Cái gì là tư niệm bất thiện
Người hỏi: trước đây trong buổi hội thảo thầy nói về tư niệm bất thiện. Thầy vui lòng đưa ra một vài ví dụ về tư niệm bất thiện.
Lão sư: khái niệm tốt xấu, mộng mơ, tôi yêu nó, tôi ghét nó, tư niệm giận hoặc căm thù, những ý nghĩ cố chấp, những phán đoán không cần thiết, những đánh giá và kết luận không cần thiết, sự phân biệt không hợp lý, suy nghĩ ghen tị và thèm muốn.
Người hỏi thứ hai: có cách nào để tránh làm những phán xét hoặc có những ý kiến.
Lão sư: chú ý từ không cần thiết. Thầy giáo, cha mẹ, người phê bình, quan tòa phải làm những phán xét đó là công việc của họ. Nhưng chúng ta đang nói về sự đánh giá vu vơ mà người bình thường làm hàng chục lần trong ngày và cha mẹ vô tình thúc con họ làm. Chẳng hạn hỏi con: con thích cái nào hơn, hoa hồng hay hoa cúc. để có câu trả lời đại loại như con thích hoa hồng hơn hoa cúc. Hỏi ai qua đối thoại. anh nghĩ gì về cái này, cái nọ. nài nỉ một câu xét đoán. Hại như nhau là tự xét đoán, gán cho hành động của ai là tốt hay xấu. Thái độ đánh giá này được tìm thấy chính trong kinh thánh, rằng sau khi chúa tạo ra thế giới, người nhìn vào đó và phán tốt.
Người hỏi thứ 2: tôi vẫn chưa hiểu căn bản cái gì sai về những phán xét hay ý kiến
một khi anh hình thành một ý kiến anh sẽ bám vào nó. Rồi anh cảm thấy bị thúc dục phải bảo vệ nó, trở nên ưa tranh cãi và hay gây sự. Ý kiến Voltaire nói, gây ra nhiều phiền toái trên đời này hơn tất cả những bệnh dịch và động đất.
Có chế độ ăn đặc biệt cho thiền không
Không, nó có vẻ mâu thuẫn. Ngay khi bạn công nhận một chế độ ăn của thiền, bạn sẽ trwor nên lệ thuộc vào nó. Thiền dạy sự tự do chấp nhận hoặc từ chối không có sự bắt buộc hay hối tiếc. Thế thì làm sao có một học thuyết ăn kiêng của thiền để kéo dài cuộc sống hoặc các loại ăn kiêng thiền khác. Có một điều đáng nói là dễ khép mình vào thiền và được đắc ngộ, khi sinh khí nền tảng của bạn mạnh, và chế độ ăn điều hòa các thức ăn dinh dưỡng chưa bị tinh chế sẽ giúp bạn tới đích. Nó hoàn toàn khác với khăng khăng một chế độ ăn kiêng của thiền
thật là đáng ngạc nhiên vì quá ít người biết rằng ngay cả những thức ăn tốt cũng gây hại khi nó được nấu và phục vụ bởi một người lo âu hay sợ sệt, hay những người có đầu óc luôn giận dữ hay bực tức. Những phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể bởi những rung động bất tịnh đó có sức làm độc thức ăn bị xúc phạm bởi những cá nhân như vậy, gây cho người nhạy cảm ăn nó có những phản ứng như nhức đầu, đau bụng hay các bịnh tương tự. đó là lý do tại sao ở các thiền viện, duy chỉ những người tinh tấn trong tu tập với cái tâm trong sáng nhất, công bằng nhất, mới được phép làm công việc nấu nướng. Không cần phải nói tâm của chính người ăn cũng có ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa.
Người hỏi: nhưng nếu ăn trong nhà hàng làm sao thầy có thể biết trạng thái tinh thần của người đầu bếp?
Bạn không thể. Đó là lý do tại sao người tu luyện nghiêm túc thường né tránh việc dùng bữa ở nhà hàng bất cứ khi nào có thể được.
Thế những nhà hàng của những nhóm tôn giáo điều hành thì sao?
khi thức ăn được xem như đồ cúng, lý tưởng khi nó ở trong những nơi như thế, nó được chuẩn bị và phục vụ với tình yêu và dâng hiến, vì vậy nó trở nên pha trộn với những rung động trong sạch hơn đó.
Người hỏi: tôi chú ý là bữa ăn trưa hôm nay có những thức ăn tự nhiên cho người ăn chay. Tôi mong đợi điều này ở Trung tâm thiền, nhưng dường như điều thích thú là ngày nay có rất nhiều người dùng những thực phẩm tự nhiên. Ngay cả quán ăn trường tôi có mở cửa hàng bán thức ăn bổ dưỡng. Ý nghĩa của phong trào này là gì
lão sư: ước muốn làm trong sạch thân xác thật sự phản ánh một ước mong trong tiềm thức hoàn thành ước nguyện của chính mình. Nhưng nhiều người đã sa lầy vào vấn đề sức khỏe thể chất và chính nó trở thành quan trọng. Họ quá say mê với những biểu đồ thức ăn, với những tính toán tánh âm dương của thức ăn, về tập thể dục đến nỗi không bao giờ rời khỏi sự quan tâm về cơ thể, để đạt được sự giải thoát thật sự về mặt tâm linh. Ở những người này, vẫn không có hiểu biết và ý thức về sự trwor nên xa lạ của họ với cái tôi, không có cảm giác đau khổ của ngã để thúc đẩy họ tìm kiếm câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cái chế. Ngộ nói lên sự cởi bỏ thân tâm.
Phải tránh ăn thịt để trở nên một phật tử tốt phải không
có quá nhiều yêu cầu căn bản hơn là ăn hay không ăn thịt. song nó khôn gphair là vấn đề đơn giản nên hay không nên. Khi tu luyện thâm sâu, nỗi sợ tiềm thức và thói quen bắt buộc dần phai đi và thân tâm thu được một sự nhạy cảm tinh tế sắc bán ngày hơn nhiều, vì thế người ta phát triển ột cách tự nhiên cái ý chính thức ăn chay hơn những thức ăn thô như thịt.
Có nhiều thứ để nói về một cách ăn đơn giản. Hầu hết mọi người ăn quá mức và theo sự quan sát của Seneca, con người không chết tự nhiên mà tự giết mình bằng dao và nĩa. Thực trạng này có từ xưa đến nay. không ai tỏ ra khó chịu vì chứng khó tiêu, táo bón kinh niên, và những bệnh có chung một gốc do ăn uống quá độ gây ra. Kết quả của việc ăn quá nhiều hay ăn thức ăn quá nhiều dinh dưỡng là chướng ngại cho việc hành thiền có hiệu quả. Đặc biệt là người thường ngồi một chỗ để làm việc, ít tập thể dục, thiền nhiều giờ thì ăn ít đi lại tố hơn ăn nhiều. Nói cách khác, một bữa ăn thanh đạm có ích cho việc tọa thiền, làm tắt khao khát xác thịt và những ảo tưởng. Thưc ra trong trạng thái định sâu, cơ thể ít đòi hỏi năng lượng, do đó hành giả có thể ăn ít hay không cần ăn mà dường như nó được nuôi từ việc rút ra một loại dinh dưỡng khác từ không khí.
Cho đến khi bạn đạt đến trình độ này, tuy nhiên, thật là thiếu khôn ngoan khi từ bỏ thịt cá cùng một lúc, vì sự từ bỏ đột ngột những món ăn đã quen thuộc với cơ thể có thể gây ra phan ửng và tạo ra bệnh, làm chấm dứt việc tọa thiền. Đưa những thay đổi vào cách ăn một cách từ từ, để cho các chất hóa học của cơ thể có thời gian điều chỉnh.
Sự thật là chúng ta bị yếu đi nhiều vì tư niệ tham, sân , si hơn là không đủ lượng chất đạm hay các sinh tố. Tọa thiền bằng cách tập trung và điều khiển tâm làm tăng cường sự chú ý và thanh lọc tình cảm, giúp người ta cuối cùng xóa tan những tư niệm có hại từ bên ngoài. Một người khỏe mạnh về tinh thần là người đã phát triển khả năng này, đã nhìn vào chân tánh của sự vật, và có thể thích nghi một cách sáng tạo với môi trường đó là đáp lại một cách tự do đầy đủ những hoàn cảnh thay đổi không có sự lo âu. Cuối cùng, đàng sau những chứng bệnh kinh niên là sự bất an về tinh thần. Cảm giác không thỏa mãn đang gặm nhấm làm cơ thể bịnh, và cơ thể bịnh tạo nên tâm bệnh.
Đọc về giác ngộ giống như gãi cái chân ngứa mà không cởi giày.
tôi có vẻ hơi liều , nhưng dù sao tôi phải hỏi điều này. thường sau khi đọc về giác ngộ tôi dường như hiểu rất rõ nó là gì, và nhiều lần tôi hoàn toàn cảm thấy sự giống nhau của tất cả sự sống. Nhưng có gì khác nhau giữa loại hiểu biết này và tỉnh thức của thiền.
Đọc về ngộ giống như đọc về chất dinh dưỡng khi bạn đói. Thế nó có làm bạn no không. Rõ là không . chỉ khi bạn nếm nhai và nuốt chúng bạn mới cảm thấy thỏa mãn, nó có thể so sánh với ngộ hoặc tỉnh thức. Rồi ngay cả thức ăn bạn đã ăn cũng không nuôi bạn cho đến khi sự tiêu hóa và hấp thu xảy ra. Cũng giống như vậy, đến khi bạn hội nhập vào cuộc sống hàng ngày những gì bạn nhìn thấy, sự ngộ vẫn chưa làm gì cho bạn, nó sẽ không làm thay đổi cuộc đời bạn. Và như bước cuối cùng của thức ăn là loại bỏ, vì thế người ta phải đương nhiên loại chính mình khỏi khái niệm. Tôi được giác ngộ. Lúc đó chỉ có bạn, bước tự do giữa đất trời.
Bâ giờ giả sử bàn chân bạn ngứa. Bạn có cảm thấy tốt hơn khi gãi bàn chân không giày hay gãi chỗ ngứa mà khong cởi giày.
dĩ nhiên là gãi bàn chân không giày.
đọc về gnooj giống như gãi chỗ ngứa mà không cởi giày.
Đọc hay không nên đọc.
Có hai điểm liên quan đến đọc sách làm tôi bối rối. Thầy nói là đến lúc ngộ người ta cần từ bỏ suy nghĩ về tôi, người khác và ngưng chơi đùa với những khái niệm, thầy ám chỉ là việc đọc nuôi dưỡng những quan niệm và những tư niệm ngẫu nhiên, phải bỏ đi. Tôi biết là có nhiều thiền tăng uyên bác ở Trung hoa và Nhật thời xưa, họ rõ ràng chắc là đọc rất nhiều.
Điểu thứ hai thuộc về cá nhân. tôi đang học trở thành bác sĩ thần kinh và không có cách nào khác phải đọc nhiều, không chỉ trong lĩnh vực của tôi à còn trong những phạm vi có liên quan.
việc đọc trong những phạm vi có liên quan này là gì
ví dụ, để hiểu vấn đề của người dân ở các nước khác, đọc giúp tôi làm quen với cách diễn đạt và lối suy nghĩ của họ. Mọi thứ đều liên quan đến việc đọc. Nhưng nếu đọc làm hại việc tọa thiền của tôi và tôi bỏ mọi thứ sách báo, cả những tạp chí khoa học, làm sao tôi tiến bộ và có thể giúp cho bệnh nhân của tôi tốt hơn.
Những gì tôi đã nói là đọc bừa bài phải bị bỏ, không phải là tất cả. Sinh viên như bạn và những người chuyên nghiệp nào đó cần đọc và nghiên cứu, những hoạt động như vậy phải được xem như một phần của tọa thiền của bạn. Và tọa thiền thường xuyên, do tăng sự tập trung hay thư giãn đầu óc sẽ làm bạn học tốt hơn cũng như lưu giữ những gì đã học. Nhiều hội viên của chúng tôi là sinh viên, thầy giáo và những chuyên gia.
Thầy định nghĩa thế nào là đọc bừa bãi
Đọc bừa bãi là đọc thái quá sahcs báo tạp chí, tiểu thuyết và vấn đề tương tự không thiết yếu hoặc liên quan tới công việc hay nghiên cứu của bạn. chú ý từ thái quá. Bạn có từng quan sát người ta ở trạm xe buýt, sân bay hoặc nhà ga không. thường thường nếu họ ở đó một mình, ngay khi ngồi xuống họ lấy sách, báo hoặc tạp chí ra đọc. rất ít người có thể thiền haowjc chỉ ngồi yên lặng. đọc tiêu hao năng lượng, trong khi thiền gìn giữa và tập trung nó. nếu trong tọa thiền bạn cho phép trọng lực đặt ở khu vực rộng của bàn tay phía dưới rún, bạn lập một giếng năng lượng ở đó làm mạnh mẽ toàn thân. Bạn có thể so sánh qui trình này với máy phát điện sạc bình ác qui.
Thầy tôi thường bảo với môn đồ là càng ít đọc sách triết hay về thiền thì càng ngộ nhanh. tại sao lại như vậy. vì ông biết rằng loại sách này đặc biệt cản trở tâm bằng những quan niệm, khái niệm nặng nền. Có một lần lão sư đại vân, từng là một giáo sư, nó rằn kinh nghiệm ngộ độc đáo của lục tổ khi nghe một ông tăng lang thang đọc kinh kim cương, có thể nhờ một phần do sự mù chữ của ngài đó là muốn nói tâm của ông thoát khỏi những suy đoán vu vơ được nuôi dưỡng bởi đọc và nghiên cứu rộng.
người mới tu trong thiền viện được khuyến khích chỉ nên đọc những mẩu chuyện về cuộc đời của các thiền sư và chư tổ, dù vậy họ cũng phải thuộc lòng một số kinh để tụng. Họ có thể nghe trực nhận chân lý từ người thầy, mà không cần phải qua trung gian của qua những trang giấy in. Ngôn ngữ và văn tự có thể làm lệch cái ý nghĩa chân xác của cái như thật. Thiền nhấn mạnh, nghe sự thật, tin nhận, hành trì. nghe sự thật vì sự thật được kể từ người đã chứng nghiệm nó, rung động với một sức mạnh vô địch bởi những lời hùng biện nhất.
coi chừng việc đọc quá mức các loại sách báo, giống như một liều thuốc quá lớn, đè nặng tâm và làm cùn khả năng suy nghĩ sáng tạo. đọc bừa bãi cũng có thể nuôi dưỡng sự tham lam vì những sự kiện vô ích và lòng kiêu hãnh trong sự chiếm hữu những phẩm chất không dẫn đến sự tiến bộ tâm linh. cuối cùng, chân tuệ gồm khả năng đọc được những cuốn sách chưa được. viết ra.
Đọc và tọa thiền không bỏ xung cho nhau. đọc những đề tài có phạm vi rộng lớn, đặc biệt về những sự kiện và lý thuyết làm mệt óc và làm cơ thể yếu đi, làm tê liệt ý muốn tọa thiền. mặt khác, sau khi tọa thiền tâm bạn sẽ cảm thấ rất trong sáng và tỉnh táo đến nỗi bạn không muốn bị che phủ bằng cách đọc những loại đó.
Nhưn gtooi nghĩ là đọc những lời dạy của thầy sẽ gây hứng thú và cũng giúp ích để nghiên cứu những nguyên tắc phật giáo
Nếu anh làm việc gần gũi với một người thầy, anh có thể suy đoán những nguyên tắc từ chính việc tọa thiền. Tâm bạn càng thoát khỏi những sự kiện, lý thuyết thì càng nhận rõ lời dạy và dự tiến bộ của bạn nhanh hơn.
Tuy nhiên sau ngộ, đọc kinh và những lời dạy của thầy có thể rất hữu ích những gì vừa được đề cập đén là dành cho những người có vị thầy hướng dẫn về tinh thần. Nếu bạn không có, thì đối với bạn, loại sách đọc tốt nhất là cái làm tăng đức tin và có sức thuyết phục. Đừng rơi vào thói quen đọc sách mới về thiền hay yoga hoặc về bất cứ truyền thống nào bạn thích. Có hay không có người thầy, bạn cần phải khám phá chiếu thiền và học cách kỷ luận chính mình. Và một khi bạn tin ràng có nhu cầu về luyện và kỷ luật tinh thần, hãy tìm một vị thầy và bắt đầu đi theo đường đạo.
Thế còn đọc tiểu thuyết chỉ vì thú vui đơn thuần thì sao.
nó hoàn toàn lệ thuộc sự háo hức cỡ nào của anh đối với sự ngộ. Nếu bạn khao khát chân ngộ, bạn sẽ thức dậy lúc ba giờ sáng, không cầm lấy tiểu thuyết mà hướng tới goois thiền và sẽ không có gì có thể tách bạn ra khỏi nó.
Đọc loại sách nào là tốt nhất khi thầy có một cuộc sống tâm linh
emerson nói, cuốn sách tốt đặt tôi vào trạng thái làm việc. Nếu bạn muốn hiểu chân tánh không chỉ tiên đoán về chúng cuốn sách tốt là khi có hàm chứa ý nghĩa sâu xa đươc khám phá qua kinh nghiệm cá nhân. Một cuốn sách khuấy động taamm, đốt cháy khả năng tưởng tượng và dẫn đến quyết tâm không để cái gì cản lối của ngộ. Tóm lại, nó đưa bạn ra khỏi ghế đến với chiếu thiền.
Người hỏi thứ năm: những quyển sách nào thầy đặc biệt khuyên đọc.
lão sư: tôi chú thích một danh sách các quyển sách mà tôi tự nhận thấy cảm hứng và dùng để dạy. Xem bản chú thích tài liệu đọc. Một số tựa sách hay được bỏ đi vì nó không còn được in.
Đừng nghĩ rằng quí vị cần phải đọc từng cuốn trong danh sách được đề nghị hay tất cả chúng. ngay cả những cuốn bạn đã đọc, lệ thuộc vào sự ong mỏi, và sự phát triển tâm linh của bạn. nếm từ đầu lưỡi cũng đủ cho một số người, số khác có thể cong lưỡi lại như nếm rượu ngon, và một số thì thưởng thức và nuốt với sự thích thú của người không ăn gì trong nhiều ngày.
Từng cuốn sách này, cho tôi nhấn mạnh gắn vào cái nhãn: coi chừng tạo thành thói quen. Có hại nếu dùng những liều lớn.
Cái gì thật sự là thật
nếu tôi hiểu thầy đúng, và tôi nghĩ thầy đang trích dẫn lời của phật, thầy nói không có gì tồn tại
anh không hiểu điều này trực tiếp. tôi trích dẫn lời đức phật khi nói mọi vật không tồn tại cũng không phải không tồn tại. Điều này hoàn toàn khác từ những gì bạn nói.
Đúng vậy, tôi hiểu đúng. Nhưng nếu mọi vật không tồn tại cũng không phải không tồn tại, cái gì là thật, cái gì thật sự là thật.
Hãy đến gần đây.
người hỏi lên bục giảng. lão sư nghiên người thì thào vào tai anh ta. Cả hai đều cười và bắt tay
chỉ có điều đó thật sự là thật.
Thầy có nói trước đây trong một cuộc hội thảo là không nên có hơn một người thầy. Tôi có đọc được một lời nói của một vị thầy ấn độ ở vùng duyên hải phía tây. Người ta có thể giao phó cho hơn một người thầy tinh thần cùng một lúc. Một con ong hút mật từ nhiều bông hoa. một người vì thế có thể học thuộc từ một người thầy và học luật từ một người khác. Không có sự xung đột. Tại sao thầy không đồng ý với ý kiến của ông ta.
Thế anh hiện đã giao phó cho một người thầy nào chưa?
Chưa, tôi là con ong đang bay từ bông hoa này sang bông hoa khác.
Thế thì chừng nào anh làm ra mật.
Tôi hy vọng là chẳng bao lâu nữa. Tôi đang thu lượm mật hoa ở bất cứ nơi nào tôi tìm thấy.
Đừng quên rằng con ong tạo ra mật chỉ sau khi nó ngừng bay từ hoa này sang hoa khác. Và anh cũng thu được mật tốt, chẳng hạn, từ con ong cũng vào hút hoa cây quất hay hoa kiều mạch.
Trở lại câu nói ban đầu: điều mà tôi đã nói, trước khi yêu cầu sự giúp đỡ của một vị thầy thì việc tranh thủ những thầy khác cũng tốt thôi, nhưng một khi anh đã chính thức giao phó bản thân mình như một môn đệ, anh không được ngó ngây dại đến người thầy khác. Tuy nhiên, sau khi đã được huấn luyện với một người thầy và ngộ dưới sự hướng dẫn của ông ta. Anh có thể có lợi khi tiếp xúc với những người thầy đã ngộ khác.
Thầy muốn ám chỉ gì khi nói ngó ngây dại.
Đừng lừa thầy. Sự ngoại tình tinh thần không tốt hơn ngoại tình về thể xác. ếu anh muốn theo đuổi những vị thầy khác giống như chon gchongs thời tiết xoay theo từng hướng gió mới, anh chỉ thành công trong việc làm mình rối lên và không thu được gì.
Có nghĩa là người ta phải phục tùng ngoan ngoãn người thầy hay không.
Không, anh phải học cách suy nghĩ độc lập và tuân theo chính trực giác và kinh nghiệm sống của anh. Ngay trước khi Đức Phật nhập diệt ngài nói với đám đệ tử quay quanh mình, một số đang khóc với ý nghĩ là mất, sắp mất đi người thầy thân yêu: Hãy đốt đuốc lên mà đi... nương tựa vào pháp. Đừng trông chò vào sự giúp đỡ của ai ngoài chính mình.
Trong Thiền, mục đích của người thầy, ngoài việc dìu dắt người môn đồ đi đến giác ngộ, là giữ cho họ không chịu ảnh hưởng của mình. Ông không muốn kiểm soát cuộc sống của môn đồ, mà chỉ làm anh ta đủ sức làm chủ cuộc sống của mình thay vì làm nô lệ cho nó. Trong một số truyền thống tôn giáo, như anh đã biết đấy, người thầy thật sự điều khiển cuộc sống của môn đồ đến mức độ nói với họ lấy vợ và có con ha không. Lời của ông ta là luật. Nếu khả năng tâm linh của ông ta sâu thì ít nguy hiểm. Nếu không, chỉ có trời mới có thẻ giúp được người học trò đó.
Hãy tránh những người thầy nói. Ta được đắc ngộ. Hãy cảnh giác với những vị thầy tuyên bố là một vị thần, một tái sinh, Thánh hay phật. Và hơn hết, nên tránh người thầy cho phép tín đồ của mình ca tụng với hai tay giơ lên trong một buổi tụ tập quần chúng, và ca ngợi ông ta là thánh thiện nhất trong những bậc thánh thiện. ông ta là điều đe dọa lớn nhất.
Người thầy chân chính phản ứng như thế nào với sự ca ngợ. Có một lần ngài a lnan đà thị giả của đức phật nói với phật, bạch đức thế ôn. con nghĩ là trong quá khứ chưa hề có vị thầ nào vĩ đại nhưu ngài và trong tương lai cũng sẽ không có ai vĩ đại như ngài. phật đáp người biết hết tất cả chư phật trong quá khứ sao.
Không, bạch đức thế tôn
này a an, ngươi có phép thần thông biết được tất cả chư phật của vị lai hay sao
không bahcj đức thế tôn
vậy, này a nan thế thì chắc ngươi biết trọn vẹn tâm của như lai phải không?
Không, bạch đức thế tôn.
Vậy tại sao đức phật hỏi. ngươi có thể khẳng định một cách mạnh mẽ như vậy
một thiền sư có giấy chứng nhận, đại loại như là bằng cấp chứng nhận trình độ văn hóa, có chứng nhận vị ấy dạy thiền hay không.
có một giấy chứng nhận viết chữ đẹp ghi là thầy cấp cho học viên của mình khi ông ấn chứng sự giác ngộ của anh ta, nhưng nó không thể gọi là giấy chứng nhận để dạy học được, vì sự huấn luyện thiền thật sự bắt đầu sau khi ngộ. Học viên hoàn tất cả các công án mà người thầy qui định nhận cái được gọi là ấn chứng. Nhưng ấn chứng tự nó không tạo nên một người thầy giỏi hơn là tốt nghiệp từ trường thuốc đào tạo nên ột bác sĩ đủ tài. Trong thiền, theo một số truyền thống á châu khác, một đồ đệ sẵn sàng dạy khi thầy anh ta bảo anh ta dạy. Đều này tự nhiên đặt rất nặng trách nhiệm lên đôi vai người thầy. Nếu ông ta khôn ngoan và có phẩm chất cao, ấn chứng là biện pháp bảo vệ đối với công chúng. Nếu ông ta tầm thường, có ấn chứng hay không, đồ đệ ông ta cũng sẽ rời bỏ vì không thỏa mãn.
Thật là lộn xộn. không phải lão sư theo định nghĩa là thầy và hẳn phải không ngoan sao.
nhiều người hiểu lầm về nghĩa của từ lão sư và thiền sư. Lão sư nghĩa đen là người thầy đáng kính --- đó là, người được tôn kính vì lý do tuổi tác hay phẩm chất cao đẹp. Tu viện trưởng, thầy trụ trì chùa hoặc thầy giáo cư sĩ ngoài tuổi năm mươi được gọi là lão sư và tước hiệu này ám chỉ sự kinh trọng sâu sắc. Ở nhật lão sư được sử dụng kính cẩn, phần lớn bởi đồ đệ và môn đồ của chính vị thầy ấy, nó không là tước hiệu tượng trưng cho việc hoàn tất một khóa học quy định hay công nhận sự chứng đắc cao về mặt tâm linh. Tước hiệu sư chuyển tả một ý niệm hoàn toàn mới. Thiền sư là người có nội kiến và tuệ giác, người cảm nghiệm tánh không và vô thường của các pháp, và lối sống của vị ấy phản ảnh những nhận thức như vậy. Trong quyển những điều cần biết trong huấn luyện phật tử mà thiền sư đạo nguyên trước
dù lão sư có phải là sư hay không, chắc chắn ông ta đủ khôn ngoan để nhận biết một học trò nào có khả năng dạy hay không, phải không?
Anh tin thế à.
Thế tạ sao ông ta cho phép học trò của mình dạy sớm.
Lão sư cũng có những sai lầm như con người dù ít hơn những người trung bình và họ có thể sai lầm trong phán đoán.
nhưng không phải ngộ xóa đi những sự bất toàn và những thiếu sót cá nhân hay sao.
Không, chúng xuất hiện. Trước khi ngộ, người ta có thể dễ dàng làm ngơ hay thích nghi với tật xấu của mình, nhưng sau ngộ thì không còn có thể như vây, thiếu sót của ai hiển nhiên cũng gây khó chịu. Tuy nhiên, đồng thời một quyết tâm mạnh mẽ phát triển để loại chúng ra. Ngay khi tâm nhãn đầy đủ cũng không tức thời tỏ ra lạnh lùng thanh lọc rốt ráo những tình cảm. Tiếp tục tu luyện sau khi ngộ là điều cần thiết để tịnh hóa những tình cảm. Vì thế cách cư xử của ta xứng hợp với ngộ. Điểm cốt từ này phải được hiểu rõ.
Ở phương tây một lão sư được xem là giống như phật, hạnh kiểm của ông tịnh không một vết nhơ. Theo một nghĩa nào đó, nó là sự ca tụng việc tu thiền. Nhưng cái nhìn lý tưởng này có thể che mắt người ta khiến họ không nhìn thấy mật hạnh của người thầy. Ở nhật, tôi biết có một lão sư uống rượu rất nhiều, mặc dù vậy, hiếm khi say. Môn đệ ông vẫn rất kính trọng ông. Tôi hỏi một người trong họ, một bác sĩ. Lão sư của anh uống rượu quá nhiều không làm phiền lòng anh sao.
không tại sao phải như vậy. ông là người không ngoan và từ bi. dù có uống rượu.
nhưng không phải ông ta nghiện rượu hay sao.
không, ông ta có thể hạoc uống hoặc bỏ rượu, ông thích uống rượu.
Khi tôi kể chuyện này với những đồ đệ của tôi, nhiều người ngạc nhiên hỏi. Làm thế nào những lão sư điều hòa việc uống rượu với giới cấm thứ năm, không uống rượu vì nó làm tâm mê mờ. Ta có thể thông cảm việc thỉnh thoảng uống rượu nhưng không uống liên tục như ông ta. Tấm gương gì ông đã nêu đối với môn đệ.
/Người á châu độ lượng hươn trong những vấn đề như vậy so với người phương tây, vì vậy họ không dứt khoát từ chối người thầy mà họ khám phá ra là ít giống phật, vì họ biết một người có thể là người thầy tốt, tuy là chưa tự diệt trừ hết tất cả những ô trược. Một người Nhật có kinh nghiệm lâu dài trong
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét