Trong tu tập thiền định, quí vị sẽ được dạy nhiều phương pháp để giải quyết cái đau. Sau đây là một cách được sử dụng ở một số thiền viện bên Nhật, vào lúc thời tiết ấm áp khi muỗi nhiều dầy đặc nhất vào lúc sáng sớm và lúc hoàng hôn, các trưởng tăng thường đặt nhang muỗi giữa hai người ngồi. Tuy nhiên thỉnh thoảng nhang này không hoạt động và muỗi giống như đoàn quân xâm lược hung dữ, lao vào đánh chén. bạn không dám đưa tay đuổi vì các trưởng tăng đứng phía sau để canh chừng không cho bạn động đậy. Tất cả mọi tư niệm tấn công vào tâm bạn. Bạn đột nhiên nhớ ra rằng trong sách nói muỗi truyền bệnh sốt rét và nếu chúng cắn bạn với một số lượng lớn bạn có thể bị nhiễm bệnh này. Thật ra, cái đau mà bạn cảm thấy phát xuất từ ý niệm lo sợ về những gì có thể xảy ra với bạn hơn là bị chúng cắn. Nhưng không có cách nào thoát khỏi những con muỗi đói và sau một lúc quằn quại bạn thường làm những gì mà các trưởng tăng thúc đẩy bạn phải thực hiện nhập thành một với việc cắn . Rồi ồ. Một phép màu xảy ra bạn không còn cảm thấy nó nữa. chúng đang cắn nhưng không còn người bị cắn. bạn biến mất không còn gì để cắn.
Từ đó bạn biết rằng không có một thứ gì có thể đe dọa tâm bạn, nếu bạn trwor nên là một với nó. Vào lúc bạn trở nên ít quyến luyến với thân hơn khi sự thật chìm xuống, càng theo đuổi đeo bám víu vào sự thỏa mãn những thú vui của các giác quan, cuối cùng bạn phải chịu đựng càng nhiều đau khổ.
Cho rằng chúng ta cần thiết học cách đối phó với cái đau, nhưng không còn cách nào khác để tránh nguy hại cho sức khỏe sao .
Phương pháp muỗi chỉ là một trong nhiều cách. Nếu bản thân bạn tiếp xúc, va chạm với nỗi đau bằng ý chí khổ hạnh để làm mình chai đi khiến bạn sẽ mạnh mẽ hơn những người khác, hay thực hành khổ hạnh vì một động lực khác, sự đau đớn trở nên vô nghĩa. Nhưng nếu mục tiêu của bạn cao thượng hơn, trong sáng hơn nhưng không có cách nào khác để đạt những mục tiêu ấy ngoài việc trải qua đau đớn, tất nhiên bạn phải chấp nhận đau khổ.
Lão sư, thầy không cảm thấy bực tức khi các lão tăng đã gây ra đau đớn cho thầy lúc tu ở nhật sao.
Đau đớn là một điều kỳ diệu. Những vị thầy mà bạn luôn nhớ tới với tấm lòng biết ơn không phải là những vị thầy dễ dãi với bạn, mà là người mỗi lúc mỗi tạo sự khó khăn đau đớn cho bạn. Sau hai mươi lăm năm, tôi vẫn còn biết ơn một vị trưởng tăng, người thức suốt đêm trong một buổi nhiếp tâm khuyến khích tôi bằng gậy. Thức bảng là một miếng gỗ dẹp dài khoản sáu đến chín tấc, được dùng trong các thiền viện Trung hoa và nhật từ nhiều thế kỷ qua để kích động năng lực của người ngồi tọa thiền, buộc người ấy phải hết sức tập trung tinh thần. mỗi bên vai bị đánh hai lần ở huyệt nhằm kích thích năng lực vô hình. Tôi đã ở tu viện suốt sáu tháng và đó là đêm cuối cùng của tháng thứ sáu tột điểm của khóa nhiếp tâm. Sau buổi tọa thiền chính thức lúc chín giờ tối. Tôi tìm một cái ghế ọp ẹp để đa tọa trong nhà tắm. Tôi gần như ngồi chưa yên thì ngọn roi quất cạch mạnh vào vai tôi. Vị trưởng tăng đã đứng trên tôi tự lúc nào, ông là người coi sóc tôi từ khi tôi mới bước chân vào tu viện, người mà tôi cảm thấy đặc biệt gần gũi. Mặc dù rất bận rộn vì nhu cầu công việc, ông cũng giống như những trưởng tăng khác thường đi ngủ lúc mười hay mười một giờ đêm, nhưng hôm nay vì lòng từ bi sâu sắc nhất ông bỏ cả ngủ để thúc tôi bằng roi. Giờ đầu tiên trôi qua, rồi giờ thứ hai, nhưng ông ta không ngớt đánh. Khi đêm tàn dần ông bám theo tôi làm việc không mệt mỏi. khi cái đau ở chân, do ôm quanh những chân ghế bén cạnh, trở nên tồi tệ hơn cái đau ở vai và lưng. Cuối cùng tôi cũng đã vượt qua tất cả bằng sự mệt mỏi kiệt sức và tôi bất tỉnh. Khi mở mắt ra có một vị sư đứng cạnh tôi, thay vì cầm roi, là một bát trứng tươi , tôi uống sạch.
Ngày kế tiếp sẽ bắt đầu trong nuwaar giờ nữa, ông nói anh có thể nghỉ ngơi cho đến lúc đó, chúng tôi nhìn nhau và ôm nhau yên lặng.
Sau khó nhiếp tâm tôi hỏi vị trưởng tăng. Nếu tôi bị yếu tim và chết tử trận thử thách bằng gậy suốt đêm đó thì sao. ông không xem những báo nước ngoài đăng tải. một người mỹ trung niên bị đánh chết ở thiền viện nhật bản hay sao. Thiền ở phương tây có lẽ đã chậm lại năm mươi năm, không kể tiếng vang từ nhật bản. không phải ông đang quá mạo hiểm hay sao. ông ta tươi cười kapleau, anh mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Đó là tất cả những gì ông nói.
còn một điều khác mà vị trưởng tăng này đã làm vẫn còn in nguyên trong trí nhớ của tôi. Trong khóa nhiếp tâm ông thường làm phiên dịch tiếng anh cho lão sư. Nghi thức dành cho buổi tiếp xúc riêng với lão sư được qui định như sau. theo hiệu lệnh phát ra, học viên xếp hàng ở ngoài phòng trong tư thế ngồi xổm. Khi lão sư ở phòng trong run chuông đuổi người học viên đã tiếp xúc xong ra, người kế tiếp đánh vòa cái chuông ở phía trước mình bằng cái búa gỗ và đi vào phòng.
Khi đến phiên tôi, vị tăng phiên dịch đó vẫn đợi ở phía sau tôi, tôi đánh chuông theo sự ra dấu của lão sư, đặt cái búa xuống và đứng dậy đi đến trước lão sư. Lúc đó vị tăng không báo trước đánh mạnh vào phía sau tai tôi bằng nguyên mu bàn tay. Vì đau và giận cái bản ngã tôi quay lại vung tay đánh ông ta. ông ấy né rồi nắm cổ tay tôi, xoay và đẩy tôi về hướng phòng độc tham. khi tôi đứng trước lão sư ông la lên tôt tốt đấy là những lời bằng lòng đầu tiên của ông từ khi tôi đến tu viện. cách tôi đối đáp ở buổi độc tham trước đó thường là ngập ngừng hay trả lời câu hỏi một cách thông thái. nhưng bây giờ tôi thấy mình trả lời một cách vô tâm, từ trong lòng chứ không phải từ cái đầu và rõ ràng là lão sư bằng lòng. Giai đoạn này có lợi ích kéo dài. Tôi nhận ra mình hoạt động ở mức năng lực cao hơn và ở những buổi độc tham tôi không còn sợ lão sư nữa. Ở những tình huống khác nữa, tôi có thể trả lời với nhận thức sắc bén hơn.
Có nhiều giai đoạn đau đớn khác giúp tôi rất nhiều nhưng tôi không làm quí vị nặng trĩu vì chúng.
Như vậy nếu không trải qua tất cả cái đau như thế, ắt hẳn thầy đã không thể làm được việc gì phải không>?
Trước khi đến với thiền, tôi là người bê tha tự đại. Tôi làm những gì tôi thích, theo đuổi những thú vui của mình, dửng dưng với những hệ quả của nó trên cuộc đời những kẻ khác. Thay vì làm chủ cuộc sống của mình tôi là nô lệ của nó mà không hề biết. Nhưng thầy dạy thiền biết điều đó, có những phán đoán sắc sảo về cá tính như thật, họ đối xử tôi đúng như tôi mong muốn. Ngoài việc làm cho tôi hiểu về mình điều mà trước đây tôi chưa hề biết, cách đối xử này ban cho tôi hạnh khiêm cung cần thiết. Hơn hết, cái đau có thể làm điều đó cho bạn miễn là bnaj không bực tức nó.
Lão sư, thầy có muốn làm lại điều ấy không
Anh nên hiểu rằng mọi cái do nghiệp, nếu không có nghiệp cần thiết cho tôi đi nhật thì tôi đã không đi, tôi cũng không ở lại lâu như tôi đã làm. Và các bạn cũng không có mặt ở đây hôm nay. Nếu đó không là nghiệp của quí vị và của tôi nữa. Cũng giống như vậy, bây giờ và trước tôi cũng hiểu rằng đau khổ cần thiết cho sự trưởng thành và phát triển tất cả quí vị phải thấy điều đó cần thiết trong việc tu tập thiền định.
Lão sư, thầy có bao giờ được giới thiệu đi nhật để nghiên cứu thiền hay không
ở đất ta ngày nay có nhiều thầy dạy thiền có năng lực và những trung tâm huấn luyện thiền tốt. Năm 1953, khi tôi ra đi, tôi không biết đến những nơi như vậy ở phương tây
Hẳn là thầy có một nghiệp khá xấu nên cần phải đi đến nhật để nhận lãnh tất cả nỗi đau đó.
Có nghiệp hay không có nghiệp, tôi sẽ không bao giờ đi và chịu đựng đau khổ như thế.
vì tôi đã đi rồi nên không ai trong quí vị cần phải đi.
tánh không là gì
tánh không trong phật giáo là gì. Theo sách nói nó là trống không và chỉ thế thoi. Vậy câu sắc tức thị không, không tức thị sắc có ý nghĩa gì.
Giả sử anh là một nghệ nhân đồ bạc, và anh muốn làm một tượng phật nhỏ. Khi bạc của anh bị nấu chảy, nó có khả năng trở thành một vật gì đó. Đó là tính không. Rồi anh rót kim loại nóng chảy vào khuôn và nó cứng lại đó là sắc. Nhưng bây giờ sau khi anh hình thành tượng phật anh lại không thỏa mãn với nó, nên muốn làm một cái gì khác cũng từ số bạc đó. Vì vậy, anh nấu chảy tượng và bạc trở thành vô sắc dạng, chính yếu là tánh không này không khác với sacwcs.
Đừng quên, tất cả những điều đó chỉ là một kiểu quan niệm, không phải là một vật thật. Vậy hãy cho tôi biết làm cách nào bạn nắm được tánh không như một cái gì cụ thể. Đi tới phía trước và chỉ cho tôi thấy đi
cách này
không phải thế như thế này này
ôi cha
tánh không, dù sao cũng chỉ là sắc phải không.
Mới đây có một số nghiên cứu được thực hiện, nhiều sách viết về đề tài cuộc sống sau cái chết . Tuy nhiên nhiều người vẫn nghi ngờ. Họ cho rằng, không có chứng cớ khoa học về việc này. Thiền nói gì về khả năng sống trong những hình thức kế tục sau cái chết.
Người ta chỉ có thể tự hỏi làm sao có thể nghi ngờ sanh, lớn lên, già đi, phân rã, tái xuất hiện không phải đó là chu trình của các hiện tượng tự nhiên hay sao. Bất cứ ai nghi ngờ điều đó, là đã từ chối bằng chứng của chính giác quan, trí tuệ, và trực giác sâu kín nhất của họ. Anh có bao giờ tự hỏi, cái gì xảy ra với sức sống, cho năng lực phía sau những hoạt động tạo ra cái tôi của ta, sau khi tách nó ra khỏi thân ta. Định luật bảo toàn năng lượng nói rằng năng lượng không bao giờ mất đi, nó chỉ biến dạng, vì vậy làm cách nào sức sống này có thể biến mất mãi mãi.
Tôi muốn tin là nó không mất. Nhưng liệu có ai từng sống lại để kể cho ta nghe những điều như vậy không
Không có ai trong phòng này đã không sống lại hàng ngàn lần. Mọi cuộc sống là sự sống sau cái chết.
Thầy thật sự muốn nói thế sao, lão sư
Tại sao lại phải ngạc nhiên hơn khi chính Voltaire cũng đã chỉ ră rằng khi được sinh ra hai lần còn hơn là chỉ được sinh ra có một lần.
Thầy có thể nói tôi biết tôi sẽ như thế nào trong kiếp sau không
Đừng hỏi tôi, chỉ việc nhìn vào gương.
ý của thầy muốn nói gì?
Phật dạy rằng nếu muốn biết về quá khứ, hãy nhìn vòa hiện tại. Nhân của ngày hôm nay là quả trong tương lai. Nói cách khác những gì ta nghĩ và làm hiện giờ đang quyết định bạn sẽ như thế nào vào kiếp sau hãy cẩn thận.
Có nhiều mô tả về người chết bằng kỹ thuật và rồi sau đó được làm sống lại. Đó là những người từ cõi chết trở về mô tả kinh nghiệm thoát xác của họ. Thật là đẹp đẽ đến nỗi không muốn trở lại tấm thân khổ đau của họ nữa.
Người hỏi thứ tư. anh muốn nói những người tim ngừng đập và cho thấy không còn dấu hiệu sự sống trong một thời gian ngắn nhưng chẳng bao lâu sống lại. Điều đó hoàn toàn khác với những người chết mà thân thể của họ bị chôn hay bị thiêu.
Hãy để tôi kể về kinh nghiệm thoát xác, những điều đẹp đẽ được mô tả như vậy chỉ là giai đoạn đầu. Vì người ta thiếu chuẩn bị cụ thể về tu luyện tâm linh, điều theo sau cái bước đầu tiên có thể là sự sợ hãi, ngay cả kinh hoàng, tùy theo nghiệp của người đó. Những bước sau đó được mô tả chi tiết trong hai cuốn sách của Vasubandhu (thế thân), một triết gia phật giáo ở thế kỷ thứ tư. Tác phẩm tạng thư sống chết hay cận tử thư của tây tạng được viết ra dựa trên căn bản của hai cuốn sách này.
Tại sao tu luyện tâm linh là điều cần thiết? Tại sao người ta không thể tự chuẩn bị cho những thử thách đó bằng cách đọc sách hay nghiên cứu
Trong cảnh giới trung chuyển giữa chết và tái sinh quí vị bị chạm trán với những hình ảnh ma quỷ ghê rợn kinh hồn, có ích gì khi những điều bạn đọc được chỉ là những phóng ảnh từ nhận thức của chính mình? Giống như những ảo giác trong những cuộc hành trình cam go tồi tệ. Các ảo giác đó có sức mạnh làm cho bạn sợ vì bạn không hiểu bản chất của chúng và không biết cách xua tan chúng đi. Bây giờ giả sử trong lúc tọa thiền và mỗi lần như thế đều được người thầy hướng dẫn tại sao chúng nảy sinh và dạy cách đối phó chúng. Bạn sẽ học được cái kinh nghiệm không sợ chúng và kinh nghiệm đó sẽ giúp bạn rất nhiều trong cuộc sống sau cái chết và nếu sự huấn luyện thật hoàn hảo, nỗi đau của cái chết có lẽ sẽ không quấy rối nhận thức này.
Có phải cảnh giới trung chuyển này giống như bardo được nói đến trong cuốn sách về cái chết của người Tây Tạng không
đúng vậy.
Thường tái sinh xảy ra trong thời gian bốn mươi chín ngày. Nhưng thời gian này không cố định, nó có thể xảy ra trong một ngày hay một tuần, có khi mãi đến mấy năm sau. Dường như thời gian tái sinh được quyết định bởi những nhân tố khác do sự hấp dẫn về nghiệp của người đó với cha mẹ. Con số bốn chín tức bảy lần bảy. Trong nhiều hệ thống tôn giáo bao gồm phật giáo, con số bảy là biểu hiện cái căn bản của vũ trụ.
Phật giáo nói về hai loại sinh tử: tương tục và thường trực. Sinh tử tương tục đó là sự sáng tạo và sự hủy diệt xảy ra trong một phần triệu giây hay những tốc độ tương tự như vậy, khi những tế bào già chết và cái mới sinh ra. Vì vậy, chúng ta có thể nói cái tôi mới không ngừng được sinh ra và người ở tuổi sáu mươi thì không giống như, tuy không khác với, người ở tuổi ba mươi hay mười. Như vậy sự sống trong hấp hối trong khi đang sống. Thực tế, mỗi lần hít vào bạn đang được tái sinh và mỗi lần thở ra bạn đang hấp hối. Sinh tử thường trực cũng có thể được xem như một thân thật, khi nó liên quan tới thân vật chất và những biến tướng của nó như một tổng thể của sự sinh ra và mất đi ở cuối một cuộc đời. Lúc chết, năng lượng sống của con người, hay nghiệp, được truyền sang thân trung ấm và sự sống của nó, cũng chịu sự sinh tử liên tục và thường trực, chỉ có trong trạng thái này sự chết và tái sinh thường xuyên xảy ra trong thời gian bảy ngày. đó chính là lúc con người trung gian tìm cơ hội để gá vào thai tạng. Con người trung gian này, theo Vasubandhu, có năng lực bí mật trong việc biết được sự giao hợp của cha mẹ mà nhờ nó có thể thọ thai.
Làm cách nào năng lượng nghiệp truyền từ người đang hấp hối đến người trung gian.
Có nhiều cách tương tự được dùng để mô tả diễn trình chuyển tiếp này. Thầy tôi dùng dấu ấn của con dấu trên bùn để so sánh. Cuộc sống hiện tại là con dấu và thân trung ấm là bùn. Kiểu dáng của con dấu là nghiệp. Bây giờ con dấu được ấn xuống bùn, dạng hình của nó hay kiểu nghiệp được hoàn đổi chính xác.
Người khác thì so sánh nó như chơi bida. Bạn thụt một trái banh để đẩy một nhóm banh khác làm nó rãi rác khắp mọi hướng, nhưng viên bi bạn dùng để thụt dừng ngay tại điểm chết khi va chạm mạnh. Hướng di chuyển của banh tùy thuộc vào cách đánh ví dụ, có đánh xoáy hay không và còn tùy thuộc vào xung lực mà nó tác động trên những quả banh khác. Tương tự khi ấn cái dấu vào bùn, dấu ấn nằm lại sau khi con dấu được lấy đi, thế có bản thể nào mất đi không. Không phải một cách đơn giản là đặc tính của con dấu, sự hoán đổi của nó với bùn được giữ lại hay sao.