Thứ Năm, 7 tháng 7, 2022

Con đã có đường đi 1

 Khổ đế dưới cái nhìn mới

tứ diệu đế là bốn sự thật cao quý mầu nhiệm, còn được gọi là Tứ thánh đế - bốn sự thật thánh thiện, hay tứ chân đế, bốn sự thật không giả dối. Sự thật thứ nhất khổ đế công nhận có những khổ đau hiện thực trong cuộc đời. Ngay trong lời dạy đầu tiên của Ngài , chúng ta đã cso thể nhận thấy đức thế tôn rất thực tế. NGài không dùng thời gian để nói về những vấn đề siêu hình không ích lợi cho đời sống của con người như vấn đề siêu hình không ích lợi cho đời sống của con người như vấn đề vũ trụ vạn hữu, ai đã tạo ra thế giới này. Ngài đưa chúng ta về với hiện trạng của bản thân chúng ta và hiện trạng của xã hội. Điều này rất cần thiết với mỗi chúng ta. Bởi muốn giải quyết những bức xúc, những khó khăn của chính mình, ta cần phải biết nhìn lại bản thân, nhận diện những khổ đau đang có mặt và những nguyên nhân đã dẫn đến những khổ đau đó. Nhiều người khi nghe ngài giảng khổ đau là một sự thật, đã tìm đủ mọi cách để chứng minh tất cả là khổ: sinh khổ, già khổ, bệnh khổ và chết cũng khổ. Từ cách hiểu như vậy họ đã dẫn đến sự phân chia khổ đau thành ba loại khổ là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ. 

1. khổ khổ: là tự thân của cái khổ, ví dụ: đau răng là khổ, mất người thương là khổ

2. Hành khổ: hành là hiện tượng, tất cả các hiện tượng do nhân duyên tập hợp lại đều gọi là hành, thí dụ: bông hoa là một hành, vì bông hoa được tạo nên từ rất nhiều nguyên nhân. Trong kinh nói chư hành vô thường, đây là một sự thật. Không có cái hành hay sự vật nào mà không vô thường. Không những cái đau răng của ta vô thường mà cái răng của ta cũng vô thường. Họ nói đau răng là khổ mà không đau răng cũng khổ, hễ có răng là có khổ. Răng đau cũng khổ rồi mà răng chưa đau cũng khổ vì trước sau gì nó cũng đau. Ý tưởng này hơi cưỡng ép. Nếu các hành là khổ thì có cái gì là không khổ nữa. 

3. Hoại khổ: cái gì cũng sẽ tàn hoại, khi tàn hoại nó là khổ mà chưa tàn hoại nó cũng là khổ như thường. 

Người giảng những điều này chỉ muốn chứng tỏ lời bụt là đúng, rằng tất cả đều là khổ. Nhưng bụt không hề nói như vậy. Bụt chỉ nói là cái khổ đang có mặt và chúng ta phải tìm cách giải quyết những cái khổ. Đừng nên hiểu lời bụt dạy một cách quá giáo điều. Hiểu như thế thì rất tội cho Bụt. Do đó, khi giảng dạy về sự thật thứ nhất, chúng ta nên tránh cách hiểu: tất cả là khổ, mà nên hiểu: tất cả là vô thường hay vô ngã thì đúng hơn. 

Trong xã hội, khi sinh ra một đứa con thì đó là một niềm vui. Tới ngày sinh nhật thì ta ăn mừng sinh nhật và hát bài Happy Birthday. Nếu nói sanh ra là khổ thì sao ta lại hát bài Happy Birthday, hay ăn mừng sinh nhật. Nói già là khổ. Nhưng đối với tôi, tôi thấy già cũng rất vui. Tôi già rồi nên tôi biết. Khi già thì trong người không có những năng lượng quá bồn bột, không có những bức xúc của tuổi trẻ. Già thì rất đằm, có thể sống sâu sắc được. Già hay lắm đấy. 

Khi còn trẻ, ta như một dòng suối nhảy múa trên núi, thao thức muốn đi ra biển càng sớm càng tốt. Nhưng khi dòng suối chảy đến đồng bằng và hòa vào dòng sông thì tự nhiên nó sẽ chảy chậm lại. Khi đi chậm lại, ta cũng sẽ thấy mây trời hiện ra trong lòng mình. Đâu phải làm dòng suối mới vui, làm dòng sông cũng vui vậy. Và tuổi già cũng có rất nhiều điều kiện để ta sống vui phải không? Trong cuộc đời, ai mà không một lần bệnh? Nếu nói tôi không bị bệnh thì lớn lên hệ thống miễn dịch sẽ rất yếu, và ta có thể sẽ chết bất cứ lúc nào. Nhờ ta có những cảm sốt vặt vãnh khi còn nhỏ nên hệ thống miễn dịch của ta mới được rèn luyện để trở nên mạnh mẽ mà chống đỡ được với những con vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập vào. cho nên, có bệnh không hẳn là điều tiêu cực. vì không bệnh, tham dục sẽ nổi lên. Bệnh có thể là trợ duyên cho sự tu tập của ta. 

Còn vấn đề chết thì sao? Nếu không cso chết thì làm sao có sống được? Nếu già không chết, lấy chỗ đâu cho con cháu sống? Thử tưởng tượng nếu trên trái đất toàn những ông bà già năm trăm, sáu trăm tuổi chống gậy lọm khọm vừa đi vừa ho sù sụ thì chán chết. Trong cơ thể nếu không có tế bào chết đi thì những tế bào mới không thể sinh ra được. cho nên cái chết rất cần thiết cho ta. Nếu ta chết với tuệ giác là chết mà không chết thì sự chết của ta không phải là khổ. 

Những người thực tập theo lời bụt dạy cần phải uyển chuyển, khéo léo để có thể hiểu và áp dụng giáo lý của Ngài phù hợp với hoàn cảnh sống. Ngày xưa không có hiện tượng hâm nóng địa cầu, không có nhiều căng thẳng, không có nhiều người bị bệnh tâm thần như ngày nay. Ngày xưa cũng không có nhiều bạo động và khủng bố cũng không có những cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Lối sống của người xưa không gây tàn hại môi trường khốc liệt như ngày nay và cũng không có nhiều cuộc chiến tranh giữa các tôn giáo. Đây là những nỗi khổ có thật của thời địa, những khổ đế mà ta phải nhận diện. Vấn đề ở đây không phải là đi tìm kiếm cái khổ mà là gọi đúng tên cái khổ đó. Ta biết khổ là có thật để tìm đường chuyển hóa chúng. 

Tập đế. 

Sự thật thứ hai là tập đế. Tập đế là nguyên nhân dẫn tới khổ đau. Muốn thấy được con đường thoát khổ thì phải thấy được những gốc rễ của khổ đau. Muốn chuyển hóa tình trạng hâm nóng địa cầu thì ta phải thấy được những nguyên nhân dẫn tới chuyện hâm nóng địa cầu: Đó là do cách ta tiêu thụ hàng ngày, sử dụng xe hơi, nuôi súc vật để ăn thịt, phá hủy rừng cây... Tất cả những cái đó đều góp phần làm nóng địa cầu. Và chỉ khi nào biết rõ những nguyên nhân dẫn đến cái khổ thì ta mới có thể chuyển hóa cái khổ hiệu quả được. Cái thấy này là một sự đóng góp rất thực tế cho nền văn hóa toàn cầu. 

rõ ràng, chủ trương của đạo bụt không đòi hỏi phải có đức tin nơi một vị thần linh mà chỉ cần biết dựa vào tuệ giác của chính mình để chấp nhận sự có mặt của khổ đau, tìm ra nguyên nhân của khổ đau và chuyển hóa khổ đau nơi mình và cuộc đời. 

Hơi thở và bước chân chánh nnieemj sẽ đem tâm về với thân. Khi thân tâm hợp nhất thì chúng ta mới thật sự có mặt trong giây phút hiện tại và có chủ quyền về thân và tâm của mình. Nếu đánh mất chánh niệm thì chúng ta sẽ bị đời sống hằng ngày kéo đi, ta sẽ bị chìm đắm, trôi lăn theo những lo lắng sầu khổ, theo tập khí và thói quen. Một khi đã bị chìm đắm và trôi lăn thì ta mất hết tự do, ta không còn chủ quyền đối với thân tâm mình nữa. Ta có chủ quyền nhưng không biết sử dụng chủ quyền đó thì chẳng khác gì một vị vua bị tước mất quyền làm vua, cứ để mặc cho người khác muốn làm gì thì làm và vương quốc lâm vào tình trạng bê bối. 

Tâm ta là một vương quốc với lãnh thổ khá rộng. Nó bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nếu ta để cho những cảm xúc và tri giác bị kéo đi bởi những thói quen và tập khí thì ta đánh mất chủ quyền trên lãnh thổ của mình. Khi dùng hơi thở và bước chân để trở về với giây phút hiện tại, để hợp nhất thân tâm là ta bắt đầu có chủ quyền. ta đi là tại ta muốn đi chứ không phải bị kéo đi, ta nói là vì ta muốn nói chứ không phải bị ma xúi bẩy. Thực tập chánh niệm giúp ta khôi phục chủ quyền và làm lớn mạnh chủ quyền. 

Có hay không có tự do ý chí?

Trong lĩnh vực triết học, người ta đang đặt vấn đề rằng có hay không có tự do ý chí. Có những trường phái triết học khẳng định có tự do ý chí, nhưng cũng có những trường phái thì phản bác lại quan điểm trên. Vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ. Tuy hiên, Bụt xác nhận rằng nếu biết thực tập chánh niệm, ta sẽ có nhiều chủ quyền và đạt đến tự do lớn. Khi ấy, ta có tự do nói những điều ta muốn nói, và làm những điều ta muốn làm. Tuy nhiên sự tự do này còn bị giới hạn vì trong ta vẫn còn bị những thói quen và tập khí kéo đi. Một người mới tu thì những tự do đó còn hạn hẹp. Nhưng nếu chánh niệm và chánh định lớn lên thì tự do cũng sẽ lớn lên theo, càng thực tập thì giới hạn đó càng mở rộng ra. Tự do để không bị chìm đắm và trôi lăn. Chìm là chìm xuống, lăn là trôi đi. 

Thị vị hóa sự thực tập. 

Tôi đã có rất nhiều tự do và hạnh phúc nhờ công phu thực tập thiền thở và thiền đi. Trong khi thực tập, tôi đã kết hợp với việc áp dụng các bài thi kệ. Và lâu lâu, tôi cũng thay đổi các bài hệ để sự thực tập mới mẻ hơn, hiệu quả hơn. Bài thi kệ đã được tôi sử dụng trong một thời gian dài là bài Nương tựa A Di Đà 

Tôi đã có rất nhiều tự do và hạnh phúc nhờ công phu thực tập thiền thở và thiền đi. Trong khi thực tập, tôi đã kết hợp với việc áp dụng các bài thi kệ. Và lâu lâu, tôi cũng thay đổi các bài kệ để sự thực tập mới mẻ hơn, hiệu quả hơn. Bài thi kệ đã được tôi sử dụng trong một thời gian dài là bài nương tựa a di đà. Công phu chiều thứ sáu, nhật tụng thiền môn năm 2010. Trong khóa tu tổ chức tại nước Anh vừa rồi, tôi đã sử dụng bài này rất nhiều. Đôi khi tôi cũng sử dụng bài Đây là tịnh độ. Nhưng bài kệ được tôi sử dụng nhiều nhất là bài Quay về nương tựa. Tôi đã sử dụng bài này suốt mấy chục năm qua 

Quay về nương tựa. Tôi đã sử dụng bài này suốt mấy năm qua. 

Quay về nương tựa

Hải đảo tự thân

chánh niệm là bụt

soi sáng xa gần

Hơi thở là pháp

Bảo hộ thân tâm

Năm uẩn là tăng

Phối hợp tinh cần

Thở vào thở ra

:à hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang. 

Trong thiền đi, nếu ta phối hợp được giữa ba yếu tố: hơi thở, bước chân và thi kệ thì sự thực tập của ta sẽ trở nên rất thi vị. Ta cần sắp đặt việc ngắt nhịp câu chữ của bài thi kệ như thế nào cho khớp với bước chân và hơi thở của mình. Khi thở vào ta bước hai bước và đọc thầm quay về, thở ra ta bước hai bước và đọc thầm nương tựa. 

Bụt là ta. Ta thấy được Bụt đang tản bộ, đang rong chơi, đang hạnh phúc, đang thảnh thơi, và ta cũng cso thể làm được tất cả những điều này. 

Con đang tản bộ

Con đang rong chơi

Con đang hạnh phúc

con đang thảnh thơi

Con cũng không thua gì bụt. Ta có thể đi cho mẹ, cho ba. Khi đi, ta thấy hai chân này là của mẹ, của ba

Con cũng không thua gì bụt. Ta có thể đi cho mẹ, cho ba. Khi đi, ta thấy hai chân này là của mẹ

Con cũng không thua gì bụt. Ta có thể đi cho mẹ, cho ba. Khi đi, ta thấy hai chân này là của mẹ, của ba. 

Tất cả những người đó đều là ta, đang có trong ta và họ cũng đang thực tập. Để cho sự thực tập của đời sống hằng ngày thêm phong phú, ta có thể chế tác bài kệ theo những sinh hoạt hàng ngày cho phù hợp, ví dụ"

Bụt đang quét nhà

Bụt đang rong chơi

Bụt đang hạnh phúc

Khi thực tập như vậy ta phải đem hết tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại, ta sẽ thấy sự sống thật mầu nhiệm, sẽ thấy tịnh độ có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Một khi đã nếm được hạnh phúc trong giây phút hiện tại rồi, ta không còn đi tìm hạnh phúc hay tịnh độ trong tương lai nữa. 

Nếu có cơ hội pháp đàm, chúng ta cần tạo điều kiện để cho mọi người nói ra cách thực tập của chính bản thân. Người đó thực tập thiền đi như thế nào? Thiền thở ra làm sao? Qua sự chia sẻ đó, ta sẽ có cơ hội nhìn lại sự thực tập của chính mình: Ta đã thực tập hết lòng chưa? Đã giỏi chưa? Đã có đủ hạnh phúc chưa? Tu tập chung với tăng thân là cơ hội lớn cho ta tập làm những chuyện này, năng lượng của tăng thân sẽ giúp sự thực tập của ta trở nên tự nhiên và dễ dàng hơn. Bởi ai cũng đang thực tập, đang an trú trong hiện tại, lẽ nào ta lại đơn độc trong sự rong ruổi và trôi lăn? Chính điều này giúp ta có thêm ý chí và quyết tâm trong sự thực tập. Ta có thể tự thách thức mình rằng: Hiện nay, đang có thầy, có bạn cùng thực tập chung, nếu tôi không tìm ra được hạnh phúc thì chẳng bao giờ tôi tìm ra hạnh phúc. 

Tịnh độ là đây. 

Sự thực tập của Làng Mai. Tịnh độ là đây. 

Sự thực tập của làng mai chú trọng ở giây phút hiện tại. Nếu muốn tìm thiên chúa, niết bàn hay tịnh độ thì phải tìm ngay trong giây phút hiện tại. Nếu muốn tìm an lạc, hạnh phúc cũng phải tìm trong giây phút hiện tại. Nếu muốn tìm sức khỏe cũng tìm nó trong hiện tại, dù rằng ta đây đang có bệnh. Trong giây phút ấy, nếu biết thở, biết đi, bệnh sẽ bắt đầu được thuyên giảm. Còn làm ngược lại thì bệnh trạng sẽ càng tệ hơn mà thôi. Hãy trở về với giây phút hiện tại, thân và tâm của ta sẽ được tận hưởng rất nhiều nguồn năng lượng tươi mát, lành mạnh của tăng thân và những nhiệm mầu của cuộc sống. Nếu ta không tìm được hạnh phúc ở hiện tại thì sức mấy mà ta tìm được hạnh phúc ở tương lai. Hiện tại ta mà không tìm được hạnh phúc, liệu ta có tìm được hạnh phúc ở tịnh độ. Giả sử hiện giờ bạn đang bất an, nếu đặt chân lên tịnh độ thì ngựa cũng sẽ quen đường cũ, bạn cũng vẫn cảm thấy không dễ chịu, không ở yên được, và bạn cũng sẽ bỏ đức A Di Đà mà ra đi thôi. 

Hạnh phúc chỉ có thể là bây giờ, hoặc không bao giờ. Ta cần phải biết lựa chọn: An trú trong hiện tại, hạnh phúc trong hiện tại hay là trầm luân? Hơi thở và bước chân là những chiếc phao giúp ta nổi lên trên dòng chảy của quá khứ, của tương lai mà không bị nó nhấn chìm. Hơi thở và bước chân cũng là những chiếc neo giúp thuyền của ta không trôi đi theo những dòng chảy. Thực tập hơi thở và bước chân có nội dung là ta bắt đầu xác lập được chủ quyền với chính mình. 

Sự thực tập hơi thở và bước chân là thực tập căn bản của Làng Mai. Và sự thực tập phải có phẩm chất, đừng để rơi vào hình thức. Khi đi, phải biết là ta đang đi chứ không phải bị kéo đi, khi thở, biết ta đang được thở chứ không phải bị thở. Khi phát ra một tư tưởng buồn giận thì ta biết đây là một tư tưởng buồn giận và ý thức rằng tư tưởng buồn giận sẽ không có lợi cho sức khỏe của mình, không đem lại hạnh phúc cho mình. Như vậy là ta có chủ quyền về thân tâm của ta rồi. Đừng hiểu lầm rằng không có tư tưởng buồn giận tức là ta có chủ quyền tại vì lúc ấy ta có chánh niệm. Có chủ quyền với hơi thở và bước chân thì ta có thể làm nơi nương tựa cho mọi người. Đó là phẩm vật quý giá nhất dâng lên tam bảo, trong đó có tăng thân. 

Hãy hiểu khổ đế như những nỗi khổ đau có thực của chính bản thân và thời đại. 

Chúng ta thường được học và hiểu về khổ đế như là cái khổ của sinh, già, bệnh và chết, như là sự ham muốn nhưng không được thỏa mãn yêu thương nhau mà phải xa lìa, ghét nhau mà phải gần nhau, như là khổ đau khi năm uẩn chống báng nhau. Đây là cách diễn tả về khổ đế của người xưa. Nó mang tính biểu trưng, tính hình thức. Nếu nói nguyên nhân xuất gia của thái tử tất đạt đa chỉ vì thấy cảnh sanh, lão, bệnh, tử trong một chuyến du ngoạn qua bốn cổng thành thì quá sơ sài. Chúng ta được biết lúc đi xuất gia, thái tử đã 26,27 tuổi rồi, lại là người rất thông minh, tinh thông triết học, lẽ nào lại không biết sanh, lão, bệnh tử là gì. Trong đường xưa mây trắng tôi nói, thái tử đi xuất gia là vì thấy trong dân chúng khổ và trong triều đình cũng khổ, vua cha khổ mà các quan đại thần cũng khổ. Tuy họ có quyền hành và địa vị nhưng họ không thể nào giúp được cho người dân, để cho dân chúng lâm vào cảnh nghèo đói, bệnh tật. Từ thực tế ấy, ngài thấy được rằng chính trị, quyền hành và địa vị nhưng họ vẫn khổ vì sự chia rẽ, tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau, vì chính họ cũng có những khó khăn không giải quyết được nên họ không thể nào giúp được cho người dân, để cho dân chúng lâm vào cảnh nghèo đói, bệnh tật. Từ thực tế ấy, ngài thấy được rằng chính trị, quyền hành và địa vị không thể mang lại niềm vui cho chính mình và cho đất nước. Do đó, ngài muốn đi tìm hạnh phúc, an vui cho mình, cho những người xung quanh theo một hướng khác. 

Ở thời đại này, khi đề cập đến khổ đế, ta cần phải trình bày sao cho khế hợp. Trong khóa tu với nội dung: Đạo phật dấn thân được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp lễ phật đản năm 2008, tôi có nói rằng khi nhắc đến khổ, trước tiên ta cần đề cập đến những nỗi khổ có thật trong thân và tâm của chính ta như: lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, bạo động, giận hờn, trừng phạt... Đó là những căn bệnh kinh niên. Không biết lo cái gì, sợ cái gì, nhưng cứ lo hoài. Khi năng lượng của sự giận dữ xâm chiếm thì ta muốn đập phá, muốn trừng phạt và muốn làm cho người kia đau khổ, tại vì người đó đã dám làm cho ta đau khổ. Trong ta sẵn có năng lượng bạo động, bực tức, muốn phản ứng và muốn phá đổ. 

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều năng lượng bạo động. Việc khủng bố vốn là bạo động nhưng chống khủng bố cũng bạo động không kém gì. Tôi còn nhớ trong chuyến hoằng pháp tại Nam Hàn, tôi có tham dự một buổi diễn đàn hòa bình của tổ chức Liên Tôn. Lúc ấy tình hình Iraq rất căng thẳng. Dù Mỹ chưa chiếm đóng Irag nhưng mọi thứ chuẩn bị cho việc đánh chiếm Iraq đã sẵn sàng. Iraq có thể bị bỏ bom, có thể bị bao vây bất cứ lúc nào. Trong buổi thuyết trình ấy tôi có nói là nếu là một người dân đang sống tại thành phố sắp bị chiếm đóng thì sẽ rất lo sợ, không biết bom sẽ dội xuống thành phố lúc nào. Những người dân phải sống trong tình trạng sợ hãi như vậy trong suốt một ngày thì sức khỏe bị ảnh hưởng rất xấu. Huống hồ gì phải sống trong tình trạng ấy liên tục nhiều ngày nhiều tháng? Thành phố có thể chưa bị bao vây, chưa bị chiếm đóng, nhưng người dân đã lo lắng và sợ hãi rồi. Cái đó là bạo động, là khủng bố. Khủng bố và bạo động với chính mình. Như vậy bạo động và khủng bố đến từ hai phía chứ không đến từ một phía như thông thường ta hay nghĩ. Bạo động có trong tất cả chúng ta. Người có nhiều bạo động thì khổ nhiều, người có ít bạo động thì khổ ít. 

Bạo hành trong gia đình

Một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của xã hội là hiện tượng bạo hành trong gia đình. Khi cha mẹ chống báng nhau, gia đình đổ nát thì những đứa con phải lãnh chịu rất nhiều bất hạnh và khổ đau. Chúng khó có thể phát triển toàn diện và bình thường về nhân cách được. Khi trưởng thành, đại đa số những người con ấy mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi. Trên thế giới, tỉ lệ ly dị của các cặp vợ chồng rất lớn. Ở Hòa Lan tỷ lệ ly dị lên tới hơn 50%. 

Những rạn nứt trong đời sống gia đình, lứa đôi và sức ép của xã hội đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và rất thương tâm. Đặc biệt là tình trạng tự tử. Theo thống kê, ở Việt Nam, khoảng vài đồng hồ là có một người tự tử. Ở pháp mỗi năm có trên mười hai ngàn người trẻ tự tử. Bên cạnh đó còn có chiến tranh, khủng bố, sự phá hoại của môi trường và sự hâm nóng của địa cầu. Đây là những cái khổ đang có thực trong đời sống và ta phải gọi đúng tên chúng. Ta phải hiểu rằng khổ đế là những nỗi khổ đang đích thực có mặt. Đừng hiểu lầm ý bụt mà khẳng định rằng cái gì cũng chỉ toàn là khổ đau. Ta cần phải phân biệt được rõ ràng hai vấn đề sau: Chấp nhận khổ đau đang có mặt, và xử lý khổ đau. Rõ ràng, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Chúng ta cần điều chỉnh lại cách nhận thức của mình về giáo lý khổ đế mà bụt đã dạy. Ví dụ, chúng ta có thể nói cái bàn vô thường hoặc vô ngã thì được, chứ còn nói cái bàn khổ thì hơi khó nghe. Mình khổ chỉ khi nào mọi vật vô thường mà mình cho là thường, mọi vật vô ngã mà cho là ngã. Khổ là một thái độ, một sự phản ứng của ta với các hiện tượng chứ không phải là bản chất của sự vật. Ta đừng nên bị nhồi sọ bởi thái độ giáo dục. Đi tìm khổ như bản chất của vạn hữu. Nếu làm vậy, ta đang nghĩ oan cho bụt. Bụt chỉ nói rằng, có khổ đau, đừng chạy trốn khổ đua và phải nhận diện những khổ đau đó để tìm cách giải quyết. 

Nếu bị kẹt vào ý niệm mọi thứ đều là khổ, ta sẽ trốn chạy , sẽ đè nén, sẽ không dám đối diện với những khổ đau. Trong khi đó muốn chuyển hóa được khổ đau, ta phải nhìn sâu vào khổ đau, ta phải nhìn sâu vào khổ đau để tìm ra cội rễ của những khổ đau này. Ví dụ, ta đang có sự căng thẳng trong thân, nếu không biết tại sao có những căng thẳng ấy thì làm sao ta có thể tự chữa trị cho chính mình. Nếu biết được căng thẳng là do ta quá bận rộn, do ta không an trú được trong giây phút hiện tại, do ta chưa có cơ hội để buông thư, thì ta sẽ có được giải pháp rất thích hợp cho chế độ nghỉ ngơi của chính mình. Còn ngược lại nếu mỗi ngày một ít ta tự chất chứa, dồn nén những căng thẳng thì sau nhiều ngày, những căng thẳng bị dồn chứa ấy sẽ mang đến cho ta nhiều bệnh tật. Do vậy, khi có căng thẳng, ta cần phải cho phép mình được buông thư, hoặc dành thời gian để ngồi thiền, đi thiền thì những căng thẳng sẽ được thư giãn, không bị dồn nén nữa. Xã hội bây giờ ai cũng có căng thẳng đó là sự thật thứ nhất. Sự thật thứ hai là cách ta tổ chức đời sống làm cho ta càng ngày càng bị căng thẳng. Đó là những sự thật về đạo đức mà không phải là những giả thuyết. Đó là thực tế. 

Ta đã cùng nhau nhận diện và gọi tên những khổ đau của xã hội ngày nay. Những khổ đau này không có mặt riêng biệt. Chúng tương tức với nhau. Phần lớn các vấn đề xảy ra đều có liên quan đến sự căng thẳng. Nếu không căng thẳng, ta có thể giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng, bình tĩnh, không nóng nảy. Tất cả những cái khổ đều tương tức với nhau. Do đó, khi tìm ra được nguyên do của một cái, ta sẽ tìm ra được nguyên do của những cái khác. Ta cũng nên biết, mỗi khổ đau xảy ra đến từ nhiều nguyên nhân. 

Có thể là từ trước đến nay chưa có ai nói khổ tập là lề lối sống. Khổ đau là do lối sống của ta dựa trên những tà kiến. Ví dụ, nếu thấy ta và con ta là hai thực thể khác nhau mà không thấy đượ ccon ta là sự tiếp nối của ta, thì cái thấy này là tà kiến. Vì không thấy được sự thật tương tức nên ta còn có cái nhìn nhị nguyên, kỳ thị cho rằng hạnh phúc của con không phải là hạnh phúc của mình, rằng khổ đau của con không phải là khổ đau của mình. Nhưng sự thật thì khi con ta khổ đau thì ta khó mà có hạnh phúc được. Tà kiến là không thấy được tính duyên sinh của vạn vật, không thấy được tính vô thường, vô ngã và tính tương tức của vạn vật. Trong con đường bát chánh, con đường đưa tới sự diệt khổ, có chánh kiến. Còn tập đế là con đường đưa tới tà kiến. Người Palestin phải thấy nỗi khổ niềm đau của người Do Thái là nỗi khổ niềm đau của mình, và người do thái cũng phải thấy như vậy. Nếu có chánh kiến đó, hai bên sẽ cộng tác với nhau được, và hai bên đều có hạnh phúc. Trường hợp giữa cha và con, giữa người Mỹ và người Iraq, người hồi giáo và người Ấn Độ giáo cũng vậy. Nếu có tà kiến, chắc hẳn sẽ có tà tư duy. Vấn đề này liên quan đến đạo đức. Người Việt diễn tả chánh là thẳng, còn tà là nghiêng. Muốn có đạo đức thì phải có  cái thấy rõ ràng về chánh và tà. Tà kiến là cái thấy sai lạc. Tổ Lâm Tế nói: Người tu phải có chánh kiến. Nếu cái thấy sai lạc, tư duy của ta cũng sẽ sai lạc, tà tư duy, và tà tư duy sẽ đưa tới sự sợ hãi và bạo động. Ví dụ, nếu nghĩ rằng ta không giết kẻ kia trước thì chắc chắn kẻ kia sẽ giết mình, và vì vậy ta phải tìm cách giết kẻ đó trước. Cái này gọi là tà tư duy vì sự thật không phải như vậy. Đây chỉ là cái thấy lầm lạc do nghi ngờ và sợ hãi đem đến mà thôi. Khi có tà tư duy sẽ dẫn tới: 

Tà ngữ: Lời nói sai trái.

 Tà nghiệp: thói quen xấu. 

Tà mạng: làm ăn không chân chánh, phá hoại môi trường, cướp đoạt cơ hội sinh sống của những người khác, nói dối để người khác tiêu dùng những sản phẩm có hại cho sức khỏe của họ. 

Tà tinh tấn: Siêng năng không đúng chỗ, cứ mê mải làm việc suốt ngày đêm, đến nỗi quên cả gia đình và bản thân mình nên bị dồn chứa căng thẳng, lo lắng. 

Tà niệm: lúc nào cũng nghĩ tới chuyện làm giàu, làm sao để có nhiều quyền hành, danh vọng và sắc dục, không bao giờ có mặt trong giây phút hiện tại, chỉ chạy theo, trôi lăn theo đối tượng của dục. 

Tà định: chỉ chăm chú vào những chuyện trái với cái thấy tương tức, mình và đối tượng của mình không liên quan gì đến nhau, đối tượng của mình rất nguy hiểm, mình phải tiêu diệt nó. 

Tà kiến: Cái thấy sai lầm. Khi niệm hùng hậu thì sẽ đưa tới định. Nhưng nếu đối tượng của niệm là dục thì đối tượng của định cũng chính là dục. Có những người lúc nào cũng nghĩ tới chuyện làm sao để có nhiều quyền hành, với người ấy đối tượng niệm của họ là quyền hành. Khi đối tượng của niệm là giàu sang, dạnh vọng hay sắc dục thì cái niệm đó cũng đưa tới một thứ định nhưng là tà định. Khi có tà niệm va tà định sẽ đưa tới tà kiến. Chính vì có tà kiến mới có tà niệm và tà định. Chúng tương tức với nhau. Tà kiến nuôi tà niệm và tà định, rồi tà niệm và tà định lại nuôi tà kiến, cứ vòng vòng như vậy. đây không phải là con đường bát chánh mà là cond dường bát tà. Sở dĩ chúng ta có khổ đau là bởi vì chúng ta đi trên con đường tà đạo: con đường của tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà định, tà niệm và tà tinh tấn. Phần tà nhiều hơn phần chính. 

Bát chánh đạo đưa tới hạnh phúc và bát tà đạo đưa tới khổ đau. Khi đi tìm nguyên nhân của khổ đau thì ta có thể đi tìm ngay trong nếp sống hiện tại của ta, những nguyên nhân này đến từ con đường bát tà. 

Khổ là sự thật thứ nhất, khổ tập là sự thật thứ hai, khổ tập diệt là sự thật thứ ba. Diệt ở đây là sự chuyển hóa, sự tiêu diệt những nguyên nhân đưa tới khổ, sự vắng mặt của nếp sống tà đạo. Sự vắng mặt của tập cũng đồng thời là sự vắng mặt của nếp sống tà đạo. Sự vắng mặt của tập cũng đồng thời là sự vắng mặt của khổ. Đây là sự tiêu diệt tận gốc rễ. Sự thật thứ ba, diệt, xác nhận rằng ta có thể chuyển hóa được nếp sống này. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta có tự do ý chí. Với chánh niệm ta sẽ đi tới chánh định và với chánh niệm và chánh định ta sẽ đạt tới chánh kiến. Theo đạo bụt thì rõ ràng là con người có tự do ý chí. Chánh niệm trong bước chân và hơi thở là một sự thực tập rất cụ thể để chấm dứt sự trôi lăn, để nuôi lớn tự do. Sự thật thứ ba ( khổ tập diệt) được cụ thể hóa bằng sự thật thứ tư: khổ tập diệt đạo. Có sự thật thứ tư thì ta thấy sự thật thứ ba có chân đứng. Sự thật thứ tư là khổ tập diệt đạo. Khổ tập diệt đạo là con đường đưa tới sự chuyển hóa đưa tới sự tiêu diệt nguyên nhân của khổ đau. Thực tập con đường bát chánh, ta sẽ đạt tới tự do và nhổ được gốc rễ của khổ đau. 

Chánh niệm là dây cương. 

Có một người hay nổi giận khi nghe người khác nói những điều không vừa tai. Những lúc ấy anh không làm chủ được mình, để rồi sau đó thì hối hận, tự buồn, tự trách mình là tại sao biết rằng nói như vậy, làm như vậy sẽ không đẹp mà vẫn nói, vẫn làm. Đó là bởi vì không cưỡng lại được thói quen, ngựa theo lối cũ. Thấy vậy, một người bạn muốn giúp anh ta. Người bạn nói: Hôm nay đi họp mình sẽ ngồi cạnh bạn , mình sẽ cầm tay bạn trong suốt buổi hpj. Và nếu khi người ta nói những câu tưới hạt giống giận trong bạn, mình sẽ xiết chặt lấy bàn tay bạn, khi ấy bạn phải trở về với hơi thở và mỉm cười, mặc cho họ có nói gì. Hôm ấy anh ta đã không bùng nổ như mọi lần. Đó là do sự can thiệp của chánh niệm. Người bạn phải xiết tay anh bởi vì chánh niệm trong anh còn yếu. Nhưng sau vài lần có mặt của người bạn thì chánh niệm trong anh được nuôi lớn và từ đó anh không cần người bạn ngồi bên cạnh mình trong mỗi buổi họp nữa. Điều đó chứng tỏ rằng không gian trong anh đang lớn dần lên, anh bắt đầu có tự do trong các buổi họp. Điều này có được là do đâu vậy? Do chánh niệm. đây là đầu dây mối nhợ. Nếu ta nắm được cái đó, ta sẽ có tự do. Bốn sự thật hay tám con đường là sự đúc kết từ kinh nghiệm thực tập, chúng không đến từ một đấng thượng đế, và cũng không phải do một tự viện đề ra. Bốn sự thật là một sự kiện đạo đức có thể được chấp nhận bởi bất cứ ai. Dù là phật tử hay không phải là phật tử thì đó cũng vẫn là sự thật. Dù ta có tin vào Bụt hay không tin vào Bụt thì đó cũng là sự thật. Ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên của mình, đức thích ca đã đề ra một nền đạo đức một con đường. Nó rất thiết thực và không có tính siêu hình. Nó đưa chúng ta trở về với thực trạng của chính bản thân để mà hiểu, để mà thấy được con đường giúp ta chuyển hóa. Con đường này không dùng để suy nghĩ mà phải đem ra áp dụng. Mà hễ áp dụng thì sẽ có kết quả. 

Biết ơn là điều kiện của hạnh phúc

Tinh thàn của sự thực tập làm lớn lên lòng biết ơn để nuôi dưỡng niềm hạnh phúc trong đời sống của mỗi người. Bởi vì khi nào còn có lòng biết ơn thì khi ấy hạnh phúc vẫn còn có mặt. Người nào đã cạn kiệt lòng biết ơn thì hạnh phúc không thể còn có nơi người ấy được. Theo truyền thống cơ đốc giáo, biết ơn được hiểu là biết ơn thượng đế, biết ơn chúa. Bởi theo cơ đốc giáo thì thượng đế đã sinh ra ta sinh ra vạn vật và tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống. 

Khổ đau có mặt nhưng hạnh phúc cũng có mặt. 

Chúng ta có nói căng thẳng là yếu tố luôn góp mặt trong những nguyên nhân gây ra những khổ đau như lo lắng, sợ hãi, bạo động, gia đình tan vỡ, ly dị, tự tử, chiến tranh, xung đột, khủng bố, ô nhiễm môi trường, địa cầu bị hâm nóng... Còn rất nhiều nỗi khổ đau trong lòng mỗi người, mà chúng ta không thể kể hết ở đây. 

Theo nhận thức của những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà cách mạng thì khổ là nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp, bất công, xã hội, nô lệ, kỳ thị... Nhưng nếu quán chiếu cho sâu, họ cũng thấy được rwangf những cái mà họ cho là khổ không nằm ngoài mối quan hệ với những nỗi khổ trong tự thân. Giả sử không có nghèo đói, không có bệnh tật, không có thất nghiệp, không có bất công xã hội thì vẫn có những căng thẳng lo lắng sợ hãi bạo động, chiến tranh như thường. Khổ vẫn có như thường. Nếu chúng ta không bị căng thẳng, không bị lo lắng, không sợ hãi không bạo động thì tự nhiên nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp sẽ được giảm bớt. Chúng ta cần phải nhìn nhận một cách sâu sắc để biết được cái nào đích thực là khổ. Ví dụ, một người tranh đấu chống nạn thất nghiệp để có cơm ăn, áo mặc, nhà ở để có tự do. Vì theo họ thì bị thất nghiệp, không có cơm ăn, áo mặc, nhà ở... là khổ. Nhưng có thể trong họ vẫn có sự lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, giận hờn, và họ vẫn khổ, cho dù có đấu tranh thành công để có được việc làm, để có được tự do. 

Cho nên, cái khổ có nhiều mặt. Và khi đề cập đến tập đế, chúng ta có thể nói nó là con đường bát tà - tức là con đường không có mặt của chánh kiến, chánh tư duy. Nó là nguyên nhân đưa đến khổ đau. Nhờ biết được nguyên nhân khổ đau, sự vắng mặt của bóng tối. Khổ đau vắng mặt thì hạnh phúc có mặt. Bóng tối vắng mặt thì ánh sáng có mặt. Hạnh phúc là ngược lại với căng thẳng. Hạnh phúc là ngược lại với lo lắng. Hạnh phúc là ngược lại với sợ hãi. Trong hạnh phúc không thể có mặt yếu tố bạo động, yếu tố tan vỡ. Diệt đế là hạnh phúc, nhưng trong hạnh phúc thì khổ đau cũng có thể đang có mặt một phần nào đó. công nhận khổ đế không có nghĩa là không có hạnh phúc. công nhận có bùn không có nghĩa là không có sen. Trong giây phút hiện tại, trong ta vừa có bùn, vừa có sen, vừa có rác, vừa có hoa. Nếu nói khổ đế là một sự thật thì diệt đế cũng là một sự thật. Cuộc đời có những khổ đau, nhưng cuộc đời cũng đang có những hạnh phúc. 

Sáng nay ngồi thiền, tôi cảm thấy rất hạnh phúc và hạnh phúc là một chuyện thật. Khi nói đến Tứ diệu đế, nếu nghĩ rằng Tứ diệu đế chỉ có nói tới khổ đau thôi thì không đúng. Tứ diệu đế nói rằng có khổ đau nhưng đồng thời hạnh phúc cũng đang có mặt. Nhìn cho kỹ thì khổ đau cũng đóng một vai trò nào đó để tạo dựng hạnh phúc. Vấn đề là làm thế nào để làm vơi bớt khổ đau và làm tăng trưởng hạnh phúc. Luân lý đạo đức là những nguyên tắc, những phươn gphaps hành động để giảm thiểu khổ đau và nuôi lớn đạo đưc.s Cho nên không hẳn là tiêu diệt khổ đau mới có hạnh phúc. 

vào khoảng 6 giờ sáng trên bầu trời có cả mảng sáng và mảng tối, sáng tối đan xen vào nhau. Khổ đau và hạnh phúc cũng vậy, chúng nương vào nhau. Trong tuệ giác tương tức thì cái này được làm bằng cái kia và cái kia được làm bằng

Thư giãn là hạnh phúc có mặt

Trong dời sống, rất nhiều người không có sự thư giãn. Chúng ta cần phải học cho được cách thư giãn. Ví dụ, tập đi thiền hành là cơ hội để tập thư giãn. Sự căng thẳng và thư giãn đi đôi với nhau, chúng có mặt cùng một lúc. Vấn đề là cái nào nhiều, cái nào ít mà thôi. Trong chúng ta có sự căng thẳng, nhưng cũng có sự thư giãn. Tùy cách sống của mình mà ta có nhiều sự căng thẳng hay nhiều sự thư giãn. 

Phát triển sự thư giãn, buông bỏ những lo lắng, sợ hãi và bạo động là hạnh phúc đang có mặt. Mỗi người đều có khả năng chế tác ra sự thư giãn với tư cách cá nhân và năng lượng đó sẽ ảnh hưởng tới tập thể. Thí dụ một người giáo viên nếu có ý thức nuôi dưỡng sự thư giãn trong mình và chế tác sự thư giãn đó cho học sinh thì việc dạy và học sẽ thành công hơn. Giữa giáo viên và học sinh có sự nhẹ nhàng mà khôn gphair căng thẳng mệt mỏi. 

Đạo đế là con đường mà trong đó có những phương pháp đưa tới sự thư giãn. Yếu tố đầu tiên của hạnh phúc là biết thư giãn để chấm dứt lo lắng, sợ hãi. Đứng về phương diện sinh học thì chính sự căng thẳng tạo ra lo lắng, sợ hãi, bạo động và bệnh tật. Trong mình ta có tuyến yên. Khi cảm thấy có tình trạng nguy hiểm thì tự nhiên tuyến yên sẽ tiết ra một chất hóa học trong máu. Nội trong mấy giây sau chất hóa học đó đụng tới tuyến thường thận và nhả ra chất adrenalin, chất này vào trong máu thì sẽ khiến trái tim đập mạnh hơn để dồn máu tới hai chân, hai tay, và đôi mắt để sẵn sàng đối phó với tình trạng nguy hiểm. Đó là phản ửng hoặc chống cự, hoặc là bỏ chạy. Muốn chống cự hay bỏ chạy đều cần dùng tới rất nhiều năng lượng và vì vậy các cơ năng khác phải dừng lại hết. Chất đó cũng khóa bộ máy tiêu hóa lại và không cho làm việc nữa. Lúc này cơ thể tạo ra sự căng thẳng. Nếu sự căng thẳng kéo dài thì nó sẽ làm hỏng bao tử và bộ phận tiêu hóa. Cho nên những người nào hay lo sợ rất có hại cho bao tử. Một thí dụ khác là trong lúc chạy đua thi đấu, trước khi người phát lệnh thổi còi cho bắt đầu cuộc thi chính là giây phút trong cơ thể các vận động viên tiết ra chất adrenalin. Nếu giây phút đó kéo dài quá lâu thì đương sự có thể sẽ chết. 

Đôi khi trong đời sống hằng ngày khi nghe tiếng điện thoại reo ta cũng lo. có khi nhìn những tờ báo ta cũng thấy lo vì không biết cổ phần đang lên hay đang xuống. Tuy không có những lo lắng lớn hay nguy hiểm lớn xảy ra nhưng những lo lắng nhỏ trong đời sống hằng ngày cũng làm cho chất adrenalin tiếp tục được tiết ra và nó cũng khó bộ máy tiêu hóa lại khiến ta bị căng thẳng. Những căng thẳng ấy thì làm sao ta có thể tự chữa trị cho chính mình. Nếu biết được căng thẳng là do ta quá bận rộn, do ta không an trú được trong giây phút hiện tại, do ta chưa có cơ hội để buông thư, thì ta sẽ có được giải pháp rất thích hợp cho chế độ nghỉ ngơi của chính mình. Còn ngược lại nếu mỗi ngày một ít ta tự chất chứa, dồn nén những căng thẳng thì sau nhiều ngày, những căng thẳng bị dồn chứa ấy sẽ mang đến cho ta nhiều bệnh tật. Do vậy, khi có căng thẳng, ta cần phải cho phép mình được buông thư, hoặc dành nhiều thời gian để ngồi thiền, đi thiền thì những căng thẳng sẽ được thư giãn, không bị dồn nén nữa. Xã hội bây giờ ai cũng có căng thẳng, đó là sự thật thứ nhất. Sự thật thứ hai là cách ta tổ chức đời sống làm cho ta càng ngày càng bị căng thẳng. Đó là những sự thật về đạo đức mà không phải là những giả thuyết. Đó là thực tế.

Ta đã cùng nhau nhận diện và gọi tên những khổ đau của xã hội ngày nay. Những khổ đau này không có mặt riêng biệt. Chúng tương tức với nhau. Phần lớn các vấn đề xảy ra đều có liên quan đến sự căng thẳng. Nếu không phải căng thẳng, ta có thể giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng, bình tĩnh, không nóng nảy. Tất cả những cái khổ đều tương tức với nhau. Do đó, khi tìm ra được nguyên do của một cái, ta sẽ tìm ra được nguyên do của những cái khác. Ta cũng nên biết, mỗi khổ đau xảy đến từ nhiều nguyên nhân. 

Bát tà đạo, con đường đưa tới khổ đau. 

Có thể là từ trước đến nay chưa có ai nói khổ tập nguyên nhân của nỗi khổ là lề lối sống. Khổ đau là do lối sống của ta dựa trên những tà kiến. Ví dụ, nếu thấy ta và con ta là hai thực thể khác nhau mà không thấy được con ta là sự tiếp nối của ta, thì cái thấy này là tà kiến. Vì không thấy được sự thật tương tức nên ta còn có cái nhìn Nhị nguyên, kỳ thị cho rằng hạnh phúc của con không phải là hạnh phúc của mình, rằng khổ đau của con khôn gphair là khổ đau của mình. Nhưng sự thật thì khi con ta khổ đau thì ta khó mà có hạnh phúc được. Tà kiến là không thấy được tính duyên sinh của vạn vật, không thấy được tính vô thường, vô ngã và tính tương tức của vạn vật. Trong con đường Bát chánh, con đường đưa tới sự diệt khổ, có chánh kiến. Còn tập đế là con đường đưa tới tà kiến. Người Palestin phải thấy nỗi khổ niềm đau của người Do Thái là nỗi khổ niềm đau của mình, và người Do Thái cũng phải thấy như vậy. Nếu có chánh kiến đó, hai bên sẽ cộng tác với nhau được, và hai bên đều hạnh phúc. Trường hợp giữa cha và con, giữa người Mỹ và người Iraq



Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

 10/06/2022

Làm trong công trường được 12 ngày. Mọi thứ trôi qua nhanh thật đấy. Cảm giác rèn được như cái máy rồi. Mọi thứ đề như cái máy vậy. 

Một cái máy được trả giá cao, nhưng rồi cái máy ấy dần cũng bị đấu đá cũng bị sói mòn. Chỉ còn mình ta với ta. Ngành xây dựng hay vật liệu xây dựng, hướng đi này liệu có đúng. Tôi vẫn tự hỏi rồi để bèo dạt mây trôi. 

Tôi làm công trường hay nhà máy, xây dựng hay không xây dựng, bất động sản hay không bất động sản. 

Những sản phẩm với giá trị cao, mất sức lớn. Tìm hướng đi riêng, tìm cách riêng....

Về với gia đình vẫn tốt hơn. Tiền quí nhưng mình cũng tự hứa chỉ cần duy trì 1 năm thôi mà. 


15/6/2022

Mọi thứ vẫn diễn ra như vậy. Đã ở đây được 17 ngày. Công trường nắng gió làm gì được gì và mong gì. 

Có được vài chục triệu thì đã gì là to. 

niệm định tuệ. 

18/06/2022

Qua nhậu với mấy anh em biết, cũng hiểu chút. Tự dưng hôm nay năng lượng sụt ghê. Muốn về nhà , muốn ngồi hơn là ra ngoài công trường. Sẽ thế nào nhỉ. .....

21/06/2022

Sau gần 1 tháng làm việc, mọi thứ cứ bình chân. Bắt đầu có vài thứ thông tin tiêu cực từ ngoài xâm nhập vào trí óc của bản thân. Để suy nghĩ xem nào, 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10....Tôi tiếp tục đi thôi.

Quan trọng bên trong phải vững, giống  bên trong tôi ổn. Tôi thở ra tôi biết tôi thở ra, thở vào tôi biết tôi đang thở vào. Tôi nghe thấy tiếng điều hòa, nghe thấy tiếng giảng pháp. Thở vào tôi bỏ bớt những phiền não, thở ra những phiễn não đi ra. 

22/06/2022

Lại một tuần nữa, hôm nay ngồi nắng, công việc cũng hòm hòm. Một tháng kiếm được nhiêu nhỉ. Chưa biết nữa. thôi ra công trường cho vui. 

23/06/2022

Một lần nữa rơi vào tình trạng này, nó báo hiệu 1 điềm gì đó. Có việc nhưng việc đó không dành cho mình. Có lẽ nên làm thế nào để cv chỉ là 1 phần của bản thân. Để tôi tiếp tục. 

Trong tâm hồn tôi hôm nay có vấn đề. Tôi chưa tập niệm để đạt cái định của bản thân dẫn đến tuệ giác

23/06/2022

Công trường là gì mà thấy chán quá ah. Mọi thứ cứ đau đáu, cứ thấy buồn buồn khi bị cuồng chân, buộc chân tôi lại. Nếu ở ngoài HN kinh doanh gì đó thì cũng vất vả nhưng được đi được ăn được nghỉ và ở bên người thân. 

24/06/2022

Lại nhận nhiệm vụ vệ sinh, đơn giản là vệ sinh công nhật các thứ. Cảm giác giống như cụ võ nguyên giáp quá ah. Việc to không tới chuyển việc cho mình nho nhỏ li ti. Có cũng được không cũng được. 

Thôi kệ thôi. 

28/6/2022

1 tháng kể từ ngày vào công trường, mỏi lưng quá, qua và nay dọn dẹp nhiều thật. 

Công việc trong này làm thêm nhiều, bán sức lao động cũng nhiều, nhiều thứ và vân vân...

Tôi phải nhanh mua được nhà rồi sau đó kinh doanh vì giờ sếp coi như công nhân rồi. 

7/7/2022

Hôm nay tự dưng năng lượng ở mức thấp bất thường. Mọi thứ không muốn tiếp tục, công việc cũng không có mấy. Dường như vào đây được 40 ngày rồi. Mỗi ngày trôi đi rất lâu vậy, chưa biết đến bao giờ tôi mới bình thường được. 

Công việc hiện tại là gì? bạn đã làm tốt với những hiện tại chưa? đừng để trí óc nghĩ xa thêm vì nó sẽ làm bạn thêm căng thẳng, đầu óc ở mức loading chậm thôi. Cái máy đang nóng thì đừng nghĩ thêm gì cả hãy cứ là tôi của hiện tại. Hãy thiền hoặc gõ máy như một cách thiền cho bản thân. 


Thiền ánh bình minh phương tây 6

 Sống trên đời như một phật tử thiền có ý nghĩa gì?

Lão sư thân mến

Trong khóa học Thiền, là một giáo sư đại học tôi đưa ra vấn đề thường xuyên nảy sinh trong các buổi thảo luận ở lớp, chẳng hạn như là sống trên đời như một phật tử thiền có ý nghĩa gì bằng những từ cụ thể. Trong những cuốn sách tiếng anh nói về thiền, đọc giả thường gặp những tham chiếu thông thường đối với ý nghĩa to lớn của từ bi, nhưng thường đề tài đạo đức dẫn dắt phật tử trong cuộc sống hàng ngày ở ngoài thiền đường càng ít được biết đến. Vì vậy tôi rất muốn nghe thầy nói ở một buổi hội thảo về sự quan trọng của mười giới cấm của phật giáo đại thừa, thật có ích cho tôi, vừa là thầy giáo vừa là một người quan tâm đến thiền, nếu thầy gởi cho tôi những bài viết hay bài bình luận mở rộng mà có lẽ thầy đã chuẩn bị theo cách mà thầy, một lão thiền sư, hiểu về bản chất và mục đích của thập thiện giới. 

Có lẽ tôi phải nói cụ thể hơn về vấn đề đạo đức và tôn giáo mà tôi đặc biệt quan tâm. Nếu tôi hiểu thầy đúng, thiền dạy rằng tất cả nam lẫn nữ phải cố gắng tuân theo mười giới. Có lý do gì để làm điều này? Có đúng hay không khi nói từ quan điểm Thiền có một trật tự xã hội điều khiển cuộc sống con người và những giới cấm là một công thức của trật tự đạo đức này? Giữa mười giới cấm và nhân tánh có mối tương quan như thế nào? Chúng ta tạo ra luật lệ áp đặt lên nhân tánh có mối tương quan như thế nào? Chúng ta tạo ra luật lệ áp đặt lên nhân tánh bởi phục tùng thánh ý của thượng đế hay có một mối quan hệ hổ tương nào đó giữa giới cấm và nhân tánh? Chẳng hạn, có sự kết nối nào ở đây giữa những trọng cấm và yêu cầu của giới luật cũng như khát vọng muốn tự biết, tự quyết tâm và tự ngộ sâu hơn

Tính bó buộc nào mà một phật tử tu thiền cảm thấy trong mối quan hệ với giới luật? Có phải những giới luật là đạo đức tuyệt đối với phật tử cũng giống như 10 điều răn của chúa đối với những tín đồ của đạo cơ đốc hay do thái, những người vốn có niềm tin là nhân loại bắt buộc tuân theo mười điều răn một cách vô điều kiện, và họ phải nghiêm khắc tuân thủ từng chi tiết của luật ấy bất cứ lúc nào, bất kể sự biến đổi bất tận của hoàn cảnh xung quanh vào những thời điểm khác nhau. Thiền hiểu những hậu quả của việc không tuân theo giới luật như thế nào. Thiền đối phó thế nào với vấn đề cảm giác tội lỗi có thể nảy sinh từ việc không thực hiện đầy đủ giới luật? 

Sự tuân theo giới luật một cách hình thức, quan trọng đối với Thiền hay chính yếu là tuân phục từ bên trong với sự thanh khiết của trái tim? Điều này có thể thiếu sự giác ngộ sâu hay không? Nếu không thể, công việc khó khăn trong nỗ lực thực hiện trọn vẹn mười giới luật bên trong và bên ngoài có giúp con người đạt ngộ hay không?

Nếu trong giới luật hàm nhân tuệ, thì chí ít mọi người nam nữ đều có tiềm năng nắm bắt cái tuệ này thông qua chính kinh nghiệm, lý trí và nội kiến của mình hay không? Hay họ phải bằng lòng chấp nhận giới luật như sự hiểu biết theo đức tin mù quáng, đặt lòng tin vào quyền lực của những người khai sáng truyền thống phật giáo

Lá thư này nêu lên nhiều câu hỏi có liên quan mật thiết với nhau và tôi hi vọng chúng cung cấp cho thầy những ý tưởng để làm trong sáng vấn đề đang tìm kiếm. Thêm vào đó là những vấn đề thông thường và dĩ nhiên tôi quan tâm đến sự giải thích ý nghĩa cụ thể của từng giới luật. 

Đáp

Mặc dù những câu hỏi nêu ra trong thư anh được trả lời khá tốt bằng chính kinh nghiệm tọa thiền của anh nhưng rõ ràng lý trí của anh không thỏa mãn với những gì có giá trị thích hợp mà anh định làm. Vì lý do này, và bởi vì anh dạy thiền ở trường học cho nên những điều anh làm hay nói với học sinh chắc chắn ảnh hưởng chúng ở một mức độ nào đó. Tôi sẽ bắt đầu với sự luyện tập thường xuyên của tôi và đáp chi tiết những câu hỏi của anh, mặc dù hơi lý thuyết, nhưng thực tế cho thấy những câu hỏi ấy che dấu những mối quan tâm về mặt tâm linh sâu kín. 

Anh hỏi về tính chất và mục đích của mười giới luật trong phật giáo đại thừa. Giới luật là một trong những cái kiền ba chân mà giáo lý phật giáo và thực hành đứng trên đó; hai chân còn lại là tọa thiền và giác ngộ tuệ giác. Ba cái này có quan hệ mật thiết gắn bó với nhau. Nỗ lực giữ giới có thể chỉ thành công một phần nếu nó xa rời tọa thiền. Nỗ lực giữ giới có thể chỉ thành công một phần nếu nó xa rời tọa thiền, và tọa thiền xa rời giới luật thì yếu đi và không chắc chắn. Chính qua tọa thiền, được chống đỡ bởi giới luật, sự nhận thức về chân tánh của chúng ta được nâng lên tầm ý thức ( ngộ) và trong chân tánh này giới, tọa thiền (định) và tuệ nương tựa vào. 

Thoạt nhìn vào con số mười của giới cấm phật giáo thì nghĩ nó giống mười điều răn của thiên chúa giáo, việc so sánh chúng là làm méo đi cả giới cấm và mười điều răn, vì mỗi cái chỉ được hiểu trong chính bối cảnh tôn giáo của nó. Hãy hiểu rằng giới cấm không phải là bản tuyên ngôn từ bên trên trao xuống. Chúng không tương phản với, cũng không hạn chế bản chất căn bản của anh. Thay vào đó, chúng là sự diễn đạt tâm phật tự hiện thực hóa, một mô tả, cách một người phát triển cao về mặt tâm linh không có tự giác về tôi người khác trong hành động. 

Hãy so sánh: Sống theo giới  luật là vượt một lộ trình thống nhất và hài hòa trên một con đường trơn tru, ít chướng ngại, có phong cảnh đẹp. Phạm giới là đi con đường nhỏ có vẻ rất thích thú nhưng ngay sau đó trở nên gồ ghề đơn điệu, và chấm dứt ở ngõ cụt của luyến tiếc và lo sợ. 

Thiền sư đạo nguyên nói, để đạt được một mục tiêu nào đó, quí trị trước hết phải trở thành một hạng người nào đó, nhưng một khi quí vị trở thành một con người như vậy, việc đạt được mục tiêu đó hay không chẳng còn là điều quan tâm của quí vị nữa. Giải thích dưới ánh sáng của thư anh. Bob điều này có nghĩa để nhìn thấy sự không chân thực của bản ngã cái tôi và nắm bắt được sự tương đồng giữa ta và người, anh không thể tiếp tục suy nghĩ và hành động để đáp lại yêu cầu của cái bản ngã định hướng nhị nguyên của anh; anh phải lưu ý đến tiếng gọi sâu hơn của giới cấm. Và tuy một khi giới cấm đã trở thành một tiêu chuẩn trong cuộc sống thường nhật của anh, ngộ không còn đứng tách rời với anh như những gì phải tìm kiếm. Trong trạng thái tự do như vậy, người ta không còn nghĩ về luật đạo đức hay tập tục xã hội, về chuyện bị trói buộc vào hay được giải thoát ra khỏi chúng. Anh có thể di chuyển xuyên qua những tập tục xã hội mà chừng như không hề xuyên qua chúng -- chúng ở đó tuy không ở đó. Mới đầu người ta tìm tự do khỏi những cảm giác đè nén. Dần dần, qua tọa thiền và nữ giới, những đè nén bó buộc tan đi. Cái giá của sự tự do này, tuy nhiên, là sự luyện tập lâu dài và tự kỷ luật. 

Nhận ra điều này, Thomas Merton nói, sự coi khinh của thiền giả đối với tập tục thông thường của xã hội và hình thức là hiện tượng lành mạnh, nhưng nó lành mạnh vì nó bao hàm tự do tâm linh trên nền tảng của sự giải thoát khỏi tánh bồng bột, chủ nghĩa vị kỷ và tự mê hoặc. Trong câu nói này coi khinh là sự lựa chọn tồi, vì một thiền giả đã phát triển tâm linh không nô lệ vào vấn đề trói buộc hay coi khinh luật lệ, phong tục. Quả thực các thiền sư được biết đến nhiều bởi sự cải cách hơn là tuân theo. Thiền sự bạch ẩn với ngòi bút tích cực của ông chỉ trích gay gắt giai cấp thống trị đầy quyền lựt ở Nhật vì sự áp bức và bóc lột của họ đối với nông nô, những con người mà ông thường xuyên kết giao. Chính Đức Phật cũng đã tấn công vào tôn giáo chính thống của thời ngài vì sự mê tín và chủ nghĩa độc đoán, thậm chí ngài nhận vào tăng đoàn những con người thuộc giai cấp tiện dân, những người bị ruồng bỏ trong xã hội Ấn Độ. Công lý và sự bình đẳng trong xã hội có thể tiến triển qua nỗ lực của phật, bạch ẩn, và những thiền sư khác nhờ vào sức mạnh biến đổi của tự do tinh thần. 

anh hỏi, thiền hiểu thế nào về những hậu quả của việc không tuân theo giới luật. Thiền đối phó thế nào với vấn đề cảm giác tội lỗi có thể nảy sinh từ việc không thực hiện đầy đủ giới luật? Bình thường cảm giác tội lỗi không phát sinh khi người ta không giữ giới vì người ta nhận thấy rằng người bình thường không có khả năng lúc nào cũng tuân theo từng giới cấm - chỉ có phật mới có thể làm được như vậy. Khi người ta thành thật cố gắng sống theo kim chỉ nam này, ăn năn về những sai phạm và quyết tâm làm tốt hơn trong tương lai, những sai phạm như vậy, tuy đáng tiếc, không phải là tai hại. Điều tai hại đối với sự tiến bộ tâm linh của người ấy là mất lòng tin vào sự bảo đảm của phật, xuất hiện từ sự giác ngộ tối thượng của ngài rằng mỗi chúng ta vốn có cái thanh tịnh bổn lai trọn vẹn và năng lực, qua tu luyện, hiểu được cái hoàn hảo bẩm sinh này. 

Mục tiêu cơ bản của giới luật là tạo ra con người có năng lực thực hiện việc tu tập với mục đích nhận ra phật tánh của chính mình. Thiếu sự công bằng và vô tư, ít có người chịu đi theo con đường đạo với nhiệt tình thuyết phục. Hành động mà giới luật khước từ phải được bỏ đi, không đơn giản vì lý do đạo đức, mà vì người ta không thể đi sâu vào tọa thiền bằng cuộc sống phóng đãng, thiếu suy nghĩ, như là người ta không thể ngủ và thức cùng một lúc. 

Không phải tất cả hành vi xấu bị nhân loại lên án nảy sinh từ cảm giác ta và người sao. Từ sự khẳng định mạnh mẽ của cái tôi bản ngã hay sao? Đến mức độ người ta có thể tiêu diệt ảo tưởng nhị nguyên này và sự tự kỷ trung tâm mà nó hiển nhiên nuôi dưỡng, và mang vào nội kiến một tiêu điểm duy nhất, vì thế không có tôi cũng không có người khác, cảm giác tương phản và đối nghịch của u uất và giận dữ dần dần biến mất. 

Hành động đúng trong một hoàn cảnh cụ thể, khi ấy, dầu phá thai, chết theo ý muốn hay những vấn đề nan giải đạo đức phức tạp khác, có thể xuất hiện chỉ khi sự tự siêu việt xảy ra. Hơn nữa, khi một người đã ngộ tánh bất khả phân ly của các pháp và triệt để hợp nhất nhận thức này vào cuộc sống bình thường, thời ý niệm hành động đúng biến mất. Một thiền sư thuở xưa nói như sau

Chết trong khi sống

và chết hoàn toàn

Rồi làm bất cứ thứ gì ngươi muốn

Bởi tất cả đều tốt

Giới cấm trong sự tinh tế và độ sâu tương đối tuyệt đối có thể đượ chiểu ở nhiều mức độ. Khi anh đảm đương công việc huấn luyện Thiền, một lực cản tự nhiên và sự trong sáng xuất hiện khi anh đạt được sự kiểm soát lớn hơn về tâm và tình cảm, nhận định của anh về giới cấm sẽ sâu hơn. Vì vậy, không cần thiết phải căng theo nó, vì dần dần hành vi của anh sẽ phù hợp với chúng. Giới cấm đứng lên trên đạo đức, nhưng không chà đạp chúng. 

giới luật không phải được áp đặt từ bên ngoài vào, chính sức mạnh cải hoán của thiền mang đến sự trong sáng của tâm. Sự tuân phục bên ngoài đến từng chi tiết của giới luật kém ý nghĩ hơn từ bi lớn lên từ tọa thiền. Tuy vậy, cố gắng mới đầu tuân theo giới luật là điều cần thiết, vì tọa thiền có thể bị chao đảo khi đối diện với những thói quen lâu đời và những cám dỗ thường nhật. 

Trả lời thưa của anh rồi, bây giờ tôi thúc anh nên bắt đầu tọa thiền, vì với tôi, rõ ràng là phía sau những câu hỏi về giới luật xuất hiện một nhu cầu về tự ngộ. Một khi anh ngộ rồi, những lời của tôi sẽ giống như đồ rác rưởi. 

Thân, 

Thiền là một cách trốn chạy - thì anh làm gì để giúp xã hội

Kể từ lần cuối gặp thầy đến nay đã lâu, vì bận rộn công việc nên tôi khó đến Rochester để tiếp xúc với thầy, vì thế tốt nhất là tôi viết thư cho thầy. E rằng thầy không còn nhớ tôi, tôi từng là hội viên của trung tâm trong khoảng một năm và thường xuyên ngồi với nhóm ở Denver. 

Mới đây tôi gặp một hoàn cảnh rất khó khăn mà đến giờ tôi vẫn chưa giải quyết được, nó đang đi đến một giai đoạn quyết định. Điều này liên quan đến cha mẹ tôi và tôi, đơn giản là tôi không biết giải quyết nó như thế nào. Tôi rất gần gũi với cha mẹ tôi, họ là những người thông minh và có học. Chúng tôi thường tự do trao đổi với nhau và tôi rất kính trọng họ. Vì vậy thầy có thể hiểu tôi bị kinh động như thế nào khi cuối cùng tôi nhận ra rằng không chỉ họ không đồng ý cho tôi tọa thiền mà còn công khai chống lại việc tọa thiền. Lão sư, tôi thật sự không biết làm gì. Thầy có thể cho là tôi non nớt và thậm chí ngốc ngếch vì quá quan tâm đến những gì cha mẹ tôi nghĩ. Dẫu sao, tôi cũng đủ lớn để tự quyết định và theo đuổi đến cùng. Nhưng tôi nghĩ rằng điều thật sự đang xảy ra là cha mẹ tôi thù địch với tôn giáo phương đông, như họ gọi, đã ảnh hưởng lên đức tin về phật pháp của tôi. 

Tôi nhiều lần đã thử giải thích cho cha mẹ tôi tại sao tôi tọa thiền là vì sự giác ngộ của tôi, khi có được, sẽ giúp không chỉ chính mình mà còn vì người khác nữa - nhưng họ không thể hiểu hay chấp nhận nó. 

Cha mẹ tôi nói, con không là gì để giúp xã hội cả. Con đang dùng thiền như một cách chạy trốn không hơn không kém. Nếu con thực sự muốn thay đổi chính mình, tốt nhất con đến bác sĩ thần kinh. Những kết án này làm tôi đau khổ và bối rối. Thật sự, tôi không phán đoán tốt lắm nhưng tôi cảm thấy chắc chắn có sự thay đổi tốt trong tôi: tôi cảm thấy rõ ràng, yên bình nhiều hươn tôi trước đây và rất độ lượng với người khác. Lão sư, tôi kính trọng và yêu thương cha mẹ tôi, như tôi nói, dĩ nhiên họ rất hiểu rất hiểu rõ tôi. Nếu nó hoàn toàn vô giá trị đối với họ, liệu họ có thể nói những điều như vậy không? 

Khi tôi bắt đầu tọa thiền, tôi thật sự cảm thấy rằng ngồi và dĩ nhiên ngộ, là tốt nhất nếu không là cách duy nhất để giúp người khác. Nhưng bây giờ tôi phải thừa nhận rằng đôi khi tôi cảm thấy có tội vì tôi không còn tham gia cải cách chính trị và những chính nghĩa khác mà trước đây đã từng thu hút tôi. Có đúng là đạo nguyên đã nói, khi một thiền giả vào đại định, y trở thành một với tất cả vạn vật trong vũ trụ và hướng dẫn chúng sinh đến giác ngộ không? Ước gì tôi cso thể tin mạnh mẽ vào chân lý này xiết bao!

Viết rồi đọc lại lá thư này, rõ ràng là đức tin của tôi yếu ớt biết bao vì đã tọa thiền mà còn hỏi những câu như thế này. Tôi rất tiếc, lão sư, đã phiền thầy nhưng nếu có thể, mong thầy giúp tôi làm rõ những bối rối này, tôi sẽ thành thật biết ơn vô cùng. 

Cuối lạy thầy. 

Lynn. 

Lynn thân mến. 

Trạng thái bủa vây việc bảo vệ Thiền của cô theo như cách mô tả trong thư gợi tôi nhớ đến một giai thoạt về bồ đề sư tổ. Khi ông đang tọa thiền trong một hang động, thì ba đứa bé tình cờ phát hiện một lối đi dẫn đến hang và liếc nhìn vào bên trong. Chúng thấy ở có một bóng đen dễ sợ nên chạy ra ngoài hô hoán. Rồi sự tò mò kéo chúng trở lại, tuy nhiên, từ khoảng cách an toàn, chúng quan sát cái hình thù bất động và suy diễn theo bản tính của chúng. Giống như một người, đứa thứ nhất thì thào. Nhưng không thể như thế, đứa thứ hai đáp khong ai có thể ngồi yên lâu như vậy được. Chắc là con gấu. Không, đứa thứ ba chen vào, nó không có lông. Chúng quan sát hình thù kỳ lạ một lần nữa. Can đảm hơn vì sự bất động của nó, cả ba bắt đầu ném những viên đá nhỏ vào nó, nhưng nó không động đậy cũng không lên tiếng. Đứa gan dạ nhất trong bọn tiến gần hơn, chạy nhanh lên trước chạm vào hình nhân và quay nhanh trở lại. Vẫn không có phản ứng. Bối rối, chúng rút lui ra để chia xẻ kết luận. Hoàn toàn không phải đá thằng bé đã chạm vào nó nói. Nó mềm không lông, vì vậy, chắc chắn là một người đang ngồi.  Hoàn toàn không phải đá, thằng bé đã chạm vào nó onis. Nó mềm không lông, vì vậy, chắc chắn là một người đang ngồi. Nhưng tại sao có người lại ngủ theo cách này? Thật không tự nhiên, đứa khác xen vào. Tại sao nó không nhúc nhích khi tạo chạm vào? Chúng cùng nghĩ, bí mật càng làm tăng sự bối rối và lo âu của chúng. Bỗng nhiên một đứa nhặt hòn đá to với vẻ thách thức ném vào hình nhân bất động, đập ngay giữa đầu. Bấy giờ, cuối cùng hình thù bắt đầu nhúc nhích chậm chạp trước hết là đầu, rồi tay, chân, thân thể. Rồi rống lên. Bọn nhỏ kinh hoàng chạy trốn, Bồ đề đạt ma tiếp tục rống với tiếng cười rồi tuôn trào nước mắt. Hòn đá đã thúc sự ngộ của ông, sự giác ngộ vĩ đại của ông. 

Nhân tánh thay đổi một ít từ thời bồ đề đạt ma. Một người ngồi thiền yên lặng trong phòng của mình hay ở thiền viện vẫn phải đương đầu với nghi ngờ và ngay cả sự trầm uất. Hoàn cảnh của cô tiêu biểu cho một trong những điều tệ hại nhất, thường từ phát 

Những nhà hoạt động chính trị cho rằng họ biết nó có ý nghĩa khi vào thập niên sáu mươi, họ giao chiến với luật lệ và những hình thức bên ngoài khác của xã hội, tuy nhiên ngày nay họ tuyên bố là không gây ảnh hưởng lên chính mình thì không có thay đổi nào có ý nghĩa xảy ra. Người làm tốt chắc chắn cảm thấy họ đang giúp đỡ xã hội khi họ độc đoán tự đẩy mình vào công việc của người khác, ép buộc người ta bằng chính công thức của họ về hạnh phúc. Rõ ràng, cụm từ giúp ích xã hội mơ hồ, không gì hơn là một khẩu hiệu rỗng tuếch, ít nhất khi được diễn dịch về bất cứ hoạt động đặc biệt hay phương châm công việc.

Nếu có sự giúp ích thật sự nào, nó phải thực hiện từ bên trong, cải thiện chất liệu bên trong con người và mỗi phương diện người đó liên hệ với cuộc sống. Theo nghĩa này, chắc chắn cô sẽ giúp ích người khác nếu cô luyện thiền nghiêm túc. Đến mức độ cô làm sạch cái tâm tham sân, tự tìm kiếm và phát triển trái tim từ bi lặng lẽ, cô sẽ trở nên một người con gái, người chị, người láng giềng, và người nhân công tốt hơn. Tiếp tục ngồi một cách chí thành, cô sẽ dần dần làm tan biến những niệm tưởng kiêu căng, định kiến bướng bỉnh và những khái niệm sai về chính mình và thế giới. Vì sao những lợi ích này không được cảm nhận bởi những người xung quanh cô và bởi xã hội nói chung

Thay vì chạy trốn cuộc đời, mục đích phía trước cô và những ai thực hành thiền nghiêm túc là trở thành hoàn toàn là một với nó. Một đại sư Trung hoa nói với đệ tử của mình, đừng để cho những sự cố trong cuộc sống thường ngày trói buộc ngươi, nhưng chớ tự mình lìa khỏi nó. Một thiền sư khác nói: Con người bám vào cái trống rỗng và làm ngơ thế giới vật chất cũng giống như vừa thoát khỏi nạn chết đuối lại lao vào lửa. Cho nên phải hiểu rằng thiền không phải là chạy trốn những vấn đề của thế gian mà là một sự giải phóng đem lại cho ta tuệ giác và sức mạnh để theo đuổi bất cứ điều gì ta được đòi hỏi phải làm. Trong Thiền, chúng ta không thèm muốn sự yên bình của cái chết mà làm việc để phát triển sự im lặng nội tâm và sự trong sáng của tâm qua việc tham gia tích cực các vấn đề trong cuộc sống. Sự yên bình thật sự của tâm là chiến thắng không phải bởi tránh né những xung đột mà là đương đầu và vượt qua chúng với lưỡi kiếm đấu tranh. 

Giống như những gì đang làm phiền lòng cha mẹ cô là khái niệm bắt rễ sâu trong cách suy nghĩ của người phương tây chúng ta, muốn trở nên có ích người đó phải tích cực. Trong nghệ thuật yêu đương, Erich rom xem xét từ tích cực được dùng thông dụng trong xã hội ta. Ông nhấn mạnh đến điều mà người ta làm ít quan trọng hơn cái động cơ nằm phía sau hoạt động đó. Người bị gắn vào công việc liên tục bởi sư bất ổn, cô đơn, hay tham lam, chẳng hạn, là nô lệ với những tình cảm như vậy, một đối tượng thụ động bị tác động lên. Trái lại, người ngồi thiền định tập trung là tham gia vào hoạt động cao nhất, đó là, hoạt động của tâm hồn, chỉ có thể dưới điều kiện tự do và độc lập nội tâm...

Nhìn theo cách này, thậm chí cha mẹ cô có thể đồng ý là nếu chúng ta duy trì sự cân bằng tinh thần để đương đầu với những căng thẳng và xung đột đang gia tăng trong cuộc sống hiện tại, chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc dấn thân vào hoạt động cao nhất này của tâm hồn này. Và không chỉ vì bản thân chúng ta. Phật giáo dạy rằng tâm của một người là tâm của tất cả mọi người. Xã hội dù sao là sự sáng tạo của chính chúng ta, không gì khác hơn là sự biểu lộ tâm tập thể của tất cả những cá nhân tạo ra nó. Vì những lỗi bên ngoài của xã hội thật sự nằm bên trong tâm chúng ta, nó đưa tới, như cô cảm nhận đúng, là chúng ta mỗi người phải gánh vác trách nhiệm về thân phận con người. Làm thế nào một người cảm nhận có trách nhiệm với đồng bào của mình lại làm ngơ việc tịnh hóa chính bản thân mình? Làm sao y có thể đủ nghị lực để làm ngơ trước những ô uế phát ta từ thân, khẩu, ý của chính mình. 

vì vậy, ảnh hưởng sự giác ngộ của một người tác động lên thế giới tâm linh của tập thể là vô cùng tận. Ở phương diện vô vi, nó tỏa ra dòng ánh sáng thanh tịnh soi vào bóng đen vô minh của tâm người khác. Ở phương diện hữu vi, sức mạnh của tâm ngộ thanh tịnh đầy giới đức ảnh hưởng và biến đổi tâm người khác đến vô cùng. Như ánh sáng dù chỉ là vài ngọn nến trong một hang động to lớn và đen như mực làm giảm đi bóng tối ở chừng mực nào đó, hàng trăm trong hàng vạn người tọa thiền

Một khi chân tánh của anh bắt đầu dấy lên thúc dục đến với ý thức, không có sự quay trở lại. Không nghi ngờ gì về chuyện anh biết Freud và những nhà tâm lý nói tới cái hại lớn gây đối với tinh thần khi khao khát xác thịt tìm ra lối thoát. Nhưng tồi hơn nữa là sự thất bại của nhu cầu nguyên thủy về hiểu biết ta là ai, là gì và ý nghĩa của sinh tử. Những câu hỏi này là chướng ngại anh tự mình phải xuyên thủng; về mặt kia của nó là hiện thực mà anh cảm nhận. Nhưng nó không tách biệt. Hiện thực này làm thế nào có nhiều hơn một hiện thực. Khi chất sình của những tư niệm mê hoặc lắng xuống, anh sẽ nhìn thấy làn nước trong sạch mà thực tế cũng nước đó được tẩy đi chất dơ bẩn. 

Anh đang lơ lững ở tuổi bốn mươi, phải không David? Nó đặt anh ở ngã ba đường, nơi mà anh phải tự hỏi, Liệu ta sẽ đi theo con đường có ít kháng cực, một bên thỏa mái, một bên đau khổ không thỏa mãn hay ta sẽ đi theo một nẻo đường mới dẫn đến sự tự do thật sự. Nó có thể là cơ hội cuối cùng để hoàn thành ước vọng và làm chủ sự sợ hãi, vì anh có thể nhận thấy kèm theo những nỗi lo âu thông thường của tuổi trung niên sự tự ghét bỏ vì đã không đảm nhận điều đè nén quá mạnh trong tim. Thật đáng buồn, đây là cảnh ngộ của hàng ngàn người mà trước đây tràn trề nhựa sống và hi vọng, nay nhận ra những năm tháng sau này năng lượng của họ đã đổ vào hàng loạt hoạt động hay bị cạn đi bởi sự xói mòn của sợ hãi về sống chết, đối mặt với nó họ cảm thấy bất lực. Jung viết là ông ta chưa bao giờ có bệnh nhân trên bốn mươi vì vấn đề nền tảng của họ không phải là sợ chết. Chính ngộ đánh thức chân tánh của bạn nó sẽ giải quyết nỗi sợ này, cho phép anh sống nhiệt tình và chết đàng hoàng

Việc xem xét trường hợp một tù nhân đang chấp hành bản ánh chung thân lại được phóng thích sớm. Nếu anh ta đã ở tù nhiều năm và đã tạo nên một chỗ trú thỏa mái trong cộng đồng tù nhân, có lẽ anh ta trở nên sợ phải đối mặt với trách nhiệm của cuộc sống bên ngoài. Nếu trong con người như vậy, sức sống đã bị bóp nghẹt, anh ta sẽ từ chối được phóng thích sớm hay không làm gì cả để được điều này. Tuy nhiên, nếu anh ta chỉ ở tù vài năm và  bản năng đfược tự do hoạt động lành mạnh, anh ta làm mọi cách trong khả năng của mình để được phóng thích. 

Tương tự, sự chuẩn bị tham gia chương trình huấn luyện sắp đến của anh cho thấy sinh khí tinh thần của anh mạnh mẽ. Nếu anh hoãn lại quyết định của mình, sự tra vấn tích cực về ngộ có thể bị dời lại và cuối cùng sự thúc dục vì tự do sẽ trở nên câm nín trong anh. Câm lặng nhưng không bao giờ bị xóa đi. Dù anh có thể tạm thời che dấu sự thất vọng và bồn chồn của mình bằng những trò giải trí, cũng sẽ không có yên bình thực sự. Thậm chí nhưng giây phút vui thú nhất của anh cũng bị chiếm lĩnh bởi nỗi đau mong ngóng sự tự ngộ. 

Vì vây, tôi chúc mừng anh có được quyết định trọng yếu và mong gặp anh ở Rochester. 

Sự quan tâm của anh đối với vợ con, việc học hành của chúng và công việc của anh có thể ảnh hưởng đến họ, cho thấy đáng khen ngợ, nó biểu lộ sự vững chắc và hiệu quả của mối liên hệ giữa anh và họ như thế nào. Trong hoàn cảnh của anh, thường người vợ rất lo sợ. Nếu bản thân cô ấy không tọa thiền và tôi biết vợ anh thì không cảm giác phát sinh trong cô là nếu anh tiếp tục tiến bộ trong Thiền, cuối cùng anh sẽ trở thành tu sĩ và rời bỏ vợ con. Anh phải biết, nỗi sợ bị người chống bỏ rơi rất mạnh trong hầu hết các phụ nữ. Cách duy nhất mà anh có thể làm cho vợ con an tâm là càng tỏ ra yêu thương họ nhiều hơn, vì những đứa con chắc chắn là mối lo âu của mẹ chúng. Không xác định như thế, vì điều này sẽ là giả tạo và chỉ làm lệch mối lo âu của anh. Thay vì chỉ tập trung toàn tâm vào tu tập Thiền nghĩa là nhớ đặt mình hoàn toàn vào mọi khía cạnh của cuộc sống thường nhật anh sẽ tự nhiên trở nên nhiều yêu thouwng hơn. Có thể nói, tình yêu nguyên vẹn của anh sẽ được giải thoát, xuất hiện và tự biểu lộ ngày càng nhiều. Khi anh ở với vợ con, hãy trọn vẹn ở đấy với họ, cũng giống như vậy, khi làm việc đừng để phần hồn ở nhà, khi cạo râu chỉ việc cạo, khi đọc chỉ đọc... Điều này là thực hiện đúng theo tinh thần của thiền trong cuộc sống hàng ngày của anh. Tiếp tục điều này chẳng bao lâu, anh sẽ tự nhận ra nơi anh có sự hiểu biết và kiên nhẫn hơn với con mình, trực nhận khi nào nên căng, khi nào nên mềm dẻo. Anh sẽ đáp lại một cách nhạy bén những nhu cầu của vợ anh cũng như đối với những người chung quanh anh. 

Cuối cùng, tôi nhắc anh đừng nghĩ đến từ làm đau lòng hay không làm đau lòng gia đình. Bực bội về điều này chỉ làm cách cư xử của anh đối với họ trở nên bó buộc không tự nhiên. Thay vì vậy, hãy tin rằng theo ý nghĩa tâm linh sâu sắc nhất, bất cứ cái gì giúp anh, mà cũng là giúp cho chính họ. Mới đầu điều này dường như không phải như vậy, nhưng nếu anh có thể làm tất cả để đảm bảo với cô ấy - không chỉ bằng lời mà bằng hành động. 

Cám ơn bài viết của anh, nếu anh không phản đối, tôi sẽ độc thư anh trong buổi nói chuyện chính thức sắp tới. 


Ngọ có giải quyết tất cả những vấn đề cuộc sống con người không

Điều trước đây là vấn đề nay không còn là vấn đề nữa

Thế về vấn đề đạo đức? Rõ là người ta không nên sát sinh hay trộm cắp hay nói dối. Nhưng đôi khi trong một hoàn cảnh nào đó, cho dù anh suy nghĩ mọi cách, dường như không có câu trả lời đúng. 

Liệu ngộ có cho phép nhìn thấu những vấn đề đạo đức này để hành động đúng trở nên rõ ràng không?

Ngay cả những người ngộ sâu vẫn phải đối mặt với những vấn đề đạo đức. Những năm về trước, thầy tôi kể một câu chuyện trong bài giảng về thách thức đạo đức đối đầu với một thiền sư, đã gây cho những người tham dự khóa nhiếp tâm một phản ứng tình cảm mạnh nhất mà tôi từng chứng kiến. Đây là những gì ông kể mà tôi hãy còn nhớ. 

Thời xưa có một thiền sư nọ có lòng khao khát xuất gia khi ông ta còn ở lứa tuổi thiếu nhi. nhưng vì thân phụ qua đời sớm, ông phải bảo bọc nuôi nấng người mẹ quá bụa bằng nghề bán củi. Không thể dẹp bỏ đi lòng mong muốn bắt rễ từ lâu được đi theo con đường tôn giáo, khi đã để dành dụm được một ít tiền, ông để lại cho mẹ với dòng chữ. Hãy tha thứ việc con ra đi, nhưng con phải timf một người thầy tâm linh. Kể từ đó người mẹ không còn nghe tin tức gì về ông ta

Nhiều năm trôi qua, người mẹ bấy giờ đã già và lòa một mắt. Bà rất muốn gặp đứa con duy nhất trước khi chết. Một hôm tình cờ gặp một du tăng, người đã từng sống ở một tu viện trên vùng đất xa xôi của đất nước, ông nói với bà là ông có lý do để tin rằng vị trí trụ trì chùa này là con trai của bà. 

Phấn chấn bởi thông tin này vì có khả năng gặp lại con mình, bà lên đường tìm ngôi chùa ấy. Sau nhiều năm đi lại khó nhọc, bà tìm thấy cái mà bà tin là cái tu viện được mô tả bởi vị du tăng. Lúc này rất yếu, bà run rẩy tiến đến cổng, và một ông tăng lễ phép hỏi nguyên do bà lặn lội đến đây. Bà kể câu chuyện về người con và trình bày lý do tại sao bà tin là vị trụ trì này là con của bà. bà có thể gặp một chốc hay không ? Bà không muốn sống thêm lâu hơn nữa và sẽ chết bình yên nếu có thể gặp lại con một lần nữa. 

vị tăng yêu cầu bà chờ và vào thưa lại với vị trú trì. Một chập sau ông ta quay lại và nói. Tôi rất tiếc. Tôi đã thuật lại mọi thứ mà bà đã kể cho tôi với thầy trú trì nhưng ông nói, Hẳn là bà ấy đã lầm, ta không là con của bà. 

Khi những lời này được nói ra, cả thiền đường bật khóc. Nam lẫn nữ, cả lão sư, khóc công khai. 

Tôi nghe câu chuyện này bằng tiếng Nhật, tôi không rõ cái gì đã thúc sự bùng nổ tình cảm. Trên đường về nhà, khó nhiếp tâm tổ chức ở miền bắc Nhật Bản tôi ngồi kế lão sư trên tàu hỏa và có cơ hội để hỏi điều đặc biệt của câu chuyện và về việc khóc. 

Tại sao mọi người đột nhiên khóc lóc vị trụ trì nói ông ta khôn gphair là con của bà? Ông là con của bà ta phải không. 

Đúng ông ta là con, lão sư đáp. hãy nhớ rằng ông ta không gặp lại mẹ trong nhiều năm từ khi xa nhà. Ông ta biết bà nay đã già yếu và khi gặp bà ông sẽ bị tràn ngập bởi lòng mong muốn ôm lấy bà và chăm sóc cho bà. Nhưng ông có trách nhiệm huấn luyện tinh thần cho hơn năm trăm tăng chúng. Nếu mẹ ông sống trong tu viện hay gần đó, ông sẽ muốn ở bên bà và vì vậy có ít thời gian chuyên tâm vào việc huấn luyện thiền cho tăng chúng. Chúng ta có thể hình dung sự đấu tranh gay gắt đầy ray rứt dằn vặt để đưa ra câu trả lời mà cuối cùng vị tăng kia báo lại. Và vì nhiệm vụ của mình, vị trú trì chấp nhận sự đau khổ, thay vào đó tấm lòng của ông được cảm nhận sắc bén bởi mọi người trong thiền đường, họ tất cả bọn họ đã khóc. 

Ít ra vị trụ trì có thể gởi lời nhắn cho mẹ rằng ông chính là con bà và vẫn khỏe, nhưng ông khoogn thể gặp bà sao.

Nếu ông ta làm như vậy, không phải sự hờn giận của bà mẹ tệ hơn sao. 

Tại sao nhiệm vụ của ông đối với tăng chúng lớn hơn nhiệm vụ đối với mẹ già của mình. Tôi có biết người á đông, đặc biệt là người nhật hết lòng tận tụy vì

Vị trú trì trong trường hợp này phản ánh cái ý nghĩa đặc biệt về nhiệm vụ của ông. Một lão sư ở Nhật, người mà tôi từng theo thọ giáo, có người mẹ già sống cùng trong khuôn viên của tu viện và thường xuyên đi lại thăm nom. Có lẽ vì ở đó có hai mươi tăng chúng thay vì có đến năm trăm, nên ông nhận thấy mối quan hệ với mẹ không can thiệp các mối quan hệ với chư tăng. 

Thế còn về người mẹ? Phản ứng của bà đối với lời từ chối của vị trụ trì?

Không mất nhiều tưởng tượng phỏng đoán, phải không? Nhưng đây là hệ quả của câu chuyện. 

Sau khi bà mất đi, vị trụ trì có nội kiến nhìn thấy mẹ trong vùng đất tịnh độ. Bà phát ra hào quang và chắp tay nói với ông là bà đã tha thứ cho ông, vì bây giờ bà đã hiểu tại sao ông không gặp bà. Vị trụ trì biết rằng mẹ mình đã ngộ nên khóc vì vui mừng. 

Giới cấm thứ nhaatsL: không sát sanh

Tối nay, tôi sẽ nói về giới thứ nhất trong mười giới cấm, hay những điều kiện của một con người đức hạn: không giết mà phải nuôi dưỡng tất cả sự sống. Những giới điều khác là 2) khong trộm cắp không lấy những gì của người khác , không tà dâm, mà luyện cho tâm trong sáng, tự kiềm chế, không nói dối, mà phải nói sự thật, không uống rượu không ép ai uống rượu hay dùng ma túy làm rối hay suy yếu tâm và tự mình cũng không làm thế, phải giữ tâm trong sáng, không nói xấu người khác, không khư khư giữ lấy những trợ giúp tinh thần và vật chất phải giao nó không điều kiện cho người cần nó. không giận dữ phải cố gắng kiềm chế. không thóa mạ tam bảo phật, pháp, tăng mà thương mến, ủng hộ. Tinh thần của tất cả các giới điều này về căn bản là một, nếu quí vị nắm được cốt lõi của một điều, quí vị sẽ nắm được tất cả

Cố ý lấy đi mạng sống của bất cứ vật gì, đặc biệt là mạng sống của con người, sẽ tạo nghiệp khổ đau. Nhân mạng là cái quí nhất, với nhiều lý do khác, nó là cái duy nhất mà từ đó ngộ phát sinh. Thú vật, chẳng hạn, không thể chia xẻ khả năng của con người để đạt được vô sắc và giải thoát chính mình khỏi chuỗi ràng buộc sinh tử. Trong vũ trụ quan phật giáo, theo đó con người không phải là sinh vật phát triển nhất: con người đứng giữ quỹ đói và phật. 

Người mổ thịt gia súc cũng như thợ săn hay dân chài đặc biệt những người có động cơ sát sinh chỉ vì trò chơi thể thao chắc chắn gây nghiệp nặng cho mình. Những người nghiên cứu thí nghiệm trên thú vật, thường cuowisp đi mạng sống của chúng, cũng có nguy cơ gánh nghiệp. giết hại thú vật trong những thí nghiệm như vậy được biện minh vì lý do nào đó, chỉ là cách duy nhất để có được thông tin thiết yếu cho sức khỏe và thịnh vượng của con người. Không may là, nhiều thí nghiệm trên thú vật ngày nay được thực hiện không cân nhắc theo cách chọn lựa nhân đạo hơn. Những thái độ vô cảm như vậy có thể phát sinh từ niềm tin rằng súc vật, kém phát triển hơn con người, đau khổ ít hơn. Nhưng có ai từ chối là súc vật cũng chịu đau khổ nghiêm trọng và cố tránh đau khổ như con người. Và chính xác vì trí não của chúng kém phát triển hơn của con người? và chính xác vì trí não của chúng kém phát triển hơn của con người, nên chúng nhiều trực giác hơn súc vật nhạy cảm với những bạo lực và đau đớn sắp xảy ra, phát ra trong chúng nỗi lo sợ làm kéo dài sự đau khổ của chúng. Porphyry, triết gia hy lạp ở thế kỷ thứ tư đã viết rằng ai đã nghe tiếng thét của con vật bị giết sẽ không bao giờ ăn thịt. Nhiều thế kỷ trước khổng tử, cũng có nhận xét như vậy. 

Sự kiêu ngạo vô cùng của con người trong việc điều khiển, ngược đãi hay tiêu diệt các sinh vật bởi tính chất thường của mình, không phải chúng có quyền chia sẻ hành tinh này với họ hay sao. Tiến sĩ Schweitzer nói. chúng ta không có quyền làm đau khổ và giết hại sinh vật trừ phi điều đó là cần thiết không thể tránh được. Hơn nữa, vì súc vật câm và không thể tự nói lên được, chúng có thể được xem như phó thác thiêng liêng đối với chúng ta

còn việc giết ruồi muỗi thì sao? Một con người có tánh do dự giết ngay cả con ếch và thường không cảm thấy áy náy về việc diệt các côn trùng. Với hàng tỉ tỉ côn trùng, cái chết của một đôi con có lẽ dường như hoàn toàn không để lại hậu quả gì nghiêm trọng. Tuy nhiên xem xét lại với tất cả những kỹ thuật và óc sáng tạo của con người, họ chưa hề tái tạo được cuộc sống, thậm chí của một con bọ. Một con bọ, như Whitman nói, là phép mầu đủ làm ngạc nhiên hàng tỉ người vô đạo. 

Hiểm ác hay thiếu suy nghĩ, hủy diệt côn trùng hay sinh vật nhỏ có thể bị chỉ trích bởi những lý do khác. Sự giết vô lý như vậy nuôi dưỡng sự mất cảm giác đối với những đau khổ của những hình thức sống cao cấp hơn, các nhà xã hội học đã chứng minh rằng mối đe dọa thông thường trong buổi đầu đời của những tội phạm là tàn ác với súc vật và cách giết man rợ của chúng. 

Những người ăn thịt đôi khi chế diễu những người ăn chay, nói anh nói anh không ăn thịt vì anh không muốn gây ra sự giết chóc súc vật, nhưng những rau quả anh ăn thì sao. Có khác gì nhau giữa việc lấy đi sự sống của rau quả và giết bò hay gà để lấy thịt

có sự khác nhau trên đời khi những hành động này đè nặng lên cán cân đạo đức con người đó là từ quan điểm tương đối. Theo những giá trị đạo đức này, lấy đi mạng sống của một người thì tồi tệ hơn đối với một con vật, và giết côn trùng không đáng bị chê trách như khi giết cá hay chim. Trên một phạm trù như vậy, sự sống của rau cải ít giá trị hơn côn trùng. Nhưng thực vật, không phát triển hơn súc vật hay côn trùng, cũng có loại nhận thức và bản năng sinh tồn. Điều này được biết đến qua các nhà thực vật học nổi tiếng. 

Tất cả mọi dạng sống, trong sự phát triển và trao đổi nghiệp vô thỉ vô chung của chúng, là thực vật, côn trùng, thú vật, quỹ ma, con người, chư thiên. Mỗi cuộc sống chịu ảnh hưởng của luật nhân quả, nơi mỗi người chiếm ngụ trong chuỗi tiến hóa là sản phẩm của nghiệp duy nhất của mình. Làm thế nào chúng ta có thể từ chối một biểu đạt của phật tánh, nhân tố chung của chúng ta, mà lại thiên về cái khác trong khi tất cả

Lời kết

Điều gì đã làm một người ở tuổi trung niên từ bỏ công việc ổn định với lợi tức sung túc, gia đình và bạn bè đến với sự gò bó nghiêm khắc của thiền viện và một cuộc sống không ổn định của một kẻ vô gia đình. Có phải do hoàn cảnh đau thương bên ngoài thúc bách bên trong hay không người ta đã hỏi tôi hàng chục lần những câu hỏi này khi tôi ở nhật và cũng như khi đã về mỹ. Trong trường hợp tôi, dường như đôi lúc có một cái gì đó thúc đẩy tôi từ bỏ những tiện nghi và giá trị của tầng lớp trung lưu của mình để trải qua huấn luyện thiền với mong muốn tìm cách gỡ bỏ những căng thẳng đau khổ và sự bồn chồn kiệt sức.Vào những lúc khác, tôi cảm thấy một nhu cầu cần tìm để hiểu sự đau khổ lạ lùng mà tôi từng chứng kiến ở Đức, Nhật và Trung hoa, ngay sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Cuối cùng tôi hiểu ra rằng những câu hỏi được đề cập trước đây chỉ nằm trong một từ nghiệp, một từ bao hàm toàn bộ chuỗi sự kiện tương tục của nhân quả, đó là cuộc đời của một người. và chính cái nghiệp, nhiều năm sau, cũng mang tôi, ở tuổi năm hai đến thành phố Rochester, New York, một nơi mà trước đây tôi chưa từng đặt chân đến, trở thành người đứng dadaauf một trung tâm thiền. Trước khi có cuộc tiếp xúc với châu á và thiền, trong những chuyến bay xa nhất của trí tưởng tượng, tôi cũng không hình dung mình sẽ sống cuộc sống tu viện hay trở thành một nhà sư phật giáo. 

Khi tôi nhìn lại với sự nhận định lớn hơn về luật nhân quả, rõ ràng những sự kiện và hoàn cảnh nhất định nào đó đã trực tiếp hình thành kiểu nghiệp thúc tôi đến với Thiền, khi còn nhỏ, tôi cứng đầu từ chối theo mẹ đi vào nơi gọi là nhà của chúa, tham dự lớp giáo lý ngày chúa nhật, hay nhận hướng dẫn tôn giáo một cách chính thức. Khi bà ép, tôi hỏi nếu chúa chỉ ở trong nhà thờ hay tu viện, tai sao người còn tạo ra những phần còn lại của thế giới. nói chung nội dung và tinh thần của kinh thánh có vẻ xa cách và kỳ lạ, chỉ có một vài phần kích thích sự chú ý của tôi chẳng hạn như thánh ca. Tôi đọc và nghiên cứu những sách báo phương tây khác để rồi cuối cùng đúc kết thành một câu hỏi bốc cháy ám ảnh tôi suốt nhiều năm. Tại sao người do thái chối chúa, trong khi chúa nói rằng người thỏa mãn do thái giáo và tại sao thiên chúa giáo tuyên boosyeeu thương chúa, lại thù ghét người do thái dân tộc của người. 

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

Thiền ánh bình minh phương tây 5

 Tái sinh không liên quan gì đến việc chuyển bản thể mà nó là sự tiếp nối của một quá trình. Phật dạy, tái sinh phát xuất từ hai nguyên nhân: tư niệm cuối cùng của đời trước như nguyên tắc điều khiển của nó và những hành động của kiếp trước như nền tảng của nó. Sự ngưng tư niệm cuối cùng được hiểu là chết, sự xuất hiện tư niệm đầu tiên là tái sinh. 

Giả sử một người sống một cuộc sống xấu xa nhưng đã ăn năn trên giường bệnh và làm sạch tội lỗi bằng nghi thức cuối cùng hay bằng những cách khác. Ta có thể lừa nghiệp của ta theo cách này hay cách khác bằng cách kiểm soát chặt chẽ tư niệm cuối cùng được không

Không, gánh nặng tội lỗi không thể tránh được và sự bám víu vào cuộc sống của một người bình thường khiến anh ta không đủ sức chống lại nghiệp lực của mình. Đối với một phàm phu, việc ấy không dễ dàng như buôn lậu một mặt hàng vào một nước khác, khi đến kiểm tra hải quan, anh ta không nhận hàng đó là của mình. Tuy nhiên, để làm dễ dàng chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, nghi thức cuối cùng được đảm nhận bởi một tu sĩ có thể làm giảm cảm giác tội lỗi của người đang hấp hối, bởi những sai lầm, vi phạm trong quá khứ lúc này sẽ hiện ra với áp lực đè nặng lên tâm lúc sắp chết. 

Ở đám tang phật tử các sư thực hiện chức năng giống như một linh mục thiên chúa giáo hay một giáo sĩ do thái phải không

tôi đã có lần tham dự một đám tang của một phật tử, nó rất khác những đám tang tôi từng tham dự. Thay vì ca tụng cá tính của người đã khuất, tu sĩ nói thẳng với linh hồn của người chết. Tại sao ông ta làm điều đó. 

Mục đích chính của đám tang phật tử không phải là an ủi gia đình người chết  mặc dầu nó có một ý nghĩa tương tự như vậy mà để đánh thức chân tánh của người chết. Khi chết, thức lìa khỏi thân, trụ vào cõi trung giới, hiện hữu dưới hình thức đặc biệt goi là thân trung ấm. Thân này thoát khỏi mọi giới hạn và có năng lực cảm nhận rất lớn mà tâm bình thường của người sống không có được. Vì vậy theo nghĩa đen tang lễ và những thủ tục sau đó là cơ may để giác tỉnh thần thức của người chết và giải thoát người đó khỏi những trói buộc của sinh tử. Nếu vị thầy tinh thần của kẻ quá cố hiểu rõ những diễn biến tâm linh của người chết và người thầy đó có định lực mạnh mẽ, đám tang sẽ diễn ra trong sự trang nghiêm và những người tham dự để có cảm giác sợ hãi. Trong giọng nói như sấm vang, như bốc lửa, vị thầy thuyết pháp để khai thị cho thần thức của người chết. Âm thanh đó được phát ra từ năng lực giác ngộ của ông, có sức mạnh xuyên thủng và chấn động đến tam thiên đại thiên thế giới. Thêm vào đó là tiếng chuông run tiếng cồng đánh, tiếng xập xõa đập chan chát vào nhau, và tiếng trống trổi lên trong nhịp điệu hùng hồn và kích động, sau đó là bát nhã tâm kinh được tụng đi tụng lại nhiều lần với nỗ lực không ngớt để đánh thức giác tâm của kẻ chết. Mục đích của bài tâm kinh này là để nhắc đi nhắc lại sắc tức thị không, không tức thị sắc. Tất nhiên cũng còn một số nghi thức khác được thực hiện trong đám tang và sau đó vào những ngày giỗ. vì thời gian quan trọng là trong bốn mươi chín ngày đầu nên việc cúng lễ được thực hiện mỗi ngày suốt trong tuần đầu và sau mỗi tuần một lần, gọi là thất. Sau bốn chín ngày hay bảy thất, việc cúng lễ có thể kéo dài đến năm thứ ba, thứ bảy, thứ mười ba... đến năm mươi năm. 

Thế còn về thiền sư thì thế nào Nếu lễ tang của ông được tổ chwucs thì ai đứng ra làm lễ. 

Thường là người có sức mạnh tâm linh cao hay đồng giáo phẩm. 

Nhưng vì ông ta đã đắc ngộ, mục đích của việc thực hiện các nghi thức tang lễ là gì. 

Ngộ không phải là trạng thái tĩnh. Nó có khả năng mở rộng không ngừng. Việc tổ chức tang lễ và cúng kị sau đó là để biểu lộ sự tôn kính đối với người đã khuất và việc cúng lễ được dùng như phương tiện để duy trì và kéo dài mối liên hệ giữa người chết và người sống. 

Nêu snguowfi ta có thể mang theo những thứ đã học hỏi được ở đời trước sang kiếp sau, tại sao người ta phải học lại cách quan hệ với thế giới khách quan. 

Để trả lời cho câu hỏi của bạn cần một sự giải thích dài dòng. Theo triết lý phật giáo, toàn thể vũ trụ không là gì khác ngoài ý thức và không gì tồn tại ngoài tâm. Thức được chia làm chín bậc. Sáu thức đầu là phát sinh do sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần tạo thành ý thức kinh nghiệm cá nhân và tâm thân sinh ra và chết đi. 

Thức thứ bảy, tám, chín không bị hư hoại khi thân tứ đại tan rã. Thức thứ bảy còn gọi là mạt na thức, là nhận thức về sự hiện tồn của một bản ngã thống nhất. Ở thức này, mọi cảm thọ của sáu thức đầu được chuyển đến thức thứ tám gọi là A lại đa thức hay kho chứa, nơi mọi hành vi, suy nghĩ hay cảm giác được ghi lại từng lúc từng lúc. 

Thức thứ chín là ý thức trong sáng, vô tướng chân tánh của ta. Nó quan hệ mật thiết với thức thứ tám đến nỗi hầu như không có sự khác biệt nào giữa hai thức này. Nó có thể được so sánh với một đại dương mênh mông, ở đó mỗi cuộc sống cá nhân là ngọn sóng trên mặt. 

Theo ý nghĩa nào đó, thức thứ tám hay kho kinh nghiệm là cơ sở của cá tính và nhân cách vì nó không ngừng gieo mầm những hành động mới, phát sinh những tư niệm khác nhau và cách ứng xử khác nhau. Nhưng khi những tư niệm, hành vi ứng xử này thay đổi chất lượng kho chứa vì chúng vừa hiện hành vừa huấn tập tạo thành những chủng tử mới. Nghiệp bao gồm hành động và phản ứng kể cả suy nghĩ và lời nói không ngừng phát triển và ftichs lũy, ứng với duyên mà sinh ra những hành động mới chúng không chỉ là quả mà còn là mầm của nhân. Tiến trình này, ngay khi được phân ra từng đoạn cũng diễn ra một cách tương tục đến vô tận, một đoạn cong của một thác nước chủng tử sinh ra hành động hiện tại, hành động hiện tại tác động lên chủng tử, tam giác được hình thành, nhân quả thành là một. 

Liên hệ đến câu hỏi của bạn, dù cá tính của ta mang vào kiếp sau bao gồm những khuynh hướng, năng khiếu nghề nghiệp, nhưng một người bình thường không có khả năng nhớ lại kiếp trước hay ý thức các sự kiện xảy ra trong quá khứ với những chi tiết nối kết nhau một cách mạch lạc. Đơn giản là nó trốn hay ẩn nấp trong vô thức, nơi mà sau này có thể hoặc không thể moi ra, chuyển vào ý thức tỉnh thức. Đó là lý do tại sao trẻ em phải dành thời gian niên thiếu học lại các quan hệ với thế giới khách quan. Ở một chừng mực nào đó chúng là những con người xa lạ trong một thế giới xa lạ. 

Tuy có những đứa bé khôn trước tuổi mà chúng ta thường gọi là cụ non điều gì khiến chúng như thế. 

So với những đứa  trẻ bình thường, những đứa bé này mang vào đời nhiều ký ức của một hay nhiều đời trước, do đó chúng không ngoan hơn và không cần phài học lại nhiều. Nhừng gì thầy đang giải thích thật là thú vị. Nhưng trong cuốn ba trụ thiền nói đức phật từ chối trả lời những câu hỏi về điều gì sẽ xảy ra trong kiếp sau, vì chúng không liên quan đến giác ngộ hay cuộc đời tu tập. tại sao thầy lại làm những điều mà đức giáo chủ của thầy không làm. 

Nếu bạn đọc lại đoạn ấy kỹ càng, bạn sẽ hiểu rằng đó là một vị thánh, một người hoàn toàn được giải thoát chứ không phải là một con người phàm tục mà chúng ta đang bàn luận. Do đó đức phật không muốn rằng vị ấy hiện hữu hay không hiện hữu sau khi chết. Tại sao như vậy, ngài nói tái sinh hay không tái sinh hay cả tái sinh lẫn không tái sinh hay không tái sinh lẫn không không tái sinh chẳng liên quan gì đến đạo giải thoát thánh nhân giải thoát khỏi những ràng buộc của khuôn mẫu là vô cùng vô tận, bất hả tư lường giống như địa dương mênh mông vậy. 

Anh có một điểm, theo tôi đó là lòng tử tế lẩm cẩm như một bà già, khi tiếp đón những câu hỏi về cuộc sống sau khi chết từ đám thính giả này. Điều khẩn thiết tìm ra ta là ai quan trọng hơn là biết cái gì xảy ra sau khi chết. Đối với tôi, về vấn đề này, thật là khá lầm lẫn khi tôi cho rằng tôi có thể thành công chuyền tải tinh thần thiền thực sự đến với quí vị trong bối cảnh này. Tại sao tôi nói điều đó. vì mọi thứ ở đây phức tạp và đối kháng với tôi. Khi học viên đến trung tâm Rochester họ khúm núm, có thể nói như thế. Họ tỏ ra khiêm tốn và cởi mở và cũng vì họ tôn trọng quyền hạn của tôi nên họ chấp nhận cách tôi đối xử với họ, nếu không họ sẽ bỏ đi. Nếu họ không cảm thấy một nhu cầu bức bách để biến đổi cuộc đời họ, họ đã không đến. Nhu cầu đó, sự khiêm tốn và cởi mở mà nó tạo ra, làm tôi có thể giúp họ. 

Nhưng khi tôi hiện diện trước quí vị, những sinh viên, giáo sư. Tôi đến với đám đông thính giả mà phần lớn chỉ tò mò về thiền.  Tôi bắt buộc phải hoạt động trong giới hạn của bầu không khí mang những tiêu chuẩn kinh viện hơn là thiền. Ví dụ, giả sử tôi từ chối trả lời những câu hỏi của quí vị về tái sinh hay đứng lặng yên để đáp lại những câu hỏi khác hoặc trả lời theo kiểu nướng không bánh. Lẽ nào giáo sư S người mời tôi đến đây, lại không có 

Tôi đã hỏi câu này trong lúc nghĩ giải lao và được yêu cầu nên nêu ra trong buổi hội thảo để mọi người cùng được nghe. Buổi sáng nay lúc bắt đầu buổi tọa thiền, thầy bảo chúng tôi là, nếu cảm thấy muốn khóc thì cứ khóc, vì trong thiền người ta không đè nén tình cảm. Giả sử tôi nổi điên lên vì ai đó đến  nỗi tôi muốn quát nạt hay đánh người đó. tôi có được phép làm như thế không. có lẽ tôi cảm thấy tốt hơn nếu tôi làm như thế, nhưng còn người kia thì sao

Không anh đừng buôn thả. Giận là một tình cảm hủy diệt, vì vậy anh cần phải kiểm soát nó. Không bị ngăn chặn, nó có thể gây nghiêm trọng cho việc tập thiền của bạn, đó là lý do tại sao giới cấm thứ chín khuyên đừng mở lối cho sự giận dữ. 

Làm cách nào để kiểm soát nó. 

Đây là kỹ thuật đơn giản, khi bạn cảm thấy cơn giận nổi lên, hãy thở thật sâu chầm chậm từ đáy bụng của bạn. hãy làm như vậy trước khi cơn giận bùng nổ và thường nó dịu xuống. 

Tôi có tính nóng nảy kinh khủng đến nỗi tôi cảm thấy không thể kiềm chế được. Từ lúc còn bé tôi đã như thế rồi. Nó có lẽ có sẵn trong máu huyết tôi. 

Hãy cho tôi biết, tính nóng đó của bạn ngay bây giờ nó đang ở đâu

Tôi ko biết

nếu nó ở trong máu của anh thì nó sẽ luôn theo anh phải không. thật ra, nó chính là do anh tạo ra và vì vậy tự anh có thể loại bỏ nó. 

Giận xuất phát từ đâu

từ cái tôi, tôi bị ngược đãi, tôi bị lăng nhục, tôi bị khinh miệt tôi bị thất bại.. Tôi người sân hận không bao giờ thoát khỏi cảm giác đè nén, vị kỷ, Thế giới chống lại tôi. Vì vậy anh ta sống một kiêp sống như địa ngục giữa những kẻ thù ddihcj: những người áp bức anh ta, những người chống lại anh ta, những người lợi dụng anh ta. Cách chữa trị lâu dài cho bệnh này chỉ cân fmootj lần nhận ra rằng ta và người khác là sản phẩm của tâm nhị nguyên. 

Tôi để ý thấy những người phụ tá của thầy tôi cho là những đệ tử của thầy dương như không biểu lộ nhiều tình cảm. Họ thân thiện và sẵn lòng giúp đỡ nhưng dường như họ quá kín đáo. Tại sao họ không cười nói tự nhiên. Như vậy có tốt cho việc tu thiền không. 

Người vô kỷ luật thiếu sự vững vàng và không có phương hướng họ luôn tản mác năng lượng của họ, phung phí chúng trong những hành động vô ích. Họ di chuyển như con rối trên dây, lắc lư lúc lắc vì họ không có điểm trọng lực, không có hồ chứa, từ đó năng lượng trôi đi một cách trơn tru. Khi họ nhìn thấy một thiền sinh di chuyển cân đối và yên lặng nội tâm họ đâm ra sợ hãi. Tại sao như thế, vì điều đó khiến họ nhận ra rằng họ thiếu những phẩm chất đó. 

Trọng tâm của mọt người nằm ở huyệt đan điền, vùng ở ngay dưới rún. Người nào tập trung năng lực ở vị trí này sẽ không bao giờ mệt mỏi, háo hức, trong ứng đối và dự trữ được một năng lượng rất lớn. Tạo thiền giúp anh ta thoát khỏi sự ức chế không lành mạnh và trở nên cởi mở, dễ dãi. Khi vui anh ta cười phá lên khi buồn anh ta khóc công khai, không một chút xấu hổ. 

Anh nói rằng những người phụ tá của tôi có vẻ trầm tư, điều đó có gì sai không? Người ta nói Đức phật rất ít nói trừ phi có người hỏi ngài. 

Cách đây nhiều năm tôi chứng kiến một cảnh bất thường ở tòa án. Một luật sư có vẻ hùng hổ to giọng thuyết giảng với một chánh án có giọng nói nhỏ nhẹ. Với tính chịu đựng và thái độ đĩnh đạc, vị quan tòa chống lại sự quát tháo của luật sư, rồi ôn tồn nói. Luật sư, ông không nghe kinh thánh nói người ngoan ngoãn thừa hưởng quả đất này sao

Và đó có phải là cách duy nhất mà họ sẽ có được như vậy không thưa ngài vị luật sư phản bác. 

Lời nhận xét của vị luật sư là tiêu biểu cho đạo đức đang thịnh hành trong xã hội ta. Sự hung hăng không chỉ được chấp nhận mà lại còn được mong đợi, trước hết vì lợi ích của chính người đó. Và nếu trong khi đang làm như vậy, tay người khác bị bẻ gãy, chân bị què hay bị sứt đầu vỡ trán, không hề gì, điều quan trọng vẫn là tiến tới. Vì nó là lối duy nhất để có được. Hiền lành được coi là yếu đuối. 

Ngoan ngoãn theo ý nghĩa của kinh thánh là người kham khẩn và khiêm tốn không phải người không xương hay khúm núm. Họ không tự cao, tự khẳng định mình hay hám lợi. Ở mức độ sâu nhất, ngoan ngoãn có nghĩa là tự đầu hàng. Với người phủ nhận hoàn toàn cái ngã luôn luôn giác tỉnh và nhận thức rằng vũ trụ không khác với chính mình. Thế còn gì để mà nắm bắt. 

Không điểm quan tọng là không bị ám ảnh bởi tình dục

Không chỉ riêng đức phật mà những vị thầy tâm linh vĩ đại đều lấy cuộc sống độc thân là điều kiện tiên khởi của cuộc đời tu tập của mình. Tại sao như vậy? Vì phật biết đòi hỏi xác thịt và sự nuông chiều thân xác dễ dàng dẫn đến tham lam và chấp thủ. Không những thế nó còn trói buộc người đàn ông và người đàn bà vào sự khoái lạc của các giác quan và vòng luân hồi sinh tử. 

Ngài cũng biết rằng nếu tu sĩ được phép lập gia đình, vợ con của họ phải được họ chu cấp đầy đủ. điều này có nghĩa là các tu sĩ không thể nhất tâm cống hiến tất cả thời gian, năng lực, và tinh thần cho sự truy tầm cái ngộ. Hơn nữa, khi trở thành bậc thầy họ cũng không hăng hái phục vụ đạo pháp, vì gia đình họ là trên hết. Trong kinh luận chúng ta thường thấy đề cập đến cuộc sống độc thân vì khi thân tâm chín mùi trong sự tu luyện sự độc thân tọa nền tảng cho việc biến năng lượng tình dục sang những xung động trong sạch hơn, thiết yếu cho trạng thái định và tỉnh thức sâu nhất. 

Độc thân bao hàm nhiều ý nghĩa hơn là kiêng tình dục. Nó là sự siêu việt về giới tính, sống một cuộc sống trọn vẹn và vượt xa. Việc sống trọn vẹn và vượt xa có thể trải qua một thời gian ngắn hay nhiều năm. Ở mức độ cao nhất, độc thân là một trạng thái hiếm hoi mà trong đó những rung động thô hơn kệt của thân tâm trở nên vi tế, tuyệt hảo, tạo ra sự yên tỉnh thanh tịnh tỏa khắp nơi. 

Nhưng tại sao lại đè nén tình dục không phải nó là chức năng tự nhiên như ăn uống sao. 

Chúng ta có thể sống mà không cần có tình dục nhưng ta có thể sống bao lâu nếu không ăn. Vấn đề mà chúng ta nói siêu việt không phải là sự đè nén. Sự đè nén lại là một vấn đề khác. 

Nhiều người xem tình dục như một kinh nghiệm không giới hạn, cần thiết cho mối quan hệ thắm thiết. Tuy nhiên có nhiều cặp vợ chồng mà cuối cùng họ đạt đến một điểm trong mối quan hệ của họ vượt qua tình dục trong cái nghĩa hẹp của ái ấn và họ cùng nhau sống một cuộc sống trinh bạch và phong phú về mặt tâm linh. Tình yêu cao cả nhất không dựa trên căn bản tình dục mà là trên nền tảng hiểu biết đúng đắn về mối tương quan của tất cả các pháp và sự quí trọng cuộc sống mà nó sinh ra. 

Khi nói về độc thân và giới tính, tuy nhiên, ta không nên lầm lẫn hoàn cảnh sống của một người có gia đình với một tu sĩ độc thân. Đối với một người có gia đình, hạnh phúc thường lệ thuộc vào mối quan hệ tình yêu xác thịt hài hòa, đặc biệt là trong những năm đầu  của cuộc sống lứa đôi. Hạnh phúc gia đình đem lại cho tâm trạng thái điềm đạm, điều này có lợi cho việc tọa thiền. Nhưng đối với người sống ở tu viện, dĩ nhiên, hoàn toàn ngược lại. Vì vậy một người có gia đình cố gắng sống một đời sống tu viện hay tu sĩ sống cuộc sống của một người chủ hộ, thì chỉ làm hại mà không có lợi cho việc luyện tập. Dù sao cuộc sống độc thân hay có gia đình được quyết định bởi nghiệp của họ. 

Nhưng làm cách nào người ta biết được nghiệp của họ là gì? Có liên quan gì đến tình dục hay không? 

Có một cách thử đơn giản. Nếu việc xuất gia tiến hành một cách thuận lợi không bị trục trặc không do hoàn cảnh trói buộc hay lo âu nghi ngờ ta có thể nói rằng nghiệp của người đó chín mùi đối với tình dục và người đó sẵn sàng một cuộc sống độc thân. 

Nhưng nếu người ta không thích sống độc thân, vẫn say mê tình dục đồng thời thực hành thiền thì có thể giác ngộ được không

Vẫn có thể được. Nhiều cư sĩ đã đắc ngộ sâu. Có ba vị nổi tiếng trong lịch sử phật giáo. 

Cả ba đều làm tròn trách nhiệm của một người chủ gia đình và đồng thời thể hiện từ bi và trí tuệ trong cuộc sống của họ. Đó là hệ quả của sự phát triển tâm linh cao tột độ của họ. 

Ở nhật ngày nay, hầu hết các tu sĩ phật giáo và một số thiền sư là những người có gia đình, tình trạng độc thân chỉ được yêu cầu trong thời kỳ tu luyện ở các tu viện. ở trung tâm của chúng tôi thật ra, theo lời dạy của pháp nhiên, chúng tôi truyền giới cho tăng nhân độc thân và người có gia đình. 

Hẳn thầy cũng đồng ý rằng chúng ta đang sống trong một thời đại mà con người có những nhận thức cao hơn. Ta biết nhiều hơn người xưa về thế giới tâm linh và thế giới vật chất nhờ những khám phá trong các ngành tâm lý học, cận tâm lý học, vật lý nguyên tử, sinh hóa và các lĩnh vực khoa học khác. 

Theo ý nghĩa sâu xa nhất, có thật chúng ta biết nhiều hơn người xưa về con người và vũ trụ không. Các khoa học gia có thể nói tại sao mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng tây, tại sao con quạ đen mà con diệt trắng, tại sao nước sôi ở 100 độ C và đông ở 0 độ C, tại sao chó đuổi mèo và mèo vờn chuột không? các nhà tâm lý học hay sinh vật có thể giải thích nguồn gốc hay bản chất ý thức của chính họ không. Với tất cả những thành tựu của họ, thậm chí các nhà khoa học không biết ngay cả con người là gì. Tất cả các triết lý ngày nay Whithead nói, chỉ là một chú thích của plato. Gần giống như vậy, kiến thức chúng ta về nhân tâm, và về bản chất của vũ trụ cũng chỉ là một chú thích của những gì mà Đức phật khám phá cách đây 2500 năm về trước, một phụ chú cho trí tuệ của mỗi chúng ta. Vào thế kỉ thứ chín, một vị tăng sau này trở thành một thiền sư vĩ đại tuyên bố về sự giác ngộ của mình. Họ và hiểu những triết lý thâm sâu nhất giống như một sợi tóc đơn độc trong một không gian bao la. Giưới hạn xa nhất của kiến thức con người là giọt nước rảy vào vực sâu. 

Thầy biết con người là gì không lão sư

anh là ai

tôi là thân tôi là tâm tôi không đúng sao

anh có thể điều chỉnh dòng chảy trong anh hay ngăn chặn sự lão hóa và cái chết của thân anh không. anh có thể kiểm soát tư niệm của anh không. nếu nói đó là thân của anh và tâm của anh, chắc chắn anh có thể làm những điều đó. 

Hãy nói cho tôi biết, tâm này của anh giống như cái gì

tôi không biết, thầy có thể nói không

anh có nhìn thấy cây thông cao bên ngoài cửa sổ kia không. anh dùng nó để làm chiếc cầu nối liền trời và đất. Anh có nghe tiếng chim hót líu lo không. Đó là âm thanh đưa anh đi vào thế giới. Hãy nhìn, hãy lắng nghe. 

Ta có thể trở lại câu hỏi đầu tiên của tôi hay không. Tôi vẫn chưa hỏi hết

Được

Trong thiền, tại sao ta phải ngồi thiền nhiều giờ trong tư thế đau đớn và phải mất nhiều năm mới đắc ngộ. Thuở xưa, đó là điều cần thiết nhưng ngày nay tốc độ hoạt động của con người gia tăng một cách khủng khiếp, không những thế còn có liệu pháp mới và kỹ thuật mới giúp ta đi tới sự giác ngộ nhanh hơn và ít đau đớn hơn. 

Điều anh hỏi rất giống câu hỏi được đặt ra vào cuối thập niên sáu mươi khi mà ma túy trở thành một phong trào rộng rãi. Người ta thường cho rằng nếu quí vị căng thẳng thần kinh, lo âu hay thất vọng, chỉ cần một điếu cần sa, một ly rượu mạnh hay ma túy dủ làm cuộc sống dễ chịu hơn. Vấn đề được giải quyết bằng phounwg pháp hóa học. Người ta nghĩ rằng ngộ có thể đạt tới bằng con đường nhanh chóng như vậy

Trong khi sự đam mê đi tìm cảm giác lâng lâng này tàn phá đất nước chúng ta tôi đang sống ở Nhật nên hoàn toàn không biết gì hiện tượng ma túy. Lần đầu tiên được giới thiệu về nó bởi một người gọi là bạn gởi cho tôi nhiều bản sao của một cuốn sách với nhan đề Đảo của Aldous Huxley. Tài liệu này cũng chẳng giúp được gì nhưng nó thúc tôi trong việc tu tập. Nội dung của nó thuật lại câu chuyện về một người đi tìm chân ngộ, người này khao khát một sự mặc khải của thần linh nhưng không còn phải chịu đựng những gian khổ hay phải nỗ lực tu tập như các bậc thầy thuở xưa. Điều đầu tiên là anh ta đến bác sĩ phân tâm học nhờ mở các gút tâm linh, rồi sau đó, đến một dược sĩ lành nghề để mua đúng loại thuốc hay hóa chất có thể làm tỉnh dậy một số tế bào não bị lão hóa và trải rộng tầm hoạt động của ý thức rất nhanh. Anh ta là người được mặc khải thần linh, được giác ngộ, được tỉnh thức, được thấm nhuần chúa ơi. 

Nhiều người trong giới văn hóa phản động tìm đến bác sĩ thần kinh, không phải để điều chỉnh tâm thần mà vì được cung cấp thứ thuốc mà họ cần dùng và những gì theo sau đó. Những kẻ cao giọng râu rao về ngộ hóa học tức thì trở thành cái gì. Thực nực cười là nhiều người trong số họ bây giờ đang tu thiền hay một tôn giáo khác. 

Thầy có bao giờ thử ma túy hay cần sa chưa

Dùng bất cứ loại ma túy nào cũng được coi như là thiếu lòng tin vào bản tánh thanh tịnh của tâm thân và khả năng tự chữa trị của nó, bởi đã có những lúc nó tẩy trừ những mê hoặc sai lầm trong cuộc sống. Sử dụng ma túy cũng có nghĩa là chối bỏ trách nhiệm bảo vệ tinh thần, thể chất và tâm linh của chính mình. Hầu hết các loại ma túy là tác nhân thuận mà người dùng chúng với hy vọng hão huyền là họ có thể đạt được dễ dàng những gì người ta không muốn mất nhiều thời gian và công sức. 

Về những liệu pháp mới, có bao thứ trong đó thật sự mang đến ngộ. Những cá nhân tuyên bố đắc ngộ qua một liệu pháp tâm lý nào đó thường yêu cầu tôi kiểm tra họ. Trong số hàng chục người được thử, không ai nếm được vị đầu lưỡi của kiến tánh. 

Ngày nay tên của trò chơi là thiền định. Nhiều người ở đủ mọi độ tuổi đang bị lừa bịp khiến họ tin rằng để ngộ không cần đi qua con đường dài khúc khuỷu cheo leo của thiền sư mà chỉ trong 20 ngày thiền định, trừ hao vài ngày. Thật dễ chịu như ngủ, ngáy, ngồi lom khom thiền như ý bạn - sống như bạn thích và chắc chắn bạn đang đi đến giác ngộ. 

Rồi có kẻ bán thuốc dạo rao bán một loại thuốc khác. Ba ngày được kiến tánh và anh ta bảo đảm công hiệu của thuốc. Chỉ có lang băm hay người khùng mới có thể tuyên bố trân tráo như vậy, kiến tánh nhìn vào chân tánh của con người có thể trở nên hiện thực với mọi người trong vòng ba ngày. 

Biết cách lừa những kẻ ngây ngô. Để giữ họ nán lại gian hàng triển lãm của ông ta, Barnum đặt một cái bảng ghi ngõ này dẫn tới lối ra. Ngay một người Mỹ trung bình cũng ít biết từ egress có nghĩa là lối ra nên thiếu người bị lừa bởi cách chơi chữ này của Barnum. Ít người biết được ý nghĩa của cụm từ này nên cho rằng phải có con vật kì lạ và họ bu quanh theo hướng mũi tên, đi ra phía ngoài căn lều, đúng nơi mà Barnum muốn họ ghé chân. 

Ba ngày được kiến tánh, ngỏ này tới lối ra một dụ họ vào và cái kia dụ họ ra. Mỗi cách đều là trò lừa đảo củ rích như nhau. Trước khi kết thúc, tôi xin đọc cho quí vị một đoạn văn liên quan của John Wu trong quyển thời đại hoàng kim của thiền

Thiền sư biết rằng trở nên một con người phát triển toàn diện là một công việc khó tột bậc nhưng ông biết những thử tách nào gây nản chí gì... những nghi ngờ nào bóp nghẹt tâm trí, những cám dỗ nào cần phải vượt qua, những đau khổ nào cần phải kham chịu, trước khi có thể hi vọng đến được ngưỡng cửa giác ngộ. Đó là lý do tại sao họ tới với tất cả sức lực và chưa bao giờ chấp nhận ngừng cách xa đích cuối cùng của họ.

Hiện giờ ta đã đi được nửa chặng đường của khóa nhiếp tâm này, nhiều vị ở buổi độc tham đã báo cáo về việc gặp ma cảnh. Đó là điều mong đợi những bão tố ma cảnh thường tấn công vào ngày thứ ba hay thứ tư, đó là khi có sự huy động năng lượng lớn hơn. Theo nghĩa này ma cảnh là một yếu tố tích cực, một dấu hiệu là năng lượng của khóa nhiếp tâm đang được hình thành. Ma cảnh thường không xuất hiện khi sự tập trung tinh thần còn lỏng lẻo hoặc khi tâm người ta ở trạng thái gần như định. Vì vậy, chúng ta đánh dấu điểm giữa của chặng đường tu tập. 

Quí vị đã nhiều lần nghe nói về bản chất và nguyên nhân của ma cảnh nhưng dù sao sự bối rối và hoài nghi vẫn còn đó. Vì vậy, hãy lắng nghe cẩn thận. Tại sao những ảo giác mộng tưởng này phát khởi. Ngay sau ba ngày trọn tọa thiền, tâm có phần nào yên tĩnh, những vọng niệm và những thứ còn lại của những kinh nghiệm trong quá khứ bắt đầu trồi lên trên bề mặt của nhận thức. Chúng gần giống những giấc mơ. Chẳng hạn, thông thường người ta thấy những khuôn mặt trên tường phía trước mặt họ. Nhiều người nghe tiếng chuông nhà thờ bên cạnh vọng lại liên tục. Người khác cảm thấy như côn trùng bò lên trên người. Hay quí vị có thể tưởng là mình đang bay bổng hay là cơ thể đang tan ra. Khóc là một kiểu ma cảnh thường xuyên nhất. Chừng nào mà quí vị không khóc vì buồn cho chính mình, nước mắt có hiệu lực tẩy xổ, làm tan đi và cuốn đi những lớp vỏ cứng của ngã. Ma cảnh cũng có thể xuất hiện khi tâm  và hơi thở của quí vị không cùng nhịp, đó là kết quả tư fmoojt cái thân căng thẳng và một cái tâm làm việc quá sức. 

Ma cảnh cũng đến trong những trạng thái tâm lý: giận, ghen hay háo hức. Ngay cả u sầu hay nản chí cũng không gì khác hơn ma cảnh. Ma cảnh là một loại hố đen sâu mà hầu như mọi thành viên của khóa nhiếp tâm rời vào ít nhất một lần. 

Ảo tưởng mà quí vị thấy đi ra đi vào trong nhiều ngày cũng là ma cảnh mà có lẽ quí vị không một chút nghi ngờ về nó. Ma cảnh gây thỏa thích và quyến rũ có thể là loại vừa thu hút vừa gây sợ hãi. Nhiều năm về trước khi tôi đang tu luyện, một vị trưởng tăng đến nói với tôi. Trong khóa nhiếp tâm, anh biểu diễn một ma cảnh rất lạ mà tôi chưa từng thấy trước đây. Vào giữa buổi thiền anh đột nhiên giơ một tay như thể để nắm lấy cái gì và kéo nó vào lòng, rồi tay kia cũng làm y như vậy. SAu đó hai tay cùng thực hiện một động tác như cũ. Anh có nhớ ma cảnh đó không?

Vâng, có nhớ. Tôi đang đi ngang một dãy hàng của một siêu thị lớn ở mỹ tôi tự lấy thịt bít tết trứng bơ, và những món mà tu viện không có. 

Ma cảnh cũng có thể xuất hiện dai dẳng. Có một lần tôi gặp phải trường hợp trong những ngày đầu của khóa huấn luyện, nó liên quan đến những bức tranh của paul klee, mà tôi thường thán phục, chiêm ngưỡng tại các viện bảo tàng. Trong ma cảnh của tôi, toàn thể vũ trụ được nhuộm màu rực rỡ của các tác phẩm hội họa của Paul klee, nhưng màu sắc ở đây nhẹ nhàng hơn, sống động hơn so với những gì chính Klee vẽ. Suốt gần một tháng tôi đắm mình trong cái cảm giác hài lòng về những màu sắc vũ trụ này, bị thuyết phục là tôi đã ngộ. Chỉ sau những lời cảnh cáo nghiêm khắc của lão sư, cuối cùng tôi từ bỏ những tri kiến này, cái đang làm tê liệt sự tu tập của tôi. 

Một trong những ma cảnh thông thường nhất và có lẽ phản trắc nhất là sự sợ hãi. Khi sự tu tập của một người vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, cái ngã bắt đầu cảm thấy bị đe dọa. Trong sự tuyệt vọng, nó moi lên toàn bộ nỗi sợ hãi này. Trong một nỗ lực cuối cùng, cái ngã muốn lấy lại quyền thống trị của nó. Trong một nỗ lực cuối cùng, cái ngã muốn lấy lại quyền thống trị của nó. Có những nỗi sợ cụ thể sợ kém ăn, sợ mất ngủ, sợ cây roi khích lệ và ngay cả sợ sự kiến tánh. Có những nỗi sợ vô danh, sự lo âu mơ hồ ám ảnh tâm thức khi người ta tập trung sâu hơn. Những sợ hãi này bắt nguồn từ những kinh nghiệm khó quên cả thời thơ ấu hay ngay cả từ kiếp trước nữa. Điều quan trọng nhất là nhìn thẳng vào chúng không một chút sợ sệt để nhìn ra chúng là không thật. Thật ra chúng đủ thật để làm chúng ta sợ hãi, nhưng nó không có bản thể bền bỉ, một chỗ trú cố định. Và ngay cả nếu cuộc sống của quí vị là một giấc mơ, những nỗi sợ này còn nhiều vô số nữa. Vấn đề là trong khóa nhiếp tâm này, với sự kết hợp sức mạnh của lão sư và các trưởng lớp, tạo ra cho những ai trong quí vị bị nỗi sợ dai dẳng quấy rầy, một cơ hội lớn. Với tất cả năng lượng tập trung hoạt động vì quí vị, quí vị sẽ không bao giờ có được cơ hội tốt hơn để nhìn thấu những nỗi sợ và làm tan biến nó một lần cuối rồi thôi. 

Cũng có những cái được gọi là ma cảnh cấp cao, hoàn nguyên về những kiếp trước, nói với giọng lưỡi nội kiến tâm lý hay triết lý sâu xa. Điều đó có thể xảy đến với quí vị ở khóa nhiếp tâm này. Không có cái gì để mừng vui về những ma cảnh như vậy. Nếu quí vị bám víu vào chúng bằng niềm tin lầm lẫn rằng quí vị đã trải qua một cái gì đó có giá trị hiếm hoi hay vĩnh cửu chúng sẽ trở thành chướng ngại đối với ngộ, nếu không chấp trước vào nó, chúng trở nên có lợi vì chúng thường giải thoát những khu vực bị khóa chặt trong thân tâm và giải phóng năng lượng mà bình thường không sẵn có trong quí vị. Tuy nhiên, năng lượng được giải thoát này phải được dẫn vào vùng đan điền, nơi đó nó trở thành một giếng phun, từ đó quí vị rút ra để phá vỡ công án. Nếu để năng lượng này dâng lên đầu hay ngực, chúng chỉ gây ra sự nặng nề đau đớn hay cảm giác đập bình bịch ở vùng này. 

Điều quan trọng cần phải nhớ khi đương đầu với bất cứ ma cảnh nào, là không chấp vào chúng. Ma cảnh là trò ảo thuật của bản ngã, không có khán gia gã ảo thuật gia ranh ma này sẽ bỏ đi. Thết đãi chúng chỉ làm chúng nán lại lâu hơn. Thật đáng tiếc khi thấy một vài tham dự viên nào đó bỏ công tu tập của mình - công án của họ để nuôi dưỡng những trạng thái hạnh phúc hay năng lượng cao hay vì sự quyến rũ của cao ngạo mà đắm mình trong bùn đen ma cảnh lo âu và sợ hãi. 

Đừng bao giờ lầm lẫn những trạng thái tinh thần này với ngộ thật sự. Hãy đặt toàn tâm vào sự hành trị của quí vị. Điều này quả thật không dễ, ma cảnh mạnh và sống động. Để tránh làm mồi cho chúng, quí vị  cảm thấy tâm thân mình biến mất và chỉ còn lại công án. Làm như vậy, ma cảnh sẽ tan đi như bỏ nước đá vào trong một ly nước nóng. 

Hãy lắng nghe những lời khuyên sau đây của một thiền sư thủa xưa: Công việc thiền không chỉ bao gồm thuộc lòng một công án. Điều chính yếu là biết khởi nghi tình. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Quí vị phải xuyên thẳng qua nó. Nếu cảm thấy dường như không thể làm được, hãy vận toàn lực, căng tất cả dây thần kinh và tiếp tục thử. 

Cảm giác nghi ngờ này là gì? Nó là sự bối rối bừng cháy, một khối nghi ngờ, một câu hỏi cơ bản dai dẳng bám theo quí vị không cho quí vị một giây phút nghỉ ngơi. Chẳng hạn: Nếu mọi người vốn không tì vết, nhân chi sơ tánh bổ thiện, được phú cho đạo đức, từ bi, thì tại sao lại có quá nhiều thù hận, ích kỹ, bạo tàn và đau khổ khắp mọi nơi. Có thể suy nghĩ về câu hỏi này bất cứ lúc nào khi bạn rảnh lúc ở nhà, tại nơi làm việc. Nhưng tham công án thì lại khác. Đó là lúc bạn ngồi trong tư thế kiết già, dùng thân tâm một cách tập trung hơn để tham cứu một công án như tánh không là gì hay tôi là ai, cùng là mối nghi ngờ nhưng theo cách này sự tập trung mãnh liệt hơn sắc bén hơn. 

Công án được phân cho quí vị không thay thế cảm giác hoài nghi căn bản, nó chỉ mài bén nghi ngờ bằng cách nâng cao nhận thức. Cảm giác nghi ngờ căn bản như mũi khoan xuyên thẳng không là gì. 

Thoạt đầu không có vẻ nhân tạo và là một cái gì ở bên ngoài, nhưng khi quí vị dấn sâu hơn vào nó, không trở nên một cái gì đó bức thiết trong chính cuộc sống của quí vị, vì không chỉ là cái tên khác của tâm cái tâm thanh tịnh bao trùm cả thảy quá quen thuộc với mọi người. Quí vị có thể tự hỏi, nếu tôi có sẵn tâm này, sao tôi không hề hay biết. Xin trả lời, là vì sự bất tịnh của quí vị, những vọng tưởng về 

Hãy tự nhắc nhở mình không là gối của tôi, không chiếu của tôi, không là thân của tôi, và không cũng là những gì không phải của tôi. không dường như vừa là vật chất vừa là một phí vật chất. Về mặt lý luận, nó có vẻ mâu thuẫn, vì thế ở đây nghi tình lại phát sinh. Hay nếu thích, quí vị có thể trở lại công án trọn vẹn hơn và tự vấn. tại sao triệu châu đáp vô khi được hỏi. Con chó có phật tánh không?

Vì kinh phật dạy rằng chúng sinh đều có phật tánh. 

To becomes huge

 Đêm 1/6/2022

Làm gì bây giờ? đó là câu hỏi thường hỏi nhưng nay câu hỏi này lại mang trong mình một ý nghĩa khác. 

vào ocoong trươngd được 4 ngày tôi chợt nhânj ra công trường cũng đấu đá ghê lắm. kĩ thuật người ta giỏi rồi, tôi sao cạnh tranh được. 

có thể phải đóng vai một nhà ngôn ngữ học thôi. khả năng tư duy kĩ thuật + phiên dịch để better. 


Hướng đi đó có vẻ bền hơn vì mình không thể xin việc như trước. bỏ tiền học tiếng nhật để giỏi trong 2 năm đủ để có bước đi rõ ràng. nếu ko được thì ra đi cũng không hối tiếc gì. Hãy cố lên tôi ơi. 

Cứ bình tĩnh và bước những bước vững chắc nhất. 

ngôn ngữ sẽ giúp tôi thoáng đầu trong lúc rảnh rỗi đồng thời sau này có thể dùng được để giao tiếp. 

2 năm là lộ trình tôi dự định 12 tháng x 30 từ = 360 từ. cũng tàm tạm. 

cứ tự học cũng được mà. vì tiến độ suốt thì phải làm tối. 

Thay đổi để tốt hơn

 18.08.2026 Những đội kiếm được tiền từ cty này là đội MH. còn đôi kinh doanh thì không nhiều nhưng vẫn oke.  Còn đội mà lấy từ cty này kĩ n...