là giải thoát tử sinh. 

Kiến đắng, thắng, liệt giả nghĩa là có kẻ bằng mình, hơn mình, thua mình, giả ở đây là kẻ, là người tắc hữu ngôn luận sinh thì phát sinh những tranh luận. Nên biết rằng chữ ngôn luận ở đay không phải chỉ là lời nói, mà tư lượng ở trong tâm của ta cũng là một thứ ngôn luận. Tâm ta có sự kỳ thị, sự ganh tị, sự cao ngạo, sự chê bài tất cả những cái đó đều là ngôn luận.  Tam sự bất khuynh động sự là cái việc, ở đây tạm sự là ba mặc cảm. Nếu ta không bị lay động bởi ba mặc cảm, ba tư tưởng đó, Tắc vô nhuyến trung thượng, thì ta không còn cái ý niệm kém người, bằng người hay hơn người nữa. Chữ nhuyến cũng có nghĩa là mềm. Đọc là nhuyến nhưng nghĩa của nó cũng như chữ nhuyễn. Nhuyễn có nghĩa là yếu ớt, mềm yếu, hèn nhát, vô dụng. 

Thắng mạn, tức là mặc cảm hơn người, đẳng mạn là mặc cảm bằng người. cập bất như mạn là mặc cảm không bằng người. tinh có nghĩa là và, cập có nghĩa là và, nó còn có nghĩa là với tới, theo kịp, theo bằng. Chúng ta hay nói khi thái quá, khi bất cập. Thái quá tức là đi quá đà, bất cập là chưa tới bằng. Cập bất như tức là chưa bằng người, nghĩa là cái mặc cảm không bằng người thua người. Hữu thử tam mạn giả là ba cái mạn này thử nghĩa là này. Thị khả hữu tranh luận nghĩa là cái đó có thể tạo nên sự tranh luận. Tranh luận bên ngoài * lời nói, hành động và tranh luận bên trong ( tư tưởng, cảm nghĩ). 

Từ ba cái mặc cảm này phát sinh ra nhiều tai nạn: giận hờn, ganh ghét, ghen tuông, tủi hổ... chỉ cần tủi thân thôi cũng có thể đưa đến chán đời tự tử rồi. 

Diệt trừ thử tam mạn nghĩa là diệt trừ ba ái mạn này rồi. Thị danh bất động tưởng tưởng tức là tri giác, nghĩa là đạt tới cái tri giác gọi là bất động, tức là không bị những mặc cảm, những giận hờn, tủi hổ và chán đời làm cho mình khuynh động, ngã nghiêng. Mình đứng vững như một gốc đại thụ. Bất động có nghĩa là vững chãi và thảnh thơi. Bất động la fmootj trong những thuộc tính của Niết Bàn. 

So sánh hai bản dịch ta thấy bản dịch của tạp a hàm, ngắn hơn, chỉ có bốn câu, nhưng bản dịch của biệt dịch tạp a hàm dễ hiểu hơn. Bên tạp a hàm, hàng đầu liệt kê cả ba thứ mặc cảm: kiến đẳng, thắng, liệt giả. Mỗi thứ chỉ dùng mọt chữ thôi: đẳng, thắng, liệt. Cố nhiên là nó đầy đủ ý nghĩa, nhưng bên biệt dịch tạp A hàm nêu rõ từng mặc cảm bằng nhiều chữ. thắng mạn, cập đẳng mạn, tinh cập bất như mạn, cho nên rõ ràng hơn. Tôi dịch bài kệ trong biệt dịch tạp a hàm. 

Mặc cảm ta hơn người

kém người hoặc bằng người

kẹt trong ba tưởng ấy

là vướng vòng tranh chấp

diệt trừ được cả ba

là đạt tới bất động

Cố nhiên hạnh phúc sẽ không có được nếu ta còn kẹt vòa trong vòng tranh chấp. Chữ tranh chấp hay hơn chữ tranh luận. Tại vì tranh chấp có thể bằng ngôn ngữ, bằng tư tưởng, mà cũng có thể bằng hành động, còn tranh luận thì ta có thể hiểu nó chỉ thuộc phạm vi ngôn từ mà thôi. 

Trong những bìa kệ này, ta thấy đức thế tôn chỉ giáo hóa trong phạm vi hạnh phúc, tại vì kinh tam di đề là một kinh nói về hạnh phúc chân thật. Khởi đầu đức thế tôn nói về nhận thức sai lầm, ý niệm sai lầm của ta về hạnh phúc. ngài nói rằng vì chưa biết được bản chất của những đối tượng tham dục, nên ta mới nhận lầm đó là hạnh phúc đích thực. Nếu quán chiếu và thấy được bản chất đích thực của chúng, thì sẽ thấy rằng đó chỉ là những tư tưởng kéo ta đi vào những nẻo đường tăm tối, luân hồi, khổ đau mà thôi. Thấy được như vậy thì không có cái vọng tưởng nào, không có một vị thiên giả nào có thể lôi kéo ta đi theo cái ý niệm hạnh phúc giả tạo được. Sau đó, Đức thế tôn dạy rằng vượt được những mặc cảm hơn người, bằng người thua người, thì những pheiefn não như ganh tị, giận hờn, sẽ tan biến, và lúc đo smowis có hạnh phúc thực sự. 

Bảy loại mạn

Chúng ta thấy ý niệm hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân rất đúng. Cá nhân tức là có một cái ngã, có một cái thực tại riêng biệt. Nếu mình đi tìm hạnh phúc cho cái ngã riêng biệt đó, thì không bao giờ có thể tìm được. Sự an lạc của những người chung quanh phải là sự an lạc của mình thì sự an lạc đó mới là an lạc thực sự. Sự sống là một, không thể chia năm xẻ bảy ra thành từng mảnh vụn, để từng mảnh điểm tìm hạnh phúc riêng. Muốn rõ hơn ta phải đi sâu vào giáo lý bụt dạy về mạn. Ta thấy có ý niệm về bảy mặc cảm đó vì khi dùng danh từ phật học mà không biết rõ ý nghĩa đích thực của danh từ thì ta dùng sai. Ví dụ khi nói rằng: anh chàng đó ngã mạn quá, ta có ý nói rằng anh tđó tự cho mình là hơn người. Thật ra cái chữ ngã mạn nó không chỉ có nghĩa cho mình hơn người mà thôi. Cho mình thua người cũng là ngã mạn, mà cho mình bằng người cũng là ngã mạn. 

Thứ nhất là mạn. Đối với người mà địa vị, gia tài, danh tiếng hay học thức thua mình mà mình có ý tưởng rằng người đó thua mình, người đó học dở hơn mình, người đó thuộc về hàng quí phái bằng mình, người đó không văn minh bằng mình, người đó tu học chậm, mình  thu thập giỏi hơn, mình thực tập lâu ngày hơn, mình thông minh hơn, mình biết nhiều ngoại ngữ hơn... cái dó là mạn. Điều này chúng ta kẻ ít người nhiều ai cũng đều bị kẹt vào cả. Cái tư tưởng đó nó phát xuất từ cái ý niệm mình với người kia là hai người khác nhau. Khi mình thấy người đó là người anh em, người chị em cùng sống với nhau, cùng thực tập trong một tăng thân thì tự nhiên mình thấy người đó là mình mình là người đó. Những cái yếu của người đó, mình có trách nhiệm, và những ccais gì mình đã đạt tới, mình có bổ n phận phải trao quyền, phải giúp đỡ người đó để cho hai người là một, cùng đi trên một con đường, thì lúc đo sminhf mới thoát được cái mạn thứ nhất. 

Thứ hai là quá mạn. quá mạn có nghia xlaf đối với những người tương đương với mình, học cũng tương đương, tu tập cũng tương đương, bên tám lạng, bên nửa cân mà mình lại cho mình hơn người đó. Điều này nó cũng phát sinh từ sự phân biệt giữa mình và người la fhai thwujc thể khác nhau. chúng ta là một không ai hơn ai, không ai bằng ai, không ai thua ai.

Mạn thứ ba là mạn quá mạn. đối với những người có đức độ hơn mình, tu học hơn mình có tài năng hơn mình, có trí tuệ hơn mình mà mình lại cho mình hơn người đó thì gọi là mạn quá mạn. 

mạn thứ thư là ngã mạn. đây là mạn gốc bởi nói làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. chúng ta nhận lầm những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức là một cái ngã biệt lập với những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức khác. chúng ta thowngf bị kẹt trong ba ý niệm. ý niệm về ngã, ý niệm về ngã sở, và ý niệm về tương tại. Ví dụ sắc là một trong năm uẩn

- khi ta nói thân thể này là tôi. tôi đã bị kẹt vào ý niệm về ngã

khi ta nói thân này không phải là tôi, nhưng nó thuộc về tôi tức là ta bị kẹt vào ý niệm dị ngã hay ngã sở

trường hợp thứ ba, khi ta nói thân này và tôi là cái khác nhau nhưng trong thân có tôi và trong tôi có thân, tức là ta bị kẹt vào ý ý niệm tương tại

Cả ba ý niệm đều thuộc về ngã mạn. K

Tăng thượng mãn : chưa đạt được sự chứng đắc mà mình tuyên bố rằng mình đã có sự chứng đắc

Ty mạn. 

Phải thôi hy vọng mới có hạnh phúc chân thực. 

Tuyệt hi vọng, tuyệt có nghĩa là chấm dứt, hi vọng là sự chạy theo, sự tìm cầu, Ta nên biết rằng đây là văn xưa, ngày nay ta dịch là nguyện. vô nguyện là một trong thoát môn. vô nguyện hay vô tác. Hai giải thoát môn kia là không và vô hướng. Vô nguyện tức là không đặt mình trước một đối tượng của sự tìm bắt, dầu đối tượng đó là bằng cấp, là mỹ nhân hay là danh hoặc lợi. Không chạy theo tiếng phạn là apranihita, nghĩa là không đặt mình trước một đối tượng để chạy theo. Chừng nào mình không chạy theo một điều gì nữa hết, thì chừng đó mình mới thực sự có hạnh phúc. Chừng nào mình còn chạy theo một cái gì thì chừng đó mình còn nói rằng ta chưa có hạnh phúc, những điều kiện có trong hiện tại không đủ để ta có hạnh phúc nên ta phải đi tìm. Hạnh phúc đích thực là khi ta không còn chạy tìm nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tất cả những điều kiện sẵn có của hạnh phúc tôi đã có ở đây và bây giờ. Chỉ khi nào đạt tới cái nhận thức như vậy thì mới có hạnh phúc thật sự. 

Trong đạo cơ đốc, giáo lý về hy vọng đóng một địa vi quan tọng. Hy vọng một niềm hạnh phúc trong tương lai, cho nên người ta có nghị lực để chịu đựng cái khổ đau ở hiện tại. Ráng lên, ráng lên. Ngày mai, ngày mốt mình sẽ hết khổ mình sẽ về nước chúa. Như vậy điều căn bản của giáo lý đó là công nhận hiện tại chỉ là khổ đua, cho nên đi ngược lại với giáo lý đạo bụt. Hạnh phúc có thể tìm được trong hiện tại. Đây là đặ cthuf của đạo bụt. các tôn giác khác thường treo cái hy vọng được cứu chuộc trong tương lai. trong khi đạo bụt dạy ta phải chấm dứt cái đó, phải trở về khai thác mảnh đất hiện tại cho thật sâu sắc. Ly kết tuyệt hy vọng. danh từ rất mạnh lối dùng chữ rất hùng vĩ. 

Làm được những điều đó thì bất kiến ư nhân thiên, không thấy mình trôi nổi, vào ra, bập bềnh trong cõi nhân và cõi thiên. Thử thế cập tha thế, đời này và cả trong tương lai mình không còn là con người đi lang thang luân hồi nữa. 

Không phải trong cõi người ta mới bị hệ lụy, mà trong cõi trời ta cũng bị hệ lụy luôn. Hệ lụy là vì sao? Vì sự chạy tìm của ta, vì nhưng xphieenf não như sân hận, ganh tị, thèm khát, giận hờn trong con người của ta. Những cái đó được chuyển hóa là nhờ ở sự thực tập diệt trừ những ý niệm, vọng tưởng sai lầm về hạnh phúc, về thực tại, vượt được những ý niệm về ngã, giải thoát khỏi những sợi dây ràng buộc thì tự nhiên ta đạt tới giải thoát và không còn thấy mình quanh quẩn, luân hồi, khổ đau trong cõi người và cõi trời nữa. 

Bước sang bài kệ trong biệt dịch tạp A Hàm, đoạn ái cập dnah sắc, diệt trừ tam chủng mạn nghĩa là đoạn trừ ysn iệm về ái và về danh sắc, diệt trừ ba loại ngã mạn. Bất xúc ư chư dục là không tìm tới những đối tượng mà ta gọi lầm là hạnh phúc. Diệt trừ những tâm niệm phiền não trong lòng như sân nhuế. Bạt trừ chư độc căn, Bạt tức là nhổ lên, trừ diệt tận gốc. Chư độc căn là những cái gốc làm độc ở trong con người ta. Những độc căn đó là tham, sân, si, ganh tị, tranh đua. Bạt trừ chư độc căn, tức là nhổ trừ cho sạch những gốc rễ của các chất độc ở trong con người của ta. Chư tưởng nguyện dục tận là những cái vọng tưởng, những cái hy cầu, những cái tham dục đã chấm dứt rồi. Nhược năng như thị giả, nếu có thể làm được như vậy, thì đắc độ sinh tử hải. Nghĩa là có thể vượt qua được biển sinh tử. Đắc độ sinh tử hải nó hay hơn. Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế. Bất kiến ư nhân thiên thử thế cập tha thế la fmoojt hình tượng được lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều kinh kahcs. Vượt thoát biển sanh tử thì ta có mặt rong cõi nhân và cõi thiên cũng không sao, chứ không phải ra khỏi cõi nhân cõi thiên mới là vượt thoát sinh tử. Bụt và các vị bồ tát cũng đã và đang có mặt trong cõi Nhân và cõi Thiên. Như vậy bài kệ này có mục đích khai triển những điều bụt đã nói trong hai bài kệ trước. Không có gì mới, nhờ vậy mà lần này vị thiên giả hiểu được . Nghe pháp thoại cũng vậy, đề tài nghe rồi nhưng nghe nữa, rồi nghe nữa, thì có lúc sẽ thấm. 

Hạnh phúc và khổ đau có tính chất tương tức

Theo cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là những điều không phải là khổ đau. Hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận của tâm tư ta. Nhưng theo ngueyen tắc tương tức của bụt dạy thì hạnh phúc à khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. 

Hạnh phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc. và hạnh phúc cũng vô thường nên có thể trở thành khổ đau. đó là cái nhìn tương tức trong đạo bụt mà chúng ta phải nhớ. Vì vậy ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh phúc và khổ đau làm hai thực thể riêng biệt, là chúng ta đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. 

Như vậy nếu đã từng khổ đau thì với những chất liệu khổ đau trong người, ta có thể tu tập để biến chúng thành chất liệu hạnh phúc nhưng năng lượng tích cực của cuộc sống. Còn nếu hiện tại đang có hạnh phúc mà ta không biết bảo trì, ta dẫm lên hạnh phúc mà đi trong đời sống hàng ngày, thì nó sẽ biến thành khổ đau. Vì vậy cho nên ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức, cái này chứa cái kia. Tính cách tương tức này thể hiện trong mọi ý niệm, mọi thực tại của cuộc sống hàng ngày. 

Trong kinh samiddhi Bụt có nói tới ngũ dục tức là năm ý niệm về hạnh phúc như là phải có thật nhiều tiền, phải có danh vọng cao.. Nhiều người trong chúng ta bị kẹt vào những ý niệm đó. Làm sao để có cái này, làm sao để có cái kia, nếu không có cái này cái kia thì hạnh phúc không thể có được. Hầu hết chúng ta đều chạy theo những đối tượng như vậy. Chúng chỉ là bóng dáng củ hạnh phúc, là ý niệm về hạnh phúc ma fkhoong phải là hạnh phúc chân thật. Ý niệm đó có thể là danh , lợi, tài, sắc. Ý niệm đó có thể là môt thiên đường hay một đời sống sung túc giàu có. Tất cả những ý niệm đó Bụt gọi là những cái bẫy sập. 

Hành trì giới luật sẽ không vướng vào bẫy sập. 

Trong bài giảng của khóa tu mùa hè năm nay tôi có nói rằng nếu quí vị cảm thấy cô đơn thì có thể sự cô đơn đó phat sính từ nguyên nhân quí vị không hành trì năm giới. Tôi đã đưa ví dụ giới thứ ba là giới tà dâm. Ban đầu mình cô đơn và nghĩ rằng có liên hệ với người khác phái sẽ igups mình ấm áp, bớt cô đơn. Rồi từ đó đi đến chuyện chung đụng thân xác. Nhưng ai ngờ những kinh nghiệm chung đụng xác thân đó, niềm cô đơn của mình lại lớn lên gấp bội. Đó là vì khi không có sự đối thoại và thông cảm giữa hai tâm hồn mà lại có sự giao tiếp giữa hai thân xác, thì sự giao tiếp này sẽ đào thêm cái hố ngăn cách và tạo thêm nỗi cô đơn. Sau đó hai tuần, tôi nhận được bức thư của một thiếu phụ người Tây Phương nói rằng. Bạch thầy, điều thầy nói không có gì đúng hơn nữa, con đã đi qua kinh nghiệm đó. Có một lúc con cảm thấy cô đơn, con đi tìm sự ấp ủ, sự ấm áp, con khám phá ra rằng càng ngày niềm cô đơn của con càng lớn. Sự xa cách của con với loài người với xã hội càng ngày càng lớn là tại vì con đã đi lầm đường. 

Đó mới chỉ là một trong năm giới. Bốn giới kia cũng vậy. Khi không hành trì các giới, ta dễ bị sập vào bẫy ái dục, bẫy danh lợi, bẫy ý niệm về hạnh phúc, và ta sẽ khổ đau nhiều. Nếu có hành trì, năm giới ta mới biết cách phá lưới mà ra, biết cách lấy lại tự do. Tự do ở đây khôn gphair là tự do chính trị mà là tự do đối với những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc. Mình đòi hỏi phải có điều kiện này, điều kiện nọ. thì hạnh phúc mới có thật. Cái ý niệm về hạnh phúc đó  chính là cái  ngục tù giam hãm mình. Bỏ ý niệm đi thì khung cửa tự do sẽ mở rộng và hạnh phúc thật sự sẽ hiển bày ngay trong giây phút hiện tại. Tự do có khi được gọi là thảnh thơi và đó là một trong hai đặc tính căn bản của niết bàn. Vững chải dịch ra tiếng anh là stability solidity. Nếu trong ta không có hai yếu tố vững chãi và thảnh thơi thì hạnh phúc không phải là hạnh phúc đích thực. 

Tăng thân đồng hoàn cảnh mới giúp ta thoát được bẫy sập. 

Khi một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng vẫn rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với ngũ dục cũng vậy. Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất khó thoát ra. Chẳng hạn như khi nghiện ma tý, nghiện rượu, nghiện sắc dục hay là nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có tiền ít thì muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn nữa, giống như  người khát nước ngoài biển khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi thì rất khó thoát ra. Nhất là khi mình phải đơn phương tranh đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ dục và nghiện ngập thì thaamjj nan, vạn nan. Sở dĩ như vậy là vì mình đã nhiễm vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống như ngựa theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu được rằng điều đó là có hại, là không nên làm, nhưng ta vẫn ngựa theo lối cũ như thường. Thành ra nếu đến người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: Anh ơi! anh không nên sử udngj ma túy tại vfi nghiện ma túy thì thân anh sẽ tan nát, công danh sự nghiệp của anh sẽ tan nát gia đình anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên tiếp tục con đường này nữa thì vô ích lắm. Tại vì chính người ngày cũng biết điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa, nhưng họ không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy sập được. Vì vậy chúng ta đừng đến để dạy luân lý, đạo đức cho họ

Tuệ giác giúp chúng ta giải thoát kiến thức làm ta tự hào

Tối biết những ý niệm về hạnh phúc, vê ngũ dục là những cái bẫy sập vì vậy cho nên tôi không phí tuổi trẻ của tôi để sa vào những cái bẫy sập đó. Tôi đi tìm hạnh phúc trong giây phút hiện tại là vì pháp của đức thế tôn là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, nó vượt tính cách thời gian, bó bảo đảm sự tự do cho mình, nó cho mình sự vững chãi. 

Gooxc rễ của mình. Nơi nương tựa này là con đường tu học mà đức thế tôn đã bày ra, tức là pháp. Thầy samiddhi đã nói tới nguyên tắc hiện pháp lạc trú: Tôi đi tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đay, tôi không bị sập vào bẫy của những ý niệm hạnh phúc, tôi đi tìm hạnh phúc chân thật trong sự sống, trở về với hiện tại và pháp của bụt là ngọn đèn soi sáng cho tôi, giúp tôi tiếp xúc với thực tại mà không làm cho tôi bị rơi vào những bẫy sập của ý niệm. Thành ra khi có chỗ nương tựa tức là ta đã có một niềm tin, và có một niềm tin thì ta có hạnh phúc chân thật. Niềm tin ở đây không phải là tin vào một chủ thuyết về hạnh phúc một ý niệm về hạnh phúc. Niềm tin ở đây là một cái gì mình có thể có kinh nghiệm trực tiếp. Những người có một ý niệm về hạnh phúc ví dụ như thượng đế và họ tin vào ý niệm đó, tin vào một thiên đường tương lai, thì tuy đó cũng là những niềm tin nhưng không phải được đặt trên căn bản thực chứng trong hiện tại. 

Đạo bụt nói tới niềm tin như là một năng lượng tạo ra hạnh phúc nhưng niềm tin ở trong đạo bụt khác với niềm tin ở ngoài đời. Vì vậy ở đây ta cần nhắc lại giáo lý về ngũ lực. Ngũ lực là năm loại năng lượng làm cho ta trở nên một người sống động, có cuswcs sống với hai con mắt sáng với những bước chân chậm chãi

Thay đổi để tốt hơn

 18.08.2026 Những đội kiếm được tiền từ cty này là đội MH. còn đôi kinh doanh thì không nhiều nhưng vẫn oke.  Còn đội mà lấy từ cty này kĩ n...