Sống trên đời như một phật tử thiền có ý nghĩa gì?
Lão sư thân mến
Trong khóa học Thiền, là một giáo sư đại học tôi đưa ra vấn đề thường xuyên nảy sinh trong các buổi thảo luận ở lớp, chẳng hạn như là sống trên đời như một phật tử thiền có ý nghĩa gì bằng những từ cụ thể. Trong những cuốn sách tiếng anh nói về thiền, đọc giả thường gặp những tham chiếu thông thường đối với ý nghĩa to lớn của từ bi, nhưng thường đề tài đạo đức dẫn dắt phật tử trong cuộc sống hàng ngày ở ngoài thiền đường càng ít được biết đến. Vì vậy tôi rất muốn nghe thầy nói ở một buổi hội thảo về sự quan trọng của mười giới cấm của phật giáo đại thừa, thật có ích cho tôi, vừa là thầy giáo vừa là một người quan tâm đến thiền, nếu thầy gởi cho tôi những bài viết hay bài bình luận mở rộng mà có lẽ thầy đã chuẩn bị theo cách mà thầy, một lão thiền sư, hiểu về bản chất và mục đích của thập thiện giới.
Có lẽ tôi phải nói cụ thể hơn về vấn đề đạo đức và tôn giáo mà tôi đặc biệt quan tâm. Nếu tôi hiểu thầy đúng, thiền dạy rằng tất cả nam lẫn nữ phải cố gắng tuân theo mười giới. Có lý do gì để làm điều này? Có đúng hay không khi nói từ quan điểm Thiền có một trật tự xã hội điều khiển cuộc sống con người và những giới cấm là một công thức của trật tự đạo đức này? Giữa mười giới cấm và nhân tánh có mối tương quan như thế nào? Chúng ta tạo ra luật lệ áp đặt lên nhân tánh có mối tương quan như thế nào? Chúng ta tạo ra luật lệ áp đặt lên nhân tánh bởi phục tùng thánh ý của thượng đế hay có một mối quan hệ hổ tương nào đó giữa giới cấm và nhân tánh? Chẳng hạn, có sự kết nối nào ở đây giữa những trọng cấm và yêu cầu của giới luật cũng như khát vọng muốn tự biết, tự quyết tâm và tự ngộ sâu hơn
Tính bó buộc nào mà một phật tử tu thiền cảm thấy trong mối quan hệ với giới luật? Có phải những giới luật là đạo đức tuyệt đối với phật tử cũng giống như 10 điều răn của chúa đối với những tín đồ của đạo cơ đốc hay do thái, những người vốn có niềm tin là nhân loại bắt buộc tuân theo mười điều răn một cách vô điều kiện, và họ phải nghiêm khắc tuân thủ từng chi tiết của luật ấy bất cứ lúc nào, bất kể sự biến đổi bất tận của hoàn cảnh xung quanh vào những thời điểm khác nhau. Thiền hiểu những hậu quả của việc không tuân theo giới luật như thế nào. Thiền đối phó thế nào với vấn đề cảm giác tội lỗi có thể nảy sinh từ việc không thực hiện đầy đủ giới luật?
Sự tuân theo giới luật một cách hình thức, quan trọng đối với Thiền hay chính yếu là tuân phục từ bên trong với sự thanh khiết của trái tim? Điều này có thể thiếu sự giác ngộ sâu hay không? Nếu không thể, công việc khó khăn trong nỗ lực thực hiện trọn vẹn mười giới luật bên trong và bên ngoài có giúp con người đạt ngộ hay không?
Nếu trong giới luật hàm nhân tuệ, thì chí ít mọi người nam nữ đều có tiềm năng nắm bắt cái tuệ này thông qua chính kinh nghiệm, lý trí và nội kiến của mình hay không? Hay họ phải bằng lòng chấp nhận giới luật như sự hiểu biết theo đức tin mù quáng, đặt lòng tin vào quyền lực của những người khai sáng truyền thống phật giáo
Lá thư này nêu lên nhiều câu hỏi có liên quan mật thiết với nhau và tôi hi vọng chúng cung cấp cho thầy những ý tưởng để làm trong sáng vấn đề đang tìm kiếm. Thêm vào đó là những vấn đề thông thường và dĩ nhiên tôi quan tâm đến sự giải thích ý nghĩa cụ thể của từng giới luật.
Đáp
Mặc dù những câu hỏi nêu ra trong thư anh được trả lời khá tốt bằng chính kinh nghiệm tọa thiền của anh nhưng rõ ràng lý trí của anh không thỏa mãn với những gì có giá trị thích hợp mà anh định làm. Vì lý do này, và bởi vì anh dạy thiền ở trường học cho nên những điều anh làm hay nói với học sinh chắc chắn ảnh hưởng chúng ở một mức độ nào đó. Tôi sẽ bắt đầu với sự luyện tập thường xuyên của tôi và đáp chi tiết những câu hỏi của anh, mặc dù hơi lý thuyết, nhưng thực tế cho thấy những câu hỏi ấy che dấu những mối quan tâm về mặt tâm linh sâu kín.
Anh hỏi về tính chất và mục đích của mười giới luật trong phật giáo đại thừa. Giới luật là một trong những cái kiền ba chân mà giáo lý phật giáo và thực hành đứng trên đó; hai chân còn lại là tọa thiền và giác ngộ tuệ giác. Ba cái này có quan hệ mật thiết gắn bó với nhau. Nỗ lực giữ giới có thể chỉ thành công một phần nếu nó xa rời tọa thiền. Nỗ lực giữ giới có thể chỉ thành công một phần nếu nó xa rời tọa thiền, và tọa thiền xa rời giới luật thì yếu đi và không chắc chắn. Chính qua tọa thiền, được chống đỡ bởi giới luật, sự nhận thức về chân tánh của chúng ta được nâng lên tầm ý thức ( ngộ) và trong chân tánh này giới, tọa thiền (định) và tuệ nương tựa vào.
Thoạt nhìn vào con số mười của giới cấm phật giáo thì nghĩ nó giống mười điều răn của thiên chúa giáo, việc so sánh chúng là làm méo đi cả giới cấm và mười điều răn, vì mỗi cái chỉ được hiểu trong chính bối cảnh tôn giáo của nó. Hãy hiểu rằng giới cấm không phải là bản tuyên ngôn từ bên trên trao xuống. Chúng không tương phản với, cũng không hạn chế bản chất căn bản của anh. Thay vào đó, chúng là sự diễn đạt tâm phật tự hiện thực hóa, một mô tả, cách một người phát triển cao về mặt tâm linh không có tự giác về tôi người khác trong hành động.
Hãy so sánh: Sống theo giới luật là vượt một lộ trình thống nhất và hài hòa trên một con đường trơn tru, ít chướng ngại, có phong cảnh đẹp. Phạm giới là đi con đường nhỏ có vẻ rất thích thú nhưng ngay sau đó trở nên gồ ghề đơn điệu, và chấm dứt ở ngõ cụt của luyến tiếc và lo sợ.
Thiền sư đạo nguyên nói, để đạt được một mục tiêu nào đó, quí trị trước hết phải trở thành một hạng người nào đó, nhưng một khi quí vị trở thành một con người như vậy, việc đạt được mục tiêu đó hay không chẳng còn là điều quan tâm của quí vị nữa. Giải thích dưới ánh sáng của thư anh. Bob điều này có nghĩa để nhìn thấy sự không chân thực của bản ngã cái tôi và nắm bắt được sự tương đồng giữa ta và người, anh không thể tiếp tục suy nghĩ và hành động để đáp lại yêu cầu của cái bản ngã định hướng nhị nguyên của anh; anh phải lưu ý đến tiếng gọi sâu hơn của giới cấm. Và tuy một khi giới cấm đã trở thành một tiêu chuẩn trong cuộc sống thường nhật của anh, ngộ không còn đứng tách rời với anh như những gì phải tìm kiếm. Trong trạng thái tự do như vậy, người ta không còn nghĩ về luật đạo đức hay tập tục xã hội, về chuyện bị trói buộc vào hay được giải thoát ra khỏi chúng. Anh có thể di chuyển xuyên qua những tập tục xã hội mà chừng như không hề xuyên qua chúng -- chúng ở đó tuy không ở đó. Mới đầu người ta tìm tự do khỏi những cảm giác đè nén. Dần dần, qua tọa thiền và nữ giới, những đè nén bó buộc tan đi. Cái giá của sự tự do này, tuy nhiên, là sự luyện tập lâu dài và tự kỷ luật.
Nhận ra điều này, Thomas Merton nói, sự coi khinh của thiền giả đối với tập tục thông thường của xã hội và hình thức là hiện tượng lành mạnh, nhưng nó lành mạnh vì nó bao hàm tự do tâm linh trên nền tảng của sự giải thoát khỏi tánh bồng bột, chủ nghĩa vị kỷ và tự mê hoặc. Trong câu nói này coi khinh là sự lựa chọn tồi, vì một thiền giả đã phát triển tâm linh không nô lệ vào vấn đề trói buộc hay coi khinh luật lệ, phong tục. Quả thực các thiền sư được biết đến nhiều bởi sự cải cách hơn là tuân theo. Thiền sự bạch ẩn với ngòi bút tích cực của ông chỉ trích gay gắt giai cấp thống trị đầy quyền lựt ở Nhật vì sự áp bức và bóc lột của họ đối với nông nô, những con người mà ông thường xuyên kết giao. Chính Đức Phật cũng đã tấn công vào tôn giáo chính thống của thời ngài vì sự mê tín và chủ nghĩa độc đoán, thậm chí ngài nhận vào tăng đoàn những con người thuộc giai cấp tiện dân, những người bị ruồng bỏ trong xã hội Ấn Độ. Công lý và sự bình đẳng trong xã hội có thể tiến triển qua nỗ lực của phật, bạch ẩn, và những thiền sư khác nhờ vào sức mạnh biến đổi của tự do tinh thần.
anh hỏi, thiền hiểu thế nào về những hậu quả của việc không tuân theo giới luật. Thiền đối phó thế nào với vấn đề cảm giác tội lỗi có thể nảy sinh từ việc không thực hiện đầy đủ giới luật? Bình thường cảm giác tội lỗi không phát sinh khi người ta không giữ giới vì người ta nhận thấy rằng người bình thường không có khả năng lúc nào cũng tuân theo từng giới cấm - chỉ có phật mới có thể làm được như vậy. Khi người ta thành thật cố gắng sống theo kim chỉ nam này, ăn năn về những sai phạm và quyết tâm làm tốt hơn trong tương lai, những sai phạm như vậy, tuy đáng tiếc, không phải là tai hại. Điều tai hại đối với sự tiến bộ tâm linh của người ấy là mất lòng tin vào sự bảo đảm của phật, xuất hiện từ sự giác ngộ tối thượng của ngài rằng mỗi chúng ta vốn có cái thanh tịnh bổn lai trọn vẹn và năng lực, qua tu luyện, hiểu được cái hoàn hảo bẩm sinh này.
Mục tiêu cơ bản của giới luật là tạo ra con người có năng lực thực hiện việc tu tập với mục đích nhận ra phật tánh của chính mình. Thiếu sự công bằng và vô tư, ít có người chịu đi theo con đường đạo với nhiệt tình thuyết phục. Hành động mà giới luật khước từ phải được bỏ đi, không đơn giản vì lý do đạo đức, mà vì người ta không thể đi sâu vào tọa thiền bằng cuộc sống phóng đãng, thiếu suy nghĩ, như là người ta không thể ngủ và thức cùng một lúc.
Không phải tất cả hành vi xấu bị nhân loại lên án nảy sinh từ cảm giác ta và người sao. Từ sự khẳng định mạnh mẽ của cái tôi bản ngã hay sao? Đến mức độ người ta có thể tiêu diệt ảo tưởng nhị nguyên này và sự tự kỷ trung tâm mà nó hiển nhiên nuôi dưỡng, và mang vào nội kiến một tiêu điểm duy nhất, vì thế không có tôi cũng không có người khác, cảm giác tương phản và đối nghịch của u uất và giận dữ dần dần biến mất.
Hành động đúng trong một hoàn cảnh cụ thể, khi ấy, dầu phá thai, chết theo ý muốn hay những vấn đề nan giải đạo đức phức tạp khác, có thể xuất hiện chỉ khi sự tự siêu việt xảy ra. Hơn nữa, khi một người đã ngộ tánh bất khả phân ly của các pháp và triệt để hợp nhất nhận thức này vào cuộc sống bình thường, thời ý niệm hành động đúng biến mất. Một thiền sư thuở xưa nói như sau
Chết trong khi sống
và chết hoàn toàn
Rồi làm bất cứ thứ gì ngươi muốn
Bởi tất cả đều tốt
Giới cấm trong sự tinh tế và độ sâu tương đối tuyệt đối có thể đượ chiểu ở nhiều mức độ. Khi anh đảm đương công việc huấn luyện Thiền, một lực cản tự nhiên và sự trong sáng xuất hiện khi anh đạt được sự kiểm soát lớn hơn về tâm và tình cảm, nhận định của anh về giới cấm sẽ sâu hơn. Vì vậy, không cần thiết phải căng theo nó, vì dần dần hành vi của anh sẽ phù hợp với chúng. Giới cấm đứng lên trên đạo đức, nhưng không chà đạp chúng.
giới luật không phải được áp đặt từ bên ngoài vào, chính sức mạnh cải hoán của thiền mang đến sự trong sáng của tâm. Sự tuân phục bên ngoài đến từng chi tiết của giới luật kém ý nghĩ hơn từ bi lớn lên từ tọa thiền. Tuy vậy, cố gắng mới đầu tuân theo giới luật là điều cần thiết, vì tọa thiền có thể bị chao đảo khi đối diện với những thói quen lâu đời và những cám dỗ thường nhật.
Trả lời thưa của anh rồi, bây giờ tôi thúc anh nên bắt đầu tọa thiền, vì với tôi, rõ ràng là phía sau những câu hỏi về giới luật xuất hiện một nhu cầu về tự ngộ. Một khi anh ngộ rồi, những lời của tôi sẽ giống như đồ rác rưởi.
Thân,
Thiền là một cách trốn chạy - thì anh làm gì để giúp xã hội
Kể từ lần cuối gặp thầy đến nay đã lâu, vì bận rộn công việc nên tôi khó đến Rochester để tiếp xúc với thầy, vì thế tốt nhất là tôi viết thư cho thầy. E rằng thầy không còn nhớ tôi, tôi từng là hội viên của trung tâm trong khoảng một năm và thường xuyên ngồi với nhóm ở Denver.
Mới đây tôi gặp một hoàn cảnh rất khó khăn mà đến giờ tôi vẫn chưa giải quyết được, nó đang đi đến một giai đoạn quyết định. Điều này liên quan đến cha mẹ tôi và tôi, đơn giản là tôi không biết giải quyết nó như thế nào. Tôi rất gần gũi với cha mẹ tôi, họ là những người thông minh và có học. Chúng tôi thường tự do trao đổi với nhau và tôi rất kính trọng họ. Vì vậy thầy có thể hiểu tôi bị kinh động như thế nào khi cuối cùng tôi nhận ra rằng không chỉ họ không đồng ý cho tôi tọa thiền mà còn công khai chống lại việc tọa thiền. Lão sư, tôi thật sự không biết làm gì. Thầy có thể cho là tôi non nớt và thậm chí ngốc ngếch vì quá quan tâm đến những gì cha mẹ tôi nghĩ. Dẫu sao, tôi cũng đủ lớn để tự quyết định và theo đuổi đến cùng. Nhưng tôi nghĩ rằng điều thật sự đang xảy ra là cha mẹ tôi thù địch với tôn giáo phương đông, như họ gọi, đã ảnh hưởng lên đức tin về phật pháp của tôi.
Tôi nhiều lần đã thử giải thích cho cha mẹ tôi tại sao tôi tọa thiền là vì sự giác ngộ của tôi, khi có được, sẽ giúp không chỉ chính mình mà còn vì người khác nữa - nhưng họ không thể hiểu hay chấp nhận nó.
Cha mẹ tôi nói, con không là gì để giúp xã hội cả. Con đang dùng thiền như một cách chạy trốn không hơn không kém. Nếu con thực sự muốn thay đổi chính mình, tốt nhất con đến bác sĩ thần kinh. Những kết án này làm tôi đau khổ và bối rối. Thật sự, tôi không phán đoán tốt lắm nhưng tôi cảm thấy chắc chắn có sự thay đổi tốt trong tôi: tôi cảm thấy rõ ràng, yên bình nhiều hươn tôi trước đây và rất độ lượng với người khác. Lão sư, tôi kính trọng và yêu thương cha mẹ tôi, như tôi nói, dĩ nhiên họ rất hiểu rất hiểu rõ tôi. Nếu nó hoàn toàn vô giá trị đối với họ, liệu họ có thể nói những điều như vậy không?
Khi tôi bắt đầu tọa thiền, tôi thật sự cảm thấy rằng ngồi và dĩ nhiên ngộ, là tốt nhất nếu không là cách duy nhất để giúp người khác. Nhưng bây giờ tôi phải thừa nhận rằng đôi khi tôi cảm thấy có tội vì tôi không còn tham gia cải cách chính trị và những chính nghĩa khác mà trước đây đã từng thu hút tôi. Có đúng là đạo nguyên đã nói, khi một thiền giả vào đại định, y trở thành một với tất cả vạn vật trong vũ trụ và hướng dẫn chúng sinh đến giác ngộ không? Ước gì tôi cso thể tin mạnh mẽ vào chân lý này xiết bao!
Viết rồi đọc lại lá thư này, rõ ràng là đức tin của tôi yếu ớt biết bao vì đã tọa thiền mà còn hỏi những câu như thế này. Tôi rất tiếc, lão sư, đã phiền thầy nhưng nếu có thể, mong thầy giúp tôi làm rõ những bối rối này, tôi sẽ thành thật biết ơn vô cùng.
Cuối lạy thầy.
Lynn.
Lynn thân mến.
Trạng thái bủa vây việc bảo vệ Thiền của cô theo như cách mô tả trong thư gợi tôi nhớ đến một giai thoạt về bồ đề sư tổ. Khi ông đang tọa thiền trong một hang động, thì ba đứa bé tình cờ phát hiện một lối đi dẫn đến hang và liếc nhìn vào bên trong. Chúng thấy ở có một bóng đen dễ sợ nên chạy ra ngoài hô hoán. Rồi sự tò mò kéo chúng trở lại, tuy nhiên, từ khoảng cách an toàn, chúng quan sát cái hình thù bất động và suy diễn theo bản tính của chúng. Giống như một người, đứa thứ nhất thì thào. Nhưng không thể như thế, đứa thứ hai đáp khong ai có thể ngồi yên lâu như vậy được. Chắc là con gấu. Không, đứa thứ ba chen vào, nó không có lông. Chúng quan sát hình thù kỳ lạ một lần nữa. Can đảm hơn vì sự bất động của nó, cả ba bắt đầu ném những viên đá nhỏ vào nó, nhưng nó không động đậy cũng không lên tiếng. Đứa gan dạ nhất trong bọn tiến gần hơn, chạy nhanh lên trước chạm vào hình nhân và quay nhanh trở lại. Vẫn không có phản ứng. Bối rối, chúng rút lui ra để chia xẻ kết luận. Hoàn toàn không phải đá thằng bé đã chạm vào nó nói. Nó mềm không lông, vì vậy, chắc chắn là một người đang ngồi. Hoàn toàn không phải đá, thằng bé đã chạm vào nó onis. Nó mềm không lông, vì vậy, chắc chắn là một người đang ngồi. Nhưng tại sao có người lại ngủ theo cách này? Thật không tự nhiên, đứa khác xen vào. Tại sao nó không nhúc nhích khi tạo chạm vào? Chúng cùng nghĩ, bí mật càng làm tăng sự bối rối và lo âu của chúng. Bỗng nhiên một đứa nhặt hòn đá to với vẻ thách thức ném vào hình nhân bất động, đập ngay giữa đầu. Bấy giờ, cuối cùng hình thù bắt đầu nhúc nhích chậm chạp trước hết là đầu, rồi tay, chân, thân thể. Rồi rống lên. Bọn nhỏ kinh hoàng chạy trốn, Bồ đề đạt ma tiếp tục rống với tiếng cười rồi tuôn trào nước mắt. Hòn đá đã thúc sự ngộ của ông, sự giác ngộ vĩ đại của ông.
Nhân tánh thay đổi một ít từ thời bồ đề đạt ma. Một người ngồi thiền yên lặng trong phòng của mình hay ở thiền viện vẫn phải đương đầu với nghi ngờ và ngay cả sự trầm uất. Hoàn cảnh của cô tiêu biểu cho một trong những điều tệ hại nhất, thường từ phát
Những nhà hoạt động chính trị cho rằng họ biết nó có ý nghĩa khi vào thập niên sáu mươi, họ giao chiến với luật lệ và những hình thức bên ngoài khác của xã hội, tuy nhiên ngày nay họ tuyên bố là không gây ảnh hưởng lên chính mình thì không có thay đổi nào có ý nghĩa xảy ra. Người làm tốt chắc chắn cảm thấy họ đang giúp đỡ xã hội khi họ độc đoán tự đẩy mình vào công việc của người khác, ép buộc người ta bằng chính công thức của họ về hạnh phúc. Rõ ràng, cụm từ giúp ích xã hội mơ hồ, không gì hơn là một khẩu hiệu rỗng tuếch, ít nhất khi được diễn dịch về bất cứ hoạt động đặc biệt hay phương châm công việc.
Nếu có sự giúp ích thật sự nào, nó phải thực hiện từ bên trong, cải thiện chất liệu bên trong con người và mỗi phương diện người đó liên hệ với cuộc sống. Theo nghĩa này, chắc chắn cô sẽ giúp ích người khác nếu cô luyện thiền nghiêm túc. Đến mức độ cô làm sạch cái tâm tham sân, tự tìm kiếm và phát triển trái tim từ bi lặng lẽ, cô sẽ trở nên một người con gái, người chị, người láng giềng, và người nhân công tốt hơn. Tiếp tục ngồi một cách chí thành, cô sẽ dần dần làm tan biến những niệm tưởng kiêu căng, định kiến bướng bỉnh và những khái niệm sai về chính mình và thế giới. Vì sao những lợi ích này không được cảm nhận bởi những người xung quanh cô và bởi xã hội nói chung
Thay vì chạy trốn cuộc đời, mục đích phía trước cô và những ai thực hành thiền nghiêm túc là trở thành hoàn toàn là một với nó. Một đại sư Trung hoa nói với đệ tử của mình, đừng để cho những sự cố trong cuộc sống thường ngày trói buộc ngươi, nhưng chớ tự mình lìa khỏi nó. Một thiền sư khác nói: Con người bám vào cái trống rỗng và làm ngơ thế giới vật chất cũng giống như vừa thoát khỏi nạn chết đuối lại lao vào lửa. Cho nên phải hiểu rằng thiền không phải là chạy trốn những vấn đề của thế gian mà là một sự giải phóng đem lại cho ta tuệ giác và sức mạnh để theo đuổi bất cứ điều gì ta được đòi hỏi phải làm. Trong Thiền, chúng ta không thèm muốn sự yên bình của cái chết mà làm việc để phát triển sự im lặng nội tâm và sự trong sáng của tâm qua việc tham gia tích cực các vấn đề trong cuộc sống. Sự yên bình thật sự của tâm là chiến thắng không phải bởi tránh né những xung đột mà là đương đầu và vượt qua chúng với lưỡi kiếm đấu tranh.
Giống như những gì đang làm phiền lòng cha mẹ cô là khái niệm bắt rễ sâu trong cách suy nghĩ của người phương tây chúng ta, muốn trở nên có ích người đó phải tích cực. Trong nghệ thuật yêu đương, Erich rom xem xét từ tích cực được dùng thông dụng trong xã hội ta. Ông nhấn mạnh đến điều mà người ta làm ít quan trọng hơn cái động cơ nằm phía sau hoạt động đó. Người bị gắn vào công việc liên tục bởi sư bất ổn, cô đơn, hay tham lam, chẳng hạn, là nô lệ với những tình cảm như vậy, một đối tượng thụ động bị tác động lên. Trái lại, người ngồi thiền định tập trung là tham gia vào hoạt động cao nhất, đó là, hoạt động của tâm hồn, chỉ có thể dưới điều kiện tự do và độc lập nội tâm...
Nhìn theo cách này, thậm chí cha mẹ cô có thể đồng ý là nếu chúng ta duy trì sự cân bằng tinh thần để đương đầu với những căng thẳng và xung đột đang gia tăng trong cuộc sống hiện tại, chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc dấn thân vào hoạt động cao nhất này của tâm hồn này. Và không chỉ vì bản thân chúng ta. Phật giáo dạy rằng tâm của một người là tâm của tất cả mọi người. Xã hội dù sao là sự sáng tạo của chính chúng ta, không gì khác hơn là sự biểu lộ tâm tập thể của tất cả những cá nhân tạo ra nó. Vì những lỗi bên ngoài của xã hội thật sự nằm bên trong tâm chúng ta, nó đưa tới, như cô cảm nhận đúng, là chúng ta mỗi người phải gánh vác trách nhiệm về thân phận con người. Làm thế nào một người cảm nhận có trách nhiệm với đồng bào của mình lại làm ngơ việc tịnh hóa chính bản thân mình? Làm sao y có thể đủ nghị lực để làm ngơ trước những ô uế phát ta từ thân, khẩu, ý của chính mình.
vì vậy, ảnh hưởng sự giác ngộ của một người tác động lên thế giới tâm linh của tập thể là vô cùng tận. Ở phương diện vô vi, nó tỏa ra dòng ánh sáng thanh tịnh soi vào bóng đen vô minh của tâm người khác. Ở phương diện hữu vi, sức mạnh của tâm ngộ thanh tịnh đầy giới đức ảnh hưởng và biến đổi tâm người khác đến vô cùng. Như ánh sáng dù chỉ là vài ngọn nến trong một hang động to lớn và đen như mực làm giảm đi bóng tối ở chừng mực nào đó, hàng trăm trong hàng vạn người tọa thiền
Một khi chân tánh của anh bắt đầu dấy lên thúc dục đến với ý thức, không có sự quay trở lại. Không nghi ngờ gì về chuyện anh biết Freud và những nhà tâm lý nói tới cái hại lớn gây đối với tinh thần khi khao khát xác thịt tìm ra lối thoát. Nhưng tồi hơn nữa là sự thất bại của nhu cầu nguyên thủy về hiểu biết ta là ai, là gì và ý nghĩa của sinh tử. Những câu hỏi này là chướng ngại anh tự mình phải xuyên thủng; về mặt kia của nó là hiện thực mà anh cảm nhận. Nhưng nó không tách biệt. Hiện thực này làm thế nào có nhiều hơn một hiện thực. Khi chất sình của những tư niệm mê hoặc lắng xuống, anh sẽ nhìn thấy làn nước trong sạch mà thực tế cũng nước đó được tẩy đi chất dơ bẩn.
Anh đang lơ lững ở tuổi bốn mươi, phải không David? Nó đặt anh ở ngã ba đường, nơi mà anh phải tự hỏi, Liệu ta sẽ đi theo con đường có ít kháng cực, một bên thỏa mái, một bên đau khổ không thỏa mãn hay ta sẽ đi theo một nẻo đường mới dẫn đến sự tự do thật sự. Nó có thể là cơ hội cuối cùng để hoàn thành ước vọng và làm chủ sự sợ hãi, vì anh có thể nhận thấy kèm theo những nỗi lo âu thông thường của tuổi trung niên sự tự ghét bỏ vì đã không đảm nhận điều đè nén quá mạnh trong tim. Thật đáng buồn, đây là cảnh ngộ của hàng ngàn người mà trước đây tràn trề nhựa sống và hi vọng, nay nhận ra những năm tháng sau này năng lượng của họ đã đổ vào hàng loạt hoạt động hay bị cạn đi bởi sự xói mòn của sợ hãi về sống chết, đối mặt với nó họ cảm thấy bất lực. Jung viết là ông ta chưa bao giờ có bệnh nhân trên bốn mươi vì vấn đề nền tảng của họ không phải là sợ chết. Chính ngộ đánh thức chân tánh của bạn nó sẽ giải quyết nỗi sợ này, cho phép anh sống nhiệt tình và chết đàng hoàng
Việc xem xét trường hợp một tù nhân đang chấp hành bản ánh chung thân lại được phóng thích sớm. Nếu anh ta đã ở tù nhiều năm và đã tạo nên một chỗ trú thỏa mái trong cộng đồng tù nhân, có lẽ anh ta trở nên sợ phải đối mặt với trách nhiệm của cuộc sống bên ngoài. Nếu trong con người như vậy, sức sống đã bị bóp nghẹt, anh ta sẽ từ chối được phóng thích sớm hay không làm gì cả để được điều này. Tuy nhiên, nếu anh ta chỉ ở tù vài năm và bản năng đfược tự do hoạt động lành mạnh, anh ta làm mọi cách trong khả năng của mình để được phóng thích.
Tương tự, sự chuẩn bị tham gia chương trình huấn luyện sắp đến của anh cho thấy sinh khí tinh thần của anh mạnh mẽ. Nếu anh hoãn lại quyết định của mình, sự tra vấn tích cực về ngộ có thể bị dời lại và cuối cùng sự thúc dục vì tự do sẽ trở nên câm nín trong anh. Câm lặng nhưng không bao giờ bị xóa đi. Dù anh có thể tạm thời che dấu sự thất vọng và bồn chồn của mình bằng những trò giải trí, cũng sẽ không có yên bình thực sự. Thậm chí nhưng giây phút vui thú nhất của anh cũng bị chiếm lĩnh bởi nỗi đau mong ngóng sự tự ngộ.
Vì vây, tôi chúc mừng anh có được quyết định trọng yếu và mong gặp anh ở Rochester.
Sự quan tâm của anh đối với vợ con, việc học hành của chúng và công việc của anh có thể ảnh hưởng đến họ, cho thấy đáng khen ngợ, nó biểu lộ sự vững chắc và hiệu quả của mối liên hệ giữa anh và họ như thế nào. Trong hoàn cảnh của anh, thường người vợ rất lo sợ. Nếu bản thân cô ấy không tọa thiền và tôi biết vợ anh thì không cảm giác phát sinh trong cô là nếu anh tiếp tục tiến bộ trong Thiền, cuối cùng anh sẽ trở thành tu sĩ và rời bỏ vợ con. Anh phải biết, nỗi sợ bị người chống bỏ rơi rất mạnh trong hầu hết các phụ nữ. Cách duy nhất mà anh có thể làm cho vợ con an tâm là càng tỏ ra yêu thương họ nhiều hơn, vì những đứa con chắc chắn là mối lo âu của mẹ chúng. Không xác định như thế, vì điều này sẽ là giả tạo và chỉ làm lệch mối lo âu của anh. Thay vì chỉ tập trung toàn tâm vào tu tập Thiền nghĩa là nhớ đặt mình hoàn toàn vào mọi khía cạnh của cuộc sống thường nhật anh sẽ tự nhiên trở nên nhiều yêu thouwng hơn. Có thể nói, tình yêu nguyên vẹn của anh sẽ được giải thoát, xuất hiện và tự biểu lộ ngày càng nhiều. Khi anh ở với vợ con, hãy trọn vẹn ở đấy với họ, cũng giống như vậy, khi làm việc đừng để phần hồn ở nhà, khi cạo râu chỉ việc cạo, khi đọc chỉ đọc... Điều này là thực hiện đúng theo tinh thần của thiền trong cuộc sống hàng ngày của anh. Tiếp tục điều này chẳng bao lâu, anh sẽ tự nhận ra nơi anh có sự hiểu biết và kiên nhẫn hơn với con mình, trực nhận khi nào nên căng, khi nào nên mềm dẻo. Anh sẽ đáp lại một cách nhạy bén những nhu cầu của vợ anh cũng như đối với những người chung quanh anh.
Cuối cùng, tôi nhắc anh đừng nghĩ đến từ làm đau lòng hay không làm đau lòng gia đình. Bực bội về điều này chỉ làm cách cư xử của anh đối với họ trở nên bó buộc không tự nhiên. Thay vì vậy, hãy tin rằng theo ý nghĩa tâm linh sâu sắc nhất, bất cứ cái gì giúp anh, mà cũng là giúp cho chính họ. Mới đầu điều này dường như không phải như vậy, nhưng nếu anh có thể làm tất cả để đảm bảo với cô ấy - không chỉ bằng lời mà bằng hành động.
Cám ơn bài viết của anh, nếu anh không phản đối, tôi sẽ độc thư anh trong buổi nói chuyện chính thức sắp tới.
Ngọ có giải quyết tất cả những vấn đề cuộc sống con người không
Điều trước đây là vấn đề nay không còn là vấn đề nữa
Thế về vấn đề đạo đức? Rõ là người ta không nên sát sinh hay trộm cắp hay nói dối. Nhưng đôi khi trong một hoàn cảnh nào đó, cho dù anh suy nghĩ mọi cách, dường như không có câu trả lời đúng.
Liệu ngộ có cho phép nhìn thấu những vấn đề đạo đức này để hành động đúng trở nên rõ ràng không?
Ngay cả những người ngộ sâu vẫn phải đối mặt với những vấn đề đạo đức. Những năm về trước, thầy tôi kể một câu chuyện trong bài giảng về thách thức đạo đức đối đầu với một thiền sư, đã gây cho những người tham dự khóa nhiếp tâm một phản ứng tình cảm mạnh nhất mà tôi từng chứng kiến. Đây là những gì ông kể mà tôi hãy còn nhớ.
Thời xưa có một thiền sư nọ có lòng khao khát xuất gia khi ông ta còn ở lứa tuổi thiếu nhi. nhưng vì thân phụ qua đời sớm, ông phải bảo bọc nuôi nấng người mẹ quá bụa bằng nghề bán củi. Không thể dẹp bỏ đi lòng mong muốn bắt rễ từ lâu được đi theo con đường tôn giáo, khi đã để dành dụm được một ít tiền, ông để lại cho mẹ với dòng chữ. Hãy tha thứ việc con ra đi, nhưng con phải timf một người thầy tâm linh. Kể từ đó người mẹ không còn nghe tin tức gì về ông ta
Nhiều năm trôi qua, người mẹ bấy giờ đã già và lòa một mắt. Bà rất muốn gặp đứa con duy nhất trước khi chết. Một hôm tình cờ gặp một du tăng, người đã từng sống ở một tu viện trên vùng đất xa xôi của đất nước, ông nói với bà là ông có lý do để tin rằng vị trí trụ trì chùa này là con trai của bà.
Phấn chấn bởi thông tin này vì có khả năng gặp lại con mình, bà lên đường tìm ngôi chùa ấy. Sau nhiều năm đi lại khó nhọc, bà tìm thấy cái mà bà tin là cái tu viện được mô tả bởi vị du tăng. Lúc này rất yếu, bà run rẩy tiến đến cổng, và một ông tăng lễ phép hỏi nguyên do bà lặn lội đến đây. Bà kể câu chuyện về người con và trình bày lý do tại sao bà tin là vị trụ trì này là con của bà. bà có thể gặp một chốc hay không ? Bà không muốn sống thêm lâu hơn nữa và sẽ chết bình yên nếu có thể gặp lại con một lần nữa.
vị tăng yêu cầu bà chờ và vào thưa lại với vị trú trì. Một chập sau ông ta quay lại và nói. Tôi rất tiếc. Tôi đã thuật lại mọi thứ mà bà đã kể cho tôi với thầy trú trì nhưng ông nói, Hẳn là bà ấy đã lầm, ta không là con của bà.
Khi những lời này được nói ra, cả thiền đường bật khóc. Nam lẫn nữ, cả lão sư, khóc công khai.
Tôi nghe câu chuyện này bằng tiếng Nhật, tôi không rõ cái gì đã thúc sự bùng nổ tình cảm. Trên đường về nhà, khó nhiếp tâm tổ chức ở miền bắc Nhật Bản tôi ngồi kế lão sư trên tàu hỏa và có cơ hội để hỏi điều đặc biệt của câu chuyện và về việc khóc.
Tại sao mọi người đột nhiên khóc lóc vị trụ trì nói ông ta khôn gphair là con của bà? Ông là con của bà ta phải không.
Đúng ông ta là con, lão sư đáp. hãy nhớ rằng ông ta không gặp lại mẹ trong nhiều năm từ khi xa nhà. Ông ta biết bà nay đã già yếu và khi gặp bà ông sẽ bị tràn ngập bởi lòng mong muốn ôm lấy bà và chăm sóc cho bà. Nhưng ông có trách nhiệm huấn luyện tinh thần cho hơn năm trăm tăng chúng. Nếu mẹ ông sống trong tu viện hay gần đó, ông sẽ muốn ở bên bà và vì vậy có ít thời gian chuyên tâm vào việc huấn luyện thiền cho tăng chúng. Chúng ta có thể hình dung sự đấu tranh gay gắt đầy ray rứt dằn vặt để đưa ra câu trả lời mà cuối cùng vị tăng kia báo lại. Và vì nhiệm vụ của mình, vị trú trì chấp nhận sự đau khổ, thay vào đó tấm lòng của ông được cảm nhận sắc bén bởi mọi người trong thiền đường, họ tất cả bọn họ đã khóc.
Ít ra vị trụ trì có thể gởi lời nhắn cho mẹ rằng ông chính là con bà và vẫn khỏe, nhưng ông khoogn thể gặp bà sao.
Nếu ông ta làm như vậy, không phải sự hờn giận của bà mẹ tệ hơn sao.
Tại sao nhiệm vụ của ông đối với tăng chúng lớn hơn nhiệm vụ đối với mẹ già của mình. Tôi có biết người á đông, đặc biệt là người nhật hết lòng tận tụy vì
Vị trú trì trong trường hợp này phản ánh cái ý nghĩa đặc biệt về nhiệm vụ của ông. Một lão sư ở Nhật, người mà tôi từng theo thọ giáo, có người mẹ già sống cùng trong khuôn viên của tu viện và thường xuyên đi lại thăm nom. Có lẽ vì ở đó có hai mươi tăng chúng thay vì có đến năm trăm, nên ông nhận thấy mối quan hệ với mẹ không can thiệp các mối quan hệ với chư tăng.
Thế còn về người mẹ? Phản ứng của bà đối với lời từ chối của vị trụ trì?
Không mất nhiều tưởng tượng phỏng đoán, phải không? Nhưng đây là hệ quả của câu chuyện.
Sau khi bà mất đi, vị trụ trì có nội kiến nhìn thấy mẹ trong vùng đất tịnh độ. Bà phát ra hào quang và chắp tay nói với ông là bà đã tha thứ cho ông, vì bây giờ bà đã hiểu tại sao ông không gặp bà. Vị trụ trì biết rằng mẹ mình đã ngộ nên khóc vì vui mừng.
Giới cấm thứ nhaatsL: không sát sanh
Tối nay, tôi sẽ nói về giới thứ nhất trong mười giới cấm, hay những điều kiện của một con người đức hạn: không giết mà phải nuôi dưỡng tất cả sự sống. Những giới điều khác là 2) khong trộm cắp không lấy những gì của người khác , không tà dâm, mà luyện cho tâm trong sáng, tự kiềm chế, không nói dối, mà phải nói sự thật, không uống rượu không ép ai uống rượu hay dùng ma túy làm rối hay suy yếu tâm và tự mình cũng không làm thế, phải giữ tâm trong sáng, không nói xấu người khác, không khư khư giữ lấy những trợ giúp tinh thần và vật chất phải giao nó không điều kiện cho người cần nó. không giận dữ phải cố gắng kiềm chế. không thóa mạ tam bảo phật, pháp, tăng mà thương mến, ủng hộ. Tinh thần của tất cả các giới điều này về căn bản là một, nếu quí vị nắm được cốt lõi của một điều, quí vị sẽ nắm được tất cả
Cố ý lấy đi mạng sống của bất cứ vật gì, đặc biệt là mạng sống của con người, sẽ tạo nghiệp khổ đau. Nhân mạng là cái quí nhất, với nhiều lý do khác, nó là cái duy nhất mà từ đó ngộ phát sinh. Thú vật, chẳng hạn, không thể chia xẻ khả năng của con người để đạt được vô sắc và giải thoát chính mình khỏi chuỗi ràng buộc sinh tử. Trong vũ trụ quan phật giáo, theo đó con người không phải là sinh vật phát triển nhất: con người đứng giữ quỹ đói và phật.
Người mổ thịt gia súc cũng như thợ săn hay dân chài đặc biệt những người có động cơ sát sinh chỉ vì trò chơi thể thao chắc chắn gây nghiệp nặng cho mình. Những người nghiên cứu thí nghiệm trên thú vật, thường cuowisp đi mạng sống của chúng, cũng có nguy cơ gánh nghiệp. giết hại thú vật trong những thí nghiệm như vậy được biện minh vì lý do nào đó, chỉ là cách duy nhất để có được thông tin thiết yếu cho sức khỏe và thịnh vượng của con người. Không may là, nhiều thí nghiệm trên thú vật ngày nay được thực hiện không cân nhắc theo cách chọn lựa nhân đạo hơn. Những thái độ vô cảm như vậy có thể phát sinh từ niềm tin rằng súc vật, kém phát triển hơn con người, đau khổ ít hơn. Nhưng có ai từ chối là súc vật cũng chịu đau khổ nghiêm trọng và cố tránh đau khổ như con người. Và chính xác vì trí não của chúng kém phát triển hơn của con người? và chính xác vì trí não của chúng kém phát triển hơn của con người, nên chúng nhiều trực giác hơn súc vật nhạy cảm với những bạo lực và đau đớn sắp xảy ra, phát ra trong chúng nỗi lo sợ làm kéo dài sự đau khổ của chúng. Porphyry, triết gia hy lạp ở thế kỷ thứ tư đã viết rằng ai đã nghe tiếng thét của con vật bị giết sẽ không bao giờ ăn thịt. Nhiều thế kỷ trước khổng tử, cũng có nhận xét như vậy.
Sự kiêu ngạo vô cùng của con người trong việc điều khiển, ngược đãi hay tiêu diệt các sinh vật bởi tính chất thường của mình, không phải chúng có quyền chia sẻ hành tinh này với họ hay sao. Tiến sĩ Schweitzer nói. chúng ta không có quyền làm đau khổ và giết hại sinh vật trừ phi điều đó là cần thiết không thể tránh được. Hơn nữa, vì súc vật câm và không thể tự nói lên được, chúng có thể được xem như phó thác thiêng liêng đối với chúng ta
còn việc giết ruồi muỗi thì sao? Một con người có tánh do dự giết ngay cả con ếch và thường không cảm thấy áy náy về việc diệt các côn trùng. Với hàng tỉ tỉ côn trùng, cái chết của một đôi con có lẽ dường như hoàn toàn không để lại hậu quả gì nghiêm trọng. Tuy nhiên xem xét lại với tất cả những kỹ thuật và óc sáng tạo của con người, họ chưa hề tái tạo được cuộc sống, thậm chí của một con bọ. Một con bọ, như Whitman nói, là phép mầu đủ làm ngạc nhiên hàng tỉ người vô đạo.
Hiểm ác hay thiếu suy nghĩ, hủy diệt côn trùng hay sinh vật nhỏ có thể bị chỉ trích bởi những lý do khác. Sự giết vô lý như vậy nuôi dưỡng sự mất cảm giác đối với những đau khổ của những hình thức sống cao cấp hơn, các nhà xã hội học đã chứng minh rằng mối đe dọa thông thường trong buổi đầu đời của những tội phạm là tàn ác với súc vật và cách giết man rợ của chúng.
Những người ăn thịt đôi khi chế diễu những người ăn chay, nói anh nói anh không ăn thịt vì anh không muốn gây ra sự giết chóc súc vật, nhưng những rau quả anh ăn thì sao. Có khác gì nhau giữa việc lấy đi sự sống của rau quả và giết bò hay gà để lấy thịt
có sự khác nhau trên đời khi những hành động này đè nặng lên cán cân đạo đức con người đó là từ quan điểm tương đối. Theo những giá trị đạo đức này, lấy đi mạng sống của một người thì tồi tệ hơn đối với một con vật, và giết côn trùng không đáng bị chê trách như khi giết cá hay chim. Trên một phạm trù như vậy, sự sống của rau cải ít giá trị hơn côn trùng. Nhưng thực vật, không phát triển hơn súc vật hay côn trùng, cũng có loại nhận thức và bản năng sinh tồn. Điều này được biết đến qua các nhà thực vật học nổi tiếng.
Tất cả mọi dạng sống, trong sự phát triển và trao đổi nghiệp vô thỉ vô chung của chúng, là thực vật, côn trùng, thú vật, quỹ ma, con người, chư thiên. Mỗi cuộc sống chịu ảnh hưởng của luật nhân quả, nơi mỗi người chiếm ngụ trong chuỗi tiến hóa là sản phẩm của nghiệp duy nhất của mình. Làm thế nào chúng ta có thể từ chối một biểu đạt của phật tánh, nhân tố chung của chúng ta, mà lại thiên về cái khác trong khi tất cả
Lời kết
Điều gì đã làm một người ở tuổi trung niên từ bỏ công việc ổn định với lợi tức sung túc, gia đình và bạn bè đến với sự gò bó nghiêm khắc của thiền viện và một cuộc sống không ổn định của một kẻ vô gia đình. Có phải do hoàn cảnh đau thương bên ngoài thúc bách bên trong hay không người ta đã hỏi tôi hàng chục lần những câu hỏi này khi tôi ở nhật và cũng như khi đã về mỹ. Trong trường hợp tôi, dường như đôi lúc có một cái gì đó thúc đẩy tôi từ bỏ những tiện nghi và giá trị của tầng lớp trung lưu của mình để trải qua huấn luyện thiền với mong muốn tìm cách gỡ bỏ những căng thẳng đau khổ và sự bồn chồn kiệt sức.Vào những lúc khác, tôi cảm thấy một nhu cầu cần tìm để hiểu sự đau khổ lạ lùng mà tôi từng chứng kiến ở Đức, Nhật và Trung hoa, ngay sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Cuối cùng tôi hiểu ra rằng những câu hỏi được đề cập trước đây chỉ nằm trong một từ nghiệp, một từ bao hàm toàn bộ chuỗi sự kiện tương tục của nhân quả, đó là cuộc đời của một người. và chính cái nghiệp, nhiều năm sau, cũng mang tôi, ở tuổi năm hai đến thành phố Rochester, New York, một nơi mà trước đây tôi chưa từng đặt chân đến, trở thành người đứng dadaauf một trung tâm thiền. Trước khi có cuộc tiếp xúc với châu á và thiền, trong những chuyến bay xa nhất của trí tưởng tượng, tôi cũng không hình dung mình sẽ sống cuộc sống tu viện hay trở thành một nhà sư phật giáo.
Khi tôi nhìn lại với sự nhận định lớn hơn về luật nhân quả, rõ ràng những sự kiện và hoàn cảnh nhất định nào đó đã trực tiếp hình thành kiểu nghiệp thúc tôi đến với Thiền, khi còn nhỏ, tôi cứng đầu từ chối theo mẹ đi vào nơi gọi là nhà của chúa, tham dự lớp giáo lý ngày chúa nhật, hay nhận hướng dẫn tôn giáo một cách chính thức. Khi bà ép, tôi hỏi nếu chúa chỉ ở trong nhà thờ hay tu viện, tai sao người còn tạo ra những phần còn lại của thế giới. nói chung nội dung và tinh thần của kinh thánh có vẻ xa cách và kỳ lạ, chỉ có một vài phần kích thích sự chú ý của tôi chẳng hạn như thánh ca. Tôi đọc và nghiên cứu những sách báo phương tây khác để rồi cuối cùng đúc kết thành một câu hỏi bốc cháy ám ảnh tôi suốt nhiều năm. Tại sao người do thái chối chúa, trong khi chúa nói rằng người thỏa mãn do thái giáo và tại sao thiên chúa giáo tuyên boosyeeu thương chúa, lại thù ghét người do thái dân tộc của người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét