Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

Hạnh phúc mộng và thực

 Nếu tới làng mai cách đây mười hai năm, quí vị sẽ thấy quan cảnh của làng không giống bây giờ. Thí dụ pháp đường chuyển hóa là một chuồng bò, phân bò chất lên rất cao, phía trên toàn là rơm và sàn gỗ mục hết. Mỗi khi có việc cần vào, ta thường bị những con mạt cắn khắp mình, khi ra phải đi tắm mới hết ngứa. Cỏ dại mọc khắp nơi, phật đường trúc lâm tức là căn phòng đẹp nhất của xóm thượng cũng là một chuồng bò chứa phân cao tới gần một thước tây. Chúng ta đã để ra rất nhiều tuần lễ mới chở hết phân ra, rồi phải dùng một máy xịt nước rất mạnh để rửa từng viên đá. Quang cảnh của làng mai cách đây mười hai năm rất khác với bây giờ. trong suốt 12 năm đó, chúng ta đã cày bừa, dọn dẹp, sắp đặt và quang cảnh của làng mai ngày nay tuy chưa được như mình mong ước nhưng cũng đã khá hơn trước rất nhiều. 

Khi mới đến một vùng đất hoang để khai khẩn, mảnh đất đó có thể làm cho ta nản lòng vì cỏ gai và chướng ngại vật đầy dẫy. Ta cần phải đào, phải bứng, phải chặt, phải cày, phải bừa. Người làm việc có phương pháp. lúc mới đến họ thường chụp hình khung cảnh đất hoang, rồi mới bắt đầu khai khẩn, xây cất. Sau một hai năm xây dựng họ đem hình ra xem để thấy sự khác biệt giữa hai quang cảnh mới và cũ. 

Tu học là điều phục tâm

Sự tu học của chúng ta cũng như vậy. Trước khi tu thì tâm của ta rất là hoang vu và gai góc. Ta tạo ra rất nhiều đau khổ cho chính ta và cả cho những người chung quanh. 

Này các vị khất sĩ, không có một sự vật nào khi không được điều phục mà có thể đem lại nhiều đau khổ như tâm của chúng ta. 

Này các vị khất sĩ, không có vật nào khi đã được điều phục và chế ngự mà lại có thể đem lại nhiều hạnh phúc như tâm của chúng ta. 

vì vậy tu học có nghĩa là điều phục tâm, làm việc với tâm. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ. Tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những bất lợi lớn. 

Bất lợi lớn ở đây có nghĩa là những đau khổ cho chính bản thân và những người xung quanh. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể dưa đến lợi ích lớn như là tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ. Tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những lợi ích lớn. 

Lợi ích lớn ở đây là hạnh phúc cho chính mình và cho những người chung quanh. Khi tu, ta tu với các tâm của ta, nghĩa là ta điều phục bảo vệ và hộ trì cái tâm của ta. 

Tâm cũng như đất, chứa đầy hạt giống. 

Trong văn học phật giáo, tâm có khi được ví với đất. Tại bất cứ nơi nào ở xóm thượng, ngoài hạt giống rau dền, đất xóm thượng còn chứa rất nhiều loại hạt giống khác. 

Ta thường chứa hạt giống trong bồ hoặc trong nhà để chờ ngày gieo và do đó nghĩ hạt giống là một cái gì có ở ngoài đất. Kỳ thực, hạt giống luôn luôn nằm trong đất. Nếu ta có hạt giống chứa trong bồ thì hạt giống cũng từ lòng đất mà ra, chứ không phải từ trên không rơi xuống rồi đem cất vào bồ. Cái ý niệm đất là tâm là một ý niệm vô cùng tuyệt diệu, vì vậy cho nên ta có chữ tâm địa. Trong đất tâm, ta có đủ mọi hạt giống: hạt giống của  gai góc,  của tham giận, của si mê, của kiêu căng, của ganh tị... Nhưng trong tâm ta cũng có các hạt giống hạnh phúc, của giác ngộ, của giải thoát, của sự tha thứ, của sự thương yêu... Tu học có nghĩa là phân biệt cho được những hạt giống đó để chuyển hóa những hạt giống xấu và tưới tẩm những hạt giống tốt. 

Trước khi tu tập, đất tâm của ta rất cứng và với đất đó ta không làm gì được cả. Vì vậy, việc đầu tiên là phải cày đất. Lưỡi cày đất tâm là chánh niệm. 

Ở làng mai, đứng trên đồi nhìn xuống, ta thấy những ruộng nho, những đồi mận rất đẹp. Ta nên biết rằng những vùng đất đó đã dược cày bừa rất kỹ lưỡng. Tại Xóm Hạ, đất ở các vườn trồng rau trong nhà mặt trời đã được chuẩn bị thật kỹ cho nên ta mới có các loại rau mọc lên rất mạnh và tốt tươi. Sư cô bảo nghiêm và sư cô chân vị là hai người đã để ra tất nhiều thì giờ và công phu để chăm sóc những vườn rau ở xóm hạ. Các sư cô biết rất rõ nếu không xới, không nhổ cỏ, không làm cho đất mềm, đất nhuyễn thì không thể nào trồng rau được. Tâm của ta cũng vậy, nếu tâm của ta không được điều phục không được uốn nắn, không được bảo hộ  thì tâm của ta sẽ gây ra đau khổ và không thể nào tạo được hạnh phúc cho mình và cho người. 

Ba tâm sở mới trong đạo bụt nam tông

Trước hết là tâm sở nhu nhuyễn,  nhu nhuyễn là mềm. Tâm nhu nhuyễn dễ làm việc lắm, còn nếu tâm cứng ngắc thì rất khó làm việc. Đất cứng mà không cày thì không trồng trọt gì được. Hãy lấy một cành cây khô mà ta lượm ở pháp thân tạng làm ví dụ. Khi ta uốn cành cây khô này thì nó gãy. Trong khi đó với một cành tre nen hay một dây mây, ta có thể uốn nắm một cách rất dễ dàng. Sự khác nhau giữ cành cây khô này thì nó gãy. Sự khác nhau giữa cành cây khô và sợi dây mây là ở chỗ một bên có sự nhu nhuyễn, một bên không có sự nhu nhuyễn. Tâm của ta cũng vậy, có khi nó cứng ngắc, cố chấp đủ thứ, dù có người muốn giúp, cố nói cho ta nghe một điều gì đó nhưng tâm ta nó vẫn trơ trơ vẫn không lay. Tâm đó gọi là tâm không nhu nhuyễn. 

Một tâm sở khác là tâm thích ứng. Ngày xưa dịch là tâm thích nghiệp, vì trong đó có chữ karma, nhưng dịch là tâm thích ứng thì dễ hiểu hơn. Tâm thích ứng là tâm uyển chuyển, tâm có thể chấp nhận được những hoàn cảnh mà ta không chờ đợi trước. Ví dụ ta có một ý niệm về làng mai, nghĩ rằng làng mai là thế này hoặc thế kia, nhưng khi về tới làng thì thấy làng mai không giống như những điều mà ta đã vẽ ra, đã suy nghĩ đến, vì không bỏ được cái ý niệm trước của ta về làng mai nên ta không thích ứng được. Kết quả là ta cảm thấy thời gian ở làng mai không hạnh phúc vì những điều ta mong đợi đã không xảy ra. Tâm đó gọi là tâm không thích ứng. Trong khi đó, tâm thích ứng là tâm dễ hội nhập với hoàn cảnh trong hiện tại. 

Tâm hữu năng dihcj là tâm tinh luyện hay tâm xảo diệu. Tâm xảo diệu là tâm có khả năng làm được những việc mà nhưng xtaam khác không thể làm được. Người có tâm đó thì rất khéo léo,,khéo léo như hai bàn tay của một cô y tá khi chích thuốc hay băng bó. Phải luyện tập lắm mới có được hai bàn tay của cô y tá. Ai muốn biết bàn tay cô y tá ntn thì hỏi sư chị. Tâm của mình cũng vậy, khi tâm của mình xảo diệu thì mình có thể đối cơ, đối cảnh và độ đời được một cách dễ dàng. Mình có thể sống với các sư em, sư anh, sư chị một cách rất hạnh phúc, còn nếu không có tâm xảo diệu, nếu cứng ngắc và không biết thích ứng thì mình chỉ chịu chết thôi. 

Tất cả những tâm sở và tâm hành này đều có hạt giống ở trong tàng thức. Nếu thực tập chuyện cày ruộng, thực tạp chuyện tu học hàng ngày thì hạt giống của tâm nhu nhuyễn, của tâm thcish ứn và của tâm xảo diệu sẽ tưới ẩm và ta sẽ trở thành một người sống có hạnh phúc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vì vậy mỗi khi giận, buồn, hoặc thất vọng ê chề, ta thối thất muốn bỏ đi, muốn trốn tránh xã hội loài người thì ta phải biết rằng cái tâm của ta ddagng còn là một miếng đất hoang chưa được cày bừa, chưa được tu tập. Bụt dạy rằng tâm không tu tập sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Vì vậy đối với người tu hành, công việc hàng ngày là cày cấy mảnh đất tâm của mình. Khi ngồi thiền mình cày ruộng tâm của mình. Khi đi thiền hành mình cũng cày ruộng tâm của mình. Khi nghe chuông, khi thở, khi ăn cơm đều là những lúc mình cày ruộng tâm của mình cả. Cũng vậy, khi lượm mận, làm mứt, nấu cơm, đều là những lúc ta cày miếng đất của ta. Đừng nghĩ rằng tu hành chỉ xảy ra trong khi ngồi thiền hay nghe thuyết pháp mà thôi. Cái tâm của mình phải luôn được tu tập. Theo danh từ hán việt, tu là làm cho đẹp, làm cho tốt, làm cho nó có thể sử dụng được như trong danh từ tu bổ. 

Hiện pháp lạc trú là sống hạnh phúc trong khi tu tập

Tại sao lại bỏ cái lạc thú heienj tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời như thế

Chúng ta thấy trong câu này có hai chữ hiện tại và phi thời, chữ hiện tại cũng như chữ phi thời mà vị thiên giả dùng là theo nghĩa ngoài đời, nó có nghĩa rất khác vưới chữ hiện tại và phi thời trong văn học đạo bụt. Phi thời ở đây có nghĩa là không đúng lúc, nó nằm trong tương lai chứ không có mặt ở hiện tại, nhưng đọc tiếp kinh này ta sẽ thấy rõ hai danh từ phi thời và hiện tại được dùng với ý nghĩa trong tinh thần đạo bụt. 

Ban đầu thầy Samiddhi cũng sử dụng hai danh từ đó theo cái nghĩa của vị thiên giả, và thầy trả lời: Tôi đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời. Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đấy chứ. Nói như vậy tức là thầy dựa vào giáo lý hiện pháp lạc trú mà đức thế tôn đã dạy cho thầy. Hiện pháp lạc trú là sống trong hiện tại với tất cả những niềm vui và sự an lạc của mình trong khi tu tập, chứ không phải tu để mong ước niềm vui trong tương lai, khôn gphair khổ để tu hành, khổ ấy vui. Điều này là rất quan trọng. Ví  như khi thiền hành mà quí vị nghĩ rằng đi thiền hành khổ cực bây giờ để mười năm sau sẽ có hạnh phúc, thì tất cả công phu đi thiền hành của quí vị đổ xuống biển hết. Đi thiền hành như vậy thì quí vị có đi mười năm cũng không ích lợi gì, tịa vì quí vị cho rằng đi tiền hành là một lao tác, một cực hình để đi tới một kết quả hạnh phúc an lạc trong tương lai. Vì vậy phương châm của sự thực tập là phải có hạnh phúc ngay trong khi thực tập. Đi thiền hành ta phải có an lạc ngay từ trong mỗi bước chân. Đây là nguyên tắc dẫn đạo cho sự tu học. Nếu tron gkhi đi thiền hành mà chúng ta không có an lạc thì đừng mong gì ta sẽ có an lạc trong tương lai. phải đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân nuôi dưỡng được mình và đem lại được niềm vui và sự an lạc cho mình ngay trong lúc đi. Từng bước chân thảnh thơi, có nghĩa như vậy.  Thức dậy hôm nay, tôi biết rằng tôi có hai mươi bốn giờ tinh khôi và tôi không muốn đi qua hai mươi bốn giờ đó như là đi trong mộng, tôi muốn đi trên miếng của thật tại, vì vậy tôi phải thắp lên ngọn đèn của chánh niệ, của tỉnh thức. Mỗi bước chân của tôi đều dẫm lên đất thật chứ không muốn dẫm lên trên thế giới của mộng mơ 

Ở đời có một chứng bệnh gọi là bệnh mộng du, mình đang ngủ mà mình đang đi. có những người ban đêm tự nhiên chổi dậy và đi. Họ đi trong giấc mơ mà họ không biết. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có những người đó mới đang mộng du thôi. kỳ thực trong đời sống hằng ng ày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du thôi. Kỳ thực  trong đời sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du. chúng ta đi trên đất, bước trên đất mà giống như chúng ta bước trên mặt trăng. Có một thiền sư một hôm đi chơi trong vườn chùa với một số khách tới viếng thăm mà trong đó có thể có những vị xuất gia, đã dừng lại, chỉ vào một bụi cây có những cành lá rất xanh rồi mỉm cười nói. Người đời bây giờ nhìn những lá này, họ chỉ thấy được những cái lá này ở trong mộng. Tôi đang cùng đi với quí vị, nhưng có thể quí vị đang đi trong một giấc mơ. Chúng ta thấy có những người học phật, nhưng trong khi học hoặc bay bổng trên hư không. Sự học phật của họ, cái giáo lý mà họ học không dính líu gì đến đời sống hằng ngày của họ hết. Thành ra không hẳn là họ đang học đạo giải thoát, học đạo tỉnh thức. Họ đánh mất họ trong thế giới của suy luận, trong cái thế giới của siêu hình. Ăn một miếng cơm mà họ ăn trong giấc mơ, họ không thực sự ăn cơm tại vì cái tâm của họ hiện không có mặt. Họ bước một bước mà họ không thực sự bước trong gời phút hiện tại, tại vì họ không có chánh niệm. Khi dẫm chân trên thực tại ta tiếp xúc đượ cvowis chân như, tiếp xúc được với bản môn, tiếp xúc dược với niết bàn và kết quả là ta được nuôi dưỡng bằng cái chân như, bằng bản môn, bằng niết bàn, chứ ta không bị nuôi dưỡng bằng những cái hình bóng giả tạo trong mộng. 

Bảy đặc tính của chánh pháp. 

Hôm thứ năm vừa qua chúng ta đã nói về danh từ akalika và có nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa vua ba tư nặc và bụt thích ca hồi ngài còn ba mươi tám tuổi, bụt đã nói đại vương, vấn đề giác ngộ không phải là vấn đề thời gian. Đó là ý nghĩa vượt thoát thời gian, không phải già thì mưới giác ngộ mà trẻ thì không giác ngộ được. Tu học không phải là công chuyện chỉ nên làm khi chúng ta lớn tuổi. Trong minh tâm bảo giám, một cuốn sách mà tất cả các học sinh VN và Trung hoa thời xưa học thuộc lòng có câu. 

Mạc đãi lão lai phương học đạo

Cô phần đa thị thiếu nhiên nhân

Nghĩa là đừng đợi tuổi già rồi mới học đạo, những nấm mộ cô độc ở ngoài nghĩa địa phần lớn là những nấm mồ của người trẻ. 

Trong truyền thống bà la môn giáo ngày xưa, khi còn trẻ ta phải hưởng những thú vui dục lạc, phải cưới vợ, phải lấy chồng, phải sinh con. Đến khi con lớn rồi mới có quyền đi tu. Vua tịnh phạn đã hươn một lần trích dẫn quan niệm đó với thái tử tất đạt đa. Tuổi trẻ với tất cả năng lượng của nó mới có đủ sức để chọc thủng bức màn vô minh và đem lại ánh sáng giải thoát, nếu đợi đến khi già rồi thì làm sao còn có đủ sức để làm chuyện vĩ đại kia được. 

Tự mình có thể giác chi. 

Tự mình thông đạt. 

Quê hương đích thực và thiền đường trong giấc mơ

Ngày xưa có thể chúng ta đã có cơ hội sống với hiến pháp, nhưng đã bỏ cái thiên đường thật đó để chạy theo một thiên đường mà ta mơ tưởng, không bao giờ có thật. Trong một bài giảng bằng tiếng Anh trước khóa tu này, tôi có nói rằng mỗi người trong chúng ta đều có cảm tưởng là đã đánh mất cái thiên đường của mình và trong cuộc sống hiện tại, ta đang tìm lại cái thiên đường đó. Ta tin rằng có một nơi, có một cảnh mà trong đó nếu trở về được thì sẽ có an lạc, hạnh phúc, sẽ được che chở và có an ninh. Vì vậy mà suốt đời chúng ta cứ đi tìm một thiên đường trong giấc mwo. 

Người tu tịnh độ đầu tư vào việc tìm về bằng cách mỗi ngày lần bao nhiêu xâu chuỗi, niệm bao nhiêu chục ngàn danh hiệu bụt. Qua sự hành trì đó ta cũng nhận diện được ước muốn được trwor về với quê hướng đích thực của họ. Trong bài giảng tiếng anh nói trên tôi có nói rất rõ rằng, một ý niệm về quê hương đích thực. Khi nghe chuông ta thực tập: lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm, có khi ta nói đưa về quê hương. Như vậy chúng ta là nnhuwngx người đã mất quê hương đích thực và trong cuộc sống hằng ngày ta cứ mãi đi tìm cái quê hương đích thực đó. 

Quê hương đích thực là gì. Ý niệm của chúng ta về quê hương đích thực là gì? Quê hương đích thực là một nơi mà ta cảm thấy có an ninh, cảm thấy được che chở không phải lo sợ, không đánh mất chúng ta. Quê hương đích thực True home không phải là một cái ý niệm mà cũng không phải là một cảm tưởng. 

Ngay từ đầu, ý niệm về quê hương đích thực là một ý niệm mà ta cần phải cứu xét. Mỗi chúng ta đều giữ lại cái kỷ niệm một thời mà ta còn là bào thai trong lòng mẹ. Mỗi chúng ta đều cư trú khoảng chín tháng trong bụng mẹ. Bụng mẹ tiếng Hán Việt gọi là tử cung, nó có nghĩ là cung điện của đứa bé. 

Những nuối tiếc âm thầm trong tàng thức

Trong lý thuyết văn nghệ mác xít, người ta hay nói không được bôi đen thực tại, mà cũng không được tô hồng thực tại. Thực tại là thự tại, mình không nên bôi cho nó đen thêm, cũng khôn gneen tô cho nó hồng hơn. Trên lý thì như vậy, nhưng thực tế thì các nhà văn, nhà thơ, nhà họa luôn luôn có ý muốn bôi đen hoặc tô hồng. Tô hồng tức là làm cho đẹp hơn sự thật và tàng thức của chúng ta thường làm công việc đó. 

Có những điều mà trong khi tỉnh, ta biết rằng không đáng để ta theo đuổi, vậy mà trong giấc mơ ta vẫn theo đuổi. Khi nghe nói trong bụng mẹ tối hu và cung điện của đứa con không phải là cái đích mà ta tìm tới, thì ta có thể đồng ý một trăm phần trăm rằng đó không phải là quê hương đích thực của ta. Nhưng có thể trong giấc mơ ta vẫn âm thầm đi tìm về cái hướng đó. Và chính tôi có thể cũng đang làm như vậy! Thức dậy buổi khuya tôi vẫn thấy mình nằm ở trong tư thế ấy như thường. Thành ra ta phải biết sự thật là trong con người của ta có một sự mâu thuẫn, có một sự khác biệt giữa ý và tàng. Những đối tượng của năm thứ dục lạc kia, khi quán chiếu bằng ý thức, ta không thấy chúng có sức hấp dẫn như vậy, nhất là khi ta đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm, ta đã thấy rõ mặt mũi chúng. Ta nghĩ rằng ta đã được giải thoát rồi, nhưng than ôi, khi đi vào giấc mơ ta vẫn còn bị kẹt. Và vì vậy cho nên phải tiếp tục thực tập quán chiếu để chuyển hóa cái thấy của tàng vì cái thấy của ý chưa có nghĩa là ta đã được hoàn toàn giải thoát. Ta đã có thể cắt đứt những sợi dây kết sử phía trên phần ý, nhưng mà những sợi dây kết sử ở dưới phần tàng, gọi là hạ phần kết sử, hay là tùy miên, có thể ta chưa cắt đứt được, vì vậy cho nên ta đừng khinh thường. 

có một sư cô vì không gặp may mắn trên đường tu học, không có thầy giỏi, không có tăng thân tốt, nên đã không thành công trong việc chuyển hóa. Trong sự buồn đau và thất vọng đó, cô ngã bệnh. Trên giường bệnh, chỉ còn mấy ngày nữa là từ trần, cô bảo những người xung quanh hãy đme tới cho cô một muỗng nước mắm để cô uống. 

Sự tu hành của chúng ta hiện giờ cũng vậy. ta phải đạt cho được cái hạnh phúc trong khi tu học. đi tu là vì ta đã thấy được những sơn sốt, những đau khổ, những phiền não trong cuộc đời và cái thấy đưa tới một cái tâm muốn tạo hạnh phúc cho ta và cho người khác, muốn đem giọt nước thanh lương để xóa tan cái sầu khổ trong lòng mình và trong lòng người. Do đó mình phát ra một cái tâm rất đẹp, rất tươi, rất mát, gọi là tâm bồ đề, có khi gọi là sơ tâm. Sơ tâm tức là cái tâm ban đầu của người đi xuất gia. 

Ngũ Dục tạo nên những cơn sốt

ý niệm về hạn phúc là những chướng ngại của hạnh phúc

Trong ta mỗi người đều có một ý niệm về hạnh phúc. Ta nghĩ rằng hạnh phúc là phải như thế này hay như thế kia. nếu ta không được như thế này hay như thế kai thì ta kết luận là ta không có hạnh phúc. Ta cho rằng bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc của mình, và trong nhiều trường hợp, ý niệm về hạnh phúc của mình là chướng ngại căn bản để mình đạt tới hạnh phúc. Ví dụ mình ham muốn đậu được cái bằng đó, và nnghix rằng nếu không có cái bằng đó thì không bao giờ mình có hạnh phúc cả. Nhưu vậy tức là mình đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc. Trong khi mình đang có vô số cơ hội để có hạnh phúc,mình đánh mất hết, chỉ vì mình đã tự đóng khung cái hạnh phúc của mình vào trong cái ý niệm có bằng cấp kia. Đó alf một cái muốn, một thứ ái dục, ái dục về bằng cấp. Trong đời sống tu hành cũng vậy. là một ông thầy tu mình có thể nghĩ rằng muốn nói cho thiên hạ nghe thì mình phải có một cái bằng cấp vì có bằng cấp thì thiên hạ mới nể, thuyết pháp người ta mới nghe. Vì vậy cho nên mình phải xông xáo ra đời vài ba năm để học và giật cho được bằng cấp đó. Mình đâu có biết rằng vì ý niệm về bằng cấp mà sự nghiệp tu hành của mình có thể sẽ bị hư hỏng. Tóm lại tất cả đều do ý niệm của mình mà ra, và ý niệm thường rất dễ bị sai lạc. 

Có một anh chàng nói: Hạnh phúc của đời tôi là phải cưới cho được cô này, nếu không cưới được cô ấy thà rằng chết còn hơn, hạnh phúc khkoong thể nào có dược. Như vậy anh chàng đã cột đời của mình vào trong ý niệm  là phải cưới cho được cô kia. Cưới không được thì đời không còn có ý nghĩa gì cả. Tại sao đời không có ý nghĩa gì nữa cả. Đời còn nhiều nghĩa lắm chứ. Nhưng tại mình không thấy được tất cả những cái nghĩa khác của cuộc đời mà chỉ thấy có một nghĩa đó mà thôi. Cái đó gọi là ý niệm, ý niệm đó ở trong đạo bụt gọi là tưởng một cái tưởng của minh về hạnh phúc. 

Muốn sử dụng vô số những điều kiện để có hạnh phúc, muốn đừng dẫm lên những điều kiện của hạnh phúc mà đi, ta đừng nên bị ràng buộc vào một ý niệm nào về hạnh phúc cả. Khi đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc là ta không còn cơ hội nào khác để có hạnh phúc nữa. ý niệm hạnh phúc đó gọi là dục tưởng. 

Ý niệm về hạnh phúc hay dục tưởng là đối tượng cần quán chiếu. 

Ý niệm về hạnh phúc có thể là một ý niệm cá nhân, mà cũng có thể là một ý niệm có tính cách cộng đồng, goi là tâm thức cộng đồng. Nếu ta hỏi một người mỹ bình thường phải có những điều kiện nào mới có hạnh phúc, thì người ấy sẽ liệt kê những điều kiện tối thiểu mà một người mỹ phải có để có thể gọi là một người có hạnh phúc. Trước hết là phải có một trình độ học thức tương đương với BA hay BS, nghĩa là tốt nghiệp đại học cấp 1. kể để phải có công ăn việc làm tương đương với trình độ học vấn, lương đủ cao để có thể thuê 1 căn nhà, mua một chiếc xe. Trong nhà phải có TV tủ lạnh...Cái hạnh phúc đó gọi là ước lệ. Đó là ý niệm về những đk mà mình tin là cần thiết và là căn bản của hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ lại, ta thấy rằng rất nhiều người đang có những đk như vậy, nhưng không hạnh púc gì cả. Họ có thể đang bị đau khổ cùng cực. Ngay cả khi có nhiều hơn trên cả những điều kiện đã đòi hỏi, họ vẫn khổ đau vô cùng. Vậy thì ý niệm về hạnh phúc là một dideuf cần phải được quán chiếu, cần phải tìm hiểu vì ta có thể chết vì nó. 

Đừng nói gì ngoài đời, ngay ở trong đạo, người đã tu rồi, cũng có thể có một ý niệm về hạnh phúc.Ví dụ mình nghĩ là phải có một ngôi chùa riêng để tự do sắp đặt theo ý mình, để không phải làm theo điều người khác sai phái. Chừng nào làm trụ trì, làm viện chủ của một ngôi chùa rồi thì mới có quyền, mình có thể bảo chú này, cô kia làm theo điều này, điều nọ. Mình nghĩ: có một ngôi chùa riêng để làm chủ là điều kiện của hạnh phuc.s Nhưng than ôi, khi đã có một ngôi chùa riêng rồi mình mới biết rằng cái ý niệm về hạnh phúc có thể không đúng chút nào. Thật ra có một ngôi chùa, có một trung tâm tu học không phải là điều dễ. Ta có thể căn cứ vào điều kiện đó để tạo rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng không hẳn phải làm chủ một ngôi chùa mới có thể làm được những điều đó. Nếu mình là một người có hạnh phúc, có khả nwang hướng dẫn tu học và tạo dựng hạnh phúc cho người, thì không có chùa mình vẫn làm được việc đó. Mình lại khỏi phải chăm sóc và lo lắng cho ngôi chùa như một vị trụ trì. Nhiều khi không có chùa mình có thể tọa hạnh phúc cho mình và cho người gấp mười, gấp trăm lần khi mình có một ngôi chùa. Có rất nhiều người đau khổ vì không gọi bằng các danh từ đó. Khi được gọi bằng một danh từ khác họ thấy trong người như có lửa đốt, như bị sốt rét. Tại sao đáng lý mình được gọi bằng danh từ ây smaf người ta gọi mình bằng danh từ này. Khi có sốt rét, khi bị một ngọn lửa đốt cháy, mình biết rằng mình đang bị một dục tưởng trấn ngự, dù đó là một cái danh rất nhỏ. Vì vậy dục tưởng hay ý niệm về hạnh phúc là một đối tượng mà mọi chúng ta cần phải quán chiếu. Khi quán chiếu và đập vỡ được cái dục tưởng ấy rồi thì mình được giải thoát, và tự nhiên ta có vô số hạnh phúc. Điều kiện hạnh phúc có mặt rất nnhieeuf trong ta và chung quanh ta, sở dĩ ta không sử dụng được chúng là vì ta đang kẹt vào trong cái gọi là dục tưởng. 

Trong hai câu chuối cùng của bài kệ bụt nói cho vị thiên giả. 

Danh sắc trung sinh tưởng nghĩa là từ trong phạm vi danh và sắc, đã phát sinh ra những tri giác, những nhận thức. 

ai cũng nghĩ rằng phải có cái đó mới hạnh phúc, vì vậy mà chúng ta chạy theo cái dó, không suy nghĩ. điều này cũng là một đối tượng quán chiếu rất quan trọng của thiền quán. 

Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc không?

Hạnh phúc là gì? Trong thiền quán khi chiếu sáng vào, ta nhìn rõ ràng bản thân của ái dụng, để thấy rằng những hình ảnh mà bụt đưa ra là những hình ảnh ất tuyệt diệu. Hình ảnh của moojtj khúc xương trần, một miếng htijt sống, một bó đuốc rơm cầm ngược gió, một hố than hồng, một con rắn độc rất là dễ sợ. Nhìn chung quanh, ta thấy biết boa người đã bị rắn độc cắn, biết bao người đã rơi vào hố than hồng, đang lăn theo đối tượng của dục vọng để gặm, để nhấm, để ham muốn, để hi cầu. Những người ấy khoogn bao giờ thỏa mãn cả. Không cần phải nhìn xa, chỉ nhìn chung quanh là ta thấy được những điều bụt dạy. đó là quán chiếu. Trong khi đó, người có tự do là người không ôm ấp một ý niệm vê fhanhj phúc, không ôm ấp dục tưởng, những người ấy có vô số cơ hội để có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Trời mưa cũng có thể hạnh phúc mà trời nắng cũng có thể hạnh púc. 


Điều quan trọng nhất là muốn có hạnh phúc chân thật, ta phải đặt vấn đề nghi ngờ cái ý niệm của mình về hạnh phúc, tại vì mỗi chúng ta đều có ý niệm rằng nếu được như thế này, được như thế kia thì ta sẽ có hạnh phúc. Có thể ví cái ý niệm đó mà trong quá khứ mình đã đau khổ vô cùng. Gạt bỏ được ý niệm về hạnh phúc, mình sẽ bắt đầu có cơ hội hạnh phúc. Trước khi gạt bỏ được ý niệm đó, ta vẫn chưa có hạnh phúc. Tại sao?

Khi có một ý niệm về hanh phúc rồi thì ta không thể an trú trong hiện tại được, vì ta cứ nghĩ rằng chừng tôi đạt được cái đó, chừng nào tôi thành tựu được cái kia, thì tôi mới có hạnh phúc. Khi có một dục niệm như vậy làm sao mà có hạnh phúc ngay trong hiện tại được. Nên điều kiện tiên quyết để có hạnh phúc là phải rời bỏ ý niệm về hạnh phúc đi để có thể an trú trong hiện tại. Bụt dạy rằng chúng ta có thể tiếp xúc với hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại hiện tại lạc trú là có nghĩa như vậy. 

Trước đây tôi đã nói về sự thầm mong trở về quê hương của chúng ta. Hôm nay tôi nói thêm về quê hương đích thực. 

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, 

Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương. 

Quê hương này là quê hương đích thực. Quê hương này không phải là quê hương Pháp, quê hương Mỹ... hay quê hương VN mà là cái quê hương tâm linh của chúng ta, nơi ta cảm thấy thỏa mái và hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội trong bụng mẹ hơn chín tháng. Thời gian đó ta không lo lắng về quá khứ hoặc tương lai còn hiện tại thì đã có mẹ lo  hết. Ta có cảm tưởng rất an lành dầu ta còn rất bé. Khi ra đời rồi, cảm giác đó dần dần bị đánh mất, vì vậy trong ta có khuynh hướng muốn trở về cái cung điện của đứa con, muốn trở về nằm trog bụng mẹ. Dầu ta có mỉm cười biết rằng trở về nằm trong bụng mẹ để có sự an toàn là chuyện không thể làm được, nhưng trong tàng thức, cái ước muốn thâm trầm đó vẫn còn. Tại sao? Tại vì sự khác nhau về cách vận hành giữa ý thức và tàng thức .Ý thức biết rằng không làm thế nào để trở về trạng thái bao thai để có sự an toàn, đó là một chuyện không tưởng. Ý thức biết rất rõ như vậy, nhưng A Lại Gia Thức vẫn còn mang cái ước muốn đó. Quán chiếu xa thêm chút nữa, ta thấy rằng sự an toàn đó chỉ là một ý niệm an toàn mà thôi. Thực tế thì nơi êm ấm an toàn mà ta đã nằm là một phần thân thể của mẹ. Vì vậy sự an toàn ha bất ổn của ta hoàn toàn tùy thuộc vào những ái, ố hỷ nộ của mẹ. Tùy thuộc vào những chất dinh dưỡng hay độc tố mẹ dùng. Nếu một thi sĩ có cảm tưởng mình đã đánh mất thiên đường, mình đang đi lang thang, đang bị đày đọa, thì cái ý niệm về thiên đường đó cũng đã taojdduowjc từ cảm giác an toàn mà ta đã có trong thời gian còn trong bụng mẹ. Ra khỏi bụng mẹ tức là ra khỏi thiên đường. 

Xét cho kỹ, ta vẫn còn thiên đường tới một mức độ nào đó. Nằm trong nôi, vẫn còn là nằm trong loại thiên đường. Ta nhớ rằng hồi còn bốn, năm tuổi, khi cha mẹ ta bận với công này việc nọ, ta thường đi thơ thẩn một mình ra vườn. Ta chơi với con ốc, con bướm, con sâu. Ta thơ thẩn một mình, làm quen với những gì chung quanh ta. Có khi ta sang hàng xóm chơi với bạn. Đến khi rảnh tay hay đi chợ về, mẹ gọi ta, cho một cái bánh in, một khúc mía thì ta có hạnh phúc rất nhiều. Tất cả những cái đó đều là những yếu tố của một thiên đường mà hiện giờ ta đã mất. Thiên đường ở đây có thể gọi là quê hương. Quê hương đầu tiên là bụng mẹ. Quê hương thứ hai là thời thơ ấu, là cây khế ngọt...

Ngày xưa ta không cần phải có những điều kiện lớn lao mới có hạnh phúc, chỉ cần một cây khế để leo lên hái ăn là đã có đủ hạnh phúc rồi. Cây khế đó bây giờ có còn hay không? Trong thiên đường của ta chắc chắn lúc nào cũng có một cây khế. Ngày xưa tôi có nói với thầy bổn sư Nếu gõi tịnh động mà không có cây khế thì con không chịu về tịnh độ đâu. Nói thế tại vì cây khế là một yếu tố rất cần thiết trong thiên đường của tôi. Cách đây hai hôm, lúc ở sơn cốc, tôi ngồi dưới một cây táo laoij Golden Apple, trái bắt đầu chín và ăn một trái táo vừa mới hái trên cành, ăn rất thảnh thơi, ăn với tất cả sự có mặt của mình. Hồi còn nhỏ, tooid dược ăn chuối, ăn cam, ăn xoài, ăn đủ thứ trái cây ngon, nhưng trái táo thì rất hiếm. Tôi thường nghĩ rằng sau này có cơ hội đi sang các nước tây phương, thế nào mình cũng tìm cách leo lên một cây táo và ăn một trái táo ngay trên cây thì mới đã. Cái ước mơ đó của tôi đã được thực hiện. Nhưng ngày hôm kia, khi ngồi dưới cây táo và ăn trái táo đó một cách rất chánh niêm, rất sâu sắc và rất hạnh phúc thì tôi biết rằng cái thiên đường kia nó nằm ở đó chứ không nằm ở đâu cả. Cây khế ngày xưa có còn hay không, đó là tùy theo nhận thức của mình. cây khế ngày xưa còn đó, và nó có thể nằm dưới hình thức một cây táo hay cây mận. Tại sao lại phải cái thời gian đó, cái địa phương đó, cái cây tên đó thì nó mới thuộc về thiên đường của mình. Ta đã thực sự đánh mất cái thiên đường của ta hay chưa. 

Quê hương là đường đi học 

Con về đuổi bướm vàng bay

Những hình ảnh ấy đã mất hay chưa? Những con đường thiền hành ở xóm thượng, những con đường thiền hành ở xóm hạ, những con bướm, những hạt sỏi, những lối rẽ đi quanh có bóng mát trưa hè... những cái ấy có hay không

Tại sao ta phải ước mơ, phải hoài vọng về một thiên đường trong quá khứ. Tại sao chúng ta không có khả năng thấy được rằng con đường đi học vẫn còn có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Nếu biết an trú trong hiện tại, biết nắm lấy hơi thở, thì ta có thể trở về ngay với quê hương của ta. Tại sao trong khi thầy trò đi thiền hành với nhau ta lại không cmar thấy được hạnh phúc cực kỳ mà ta đã cso trong khi đi học trên con đường quê hương. Ta phải có khả năng dừng lại trong giây phút hiện tại để khám phá ra cái sự thật đơn giản là quê hương của ta vẫn còn đó, quê hương đích thực của ta vẫn còn đó. Quê hương đích thực không phải và không thể nào chỉ nằm trong quá khứ. Quê hương đích thực cũng không thể chỉ nằm trong tương lai. Nếu đã là một quê hương đích thực thì nó phải có ngay trong hiện tại nó phải có ngay bây giờ và ở đây. 

Cái gì cấm ta, không cho ta trở về quê hương, trở về với thế giới của hạnh phúc, với thiên đường của ta. Cái gì bắt chúng ta phải than phiền rằng thiên đường của ta đã mất. Cái gì bắt ta phải đi tìm kiếm một thiên đường khác. Cái đó là dục tưởng, là ý niệm về hạnh phúc. 

Quê hương đích thực đã mất đâu. Thầy samiddhi hiện đang có mặt bên cạnh chúng ta. Con sông mà thầy samiddhi tắm, con đường mà thầy samiddhi đi thiền hành cũng vẫn đang có mặt. Bụt cũng đang có mặt bên cạnh chúng ta. Sở dĩ ta chỉ than khóc, chỉ hoài niệm là tại ta đang kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc xa vời. Nếu có khả năng buông bỏ cái ý niệm đó về hạnh phúc thì ta có thể trở về an trú trong hiện tại và bắt đầu khám phá ra được tất cả những yếu tố và điều kiện của hạnh phúc đang nằm ngay bây giờ và ở đây. Ngày xưa sở dĩ ta chơi được với một hòn sỏi với một con bướm, với một dòng suối là vì ta không kẹt về tương lai, không tiếc nuối quá khứ. Sở dĩ ngày xưa ngồi trên bãi cát, ta say mê chơi với cát, tạo ra một lâu đài bằng cát, đem hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến mặt trời đã lặn, không kể đến giờ cơm chiều đã qua, là tại sao? Tại vì lúc đó ta có khả năng an trú trong hiện tại và giờ đây ta đã đánh mất cái khả năng đó. Lỗi tại ai nếu không phải là lỗi của ý niệm về hạnh phúc mà ta đã đưa vào trong đầu của ta. 

vì vậy tưởng là những đối tượng quán chiếu quan trọng. Ta phải chiếu ánh sáng vào dục tưởng, phá cho nó tan tành để ta có thể thực hiện sự trở về với quê hương đích thực. Trở về được thì có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại .

Que ehuowng là chùm khế ngọt. Chùm khế còn đó nhưng bây giờ nó có thể gọi là chùm mận. Quê hương là đường đi học, đường đi học còn đó mà bây giờ nó có thể được gọi là đường thiền hành. Không phải chỉ nằm ở tỉnh đó, trong xã đó nó mới là đường đi học. Nó có thể ở xóm thượng hay xóm hạ. Quê hương là một cơm mưa và trong cơn mưa đó, ta xúm xít lại ăn bắp rang với nhau. Những cái đó là những cái vẫn còn cho ta tiếp xúc. Ta đã mất thiên đường hay chưa? quê hương của ta đã mất hay chưa? Hạnh phúc của ta có thể có được hay không? Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc hay không? Đó là những câu hỏi rất căn bản và cấp thiết. Và câu trả lời là câu trả lời của bụt. Hạnh phúc ấy đang có mặt và hạnh phúc ấy rất lớn. 

Để tiếp nhận được hạnh phúc này ta cần thực tập, và trong khi thực tập ta có anh, có chị, có em, có bạn cùng thực tập với ta. Nếu mọi người đều cùng thực tập, thì sẽ trở thành rất dễ dàng và ta dễ có hạnh phúc. 

Nếu mình biết được bản chất của điều mình gọi là hạnh phúc, thì mính ẽ không bị níu kéo bởi ý niệm sai lầm về hạnh phúc. Khi đã biết được tính cách sai lầm, cái không tưởng của ý niệm thì mình sẽ không bị kẹt vào trong ý niệm ấy nữa, nhờ vậy mà không một người nào, một vị thiên gia nào có thể xúi biểu hoặc lay chuyển được mình tại mình đang an trú trong thực tại của vạn pháp. 

Bản không vô hữu tính , nghĩa là bản tính của chúng ta là vô hữu. Chữ không ở đây có nghĩa là không phải như vậy, không phải như mình tưởng. Chữ khôn gnafy đã có từ lâu. Trong áo nghĩa thư nó có nghĩa là không phải như vậy, khôn gphair như vậy. Ví dụ mình co smootj ý niệm về hạnh phúc và mình cho ý niệm đó là chính xác là đích thực. Người có trí tuệ nhìn vào thì thấy điều đó không phải là hạnh phúc chân thật nên bảo rằng đó khôn gphair là hạnh phúc đâu, không phải đâu. Chữ snyata còn có nghĩa là không của bát nhã. Tuy nhiều nghĩa nhưng một trong những nghĩa căn bản là khôn gphari như vậy không phải như vậy. 

Trong đời sống hàng ngày, phần lớn nhận thức của ta đều sai lầm Tất cả những khổ đau mà ta chịu đựng đều phát xuất từ nhận thức sai lầm của ta. Cho nên phương pháp tu là mỗi khi thấy, nghe, nhận thức điều gì, ta đừng vội quả quyết đó là sự thật. Trong ta có rất nhiều chất liệu mê mờ, cho nên phải cẩn thận lắm mới được. Tôi thường cho các thiền sinh một câu thần chú để bảo vệ thân tâm: mỗi khi có một nhận thức làm cho trong người thấy bực bội thì phải đọc câu thần chú

Are you sure? Mình có chắc là như vậy hay không. 

Cái tưởng tạo nên bóng dáng của hạnh phúc

Tóc mai sợi ngắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm

Nếu lấy nhau được thì ta sẽ không thương nhau đến ngàn năm, đôi khi chỉ thương được có một năm thôi. Chính vì không lấy nhau được nên ta mới thương một ngàn năm. Thương như vậy là thương cái ý niệm về người kia, thương cái hình bóng đẹp mà ta đã tạo ra từ người kia. Còn nếu lấy người kia thì ta bắt buộc phải sống với cái thực tại của người kia. Mà sống với thực tại thì cố nhiên là ý niệm mơ hồ và đẹp tuyệt vời về người kia sẽ dần dần tan biến. Câu ca dao đó là một câu ca dao chỉ nói về chuyện tình mà thôi. Cố nhiên khi một người thương mọt người khác thì bóng dáng của người con trai hay của người con gái kia là bóng dáng tuyệt vời mà ta mơ mộng. Một sợi tóc mai đủ để cột ý chí của một đấng anh hùng. 

Nếu có được nhận thức chính xác đối với danh sắc và thấy được tính cách sai lạc, tính cách không có thật của chúng, thì ta được gọi là những người biết đi theo con đường của bụt dạy, vĩnh viễn xa lìa được những nẻo về tối tăm. 

Quán chiếu về vô ngã sẽ diệt được ba mặc cảm. 

Sau khi bụt đọc bài kệ đó cho vị thiên giả nghe. 

Mặc cảm hơn, kém, bằng

Tạo ra nhiều rối rắm

Ba mạn đã vượt rồi

Tâm không còn khuynh động


Nếu quán chiếu về ngã thành công thì ba cái mạn tức là ba cái mặc cảm đó sẽ tan tành. Giáo lý này sâu sắc lắm, chúng  ta không thể đọc qua mà hiểu ngay được. Nó có liên hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của chúng ta nên rất hữu dụng. 

Cả ba mặc cảm hơn, thua, bằng đều sai lầm vì chúng được tạo nên bằng một chứng kiến sai lầm. Cái thấy sai lầm ấy gọi là ngã chấp. Chữ ngã mạn mà chúng ta thường dùng không có nghĩa là mình hơn người khác. Theo đúng nghĩa của nó thì ngã mạn là bị kẹt vào cái ý niệm về ngã. Vì bị kẹt vào cái ý niệm về ngã cho nên ta mới thấy mình hơn, bằng hoặc thua người kia. Cả ba đều xấu hết, vì mặc cảm tự ti cũng có hại như mặc cảm tự tôn. Cái mặc cảm bằng người cũng có hại, vì trong ý niệm bằng người vẫn còn có sự so sánh, vẫn còn có sự tự hào. Ví dụ mình nói rằng Anh nói tiếng anh được thì tôi cũng nói tiếng anh được. đó là mạn. Như vậy cái bằng cũng được làm bằng chất mạn. nếu không có mặc cảm hơn thua, bằng thì mình la fnguowfi giải thoát. Vấn đề không phải là có bằng cấp hay không, biết tiếng anh hay không, có học xong trường cao cấp phật học hay không. Vấn đề là mình có ngã chấp hay không. Hạnh phúc là ở chỗ đó. Tất cả giáo lý nguy nga của đạo bụt đều được xây dựng trên một giáo lý cơ bản goi là vô ngã, tức là thực tại không có một cái ta riêng biệt. Chúng ta cùng chia sẻ sự sống. Sự sống đó không thể được cắt xén thành ra những vùng riêng biệt. Vì vậy mỗi khi người kia nói một câu làm cho mình buồn, làm một điều khiến mình bực, đó là một cơ hội để ta thực tập vô ngã. Chính nhờ những dịp như vậy ta mới có thể tiến bộ trên con đường tu tập. Nếu chung quanh chúng ta đều là những vị bồ tát thì chúng ta sẽ không thể nào tu được. Cứ tưởng tượng quí vị toàn là bụt và bồ tát, người nào cũng toàn mỹ, chắc quí vị sống không nổi. Vì vậy đừng đi tìm một tăng thân toàn là thánh tăng. phải có người có yếu kém về mặt này, mặt kia, mình mới có dịp so sánh và học hỏi được. Vì vậy tăng thân của chúng ta không cần phải là một tăng thân tuyệt hảo, những yếu kém của tăng thân là những chất lượng rất cần thiết cho việc tu tập của ta. Trong ta có những yếu kém, và trong các phần tử khác của tăng thân cũng có những yếu kém. Nhưng ta cũng như tất cả những phần tử khác đều có cái nguyện là sẽ đi trên con đường chuyển hóa, vì vậy mà chúng ta có cái chất thánh của một trong ba viên ngọc quý: tăng bảo. Một tăng thân trong đó còn có phiền não, lỗi lầm, khuyết điểm thì vẫn là một viên ngọc quý như thường. Ta chấp nhận những yếu kém của bản thân và chấp nhận những yếu kém của những phần tử khác trong tăng thân, đó là chuyện phải làm. Cùng nhau tu học là cùng đi trên một con đường và giúp đỡ lẫn nhau chuyển hóa những yếu kém. Vì vậy khi người kia nói một câu hay làm một việc gì có tính cách phát xuất từ sự vô ý, sự vụng về hay là sự giận hờn, ta phải biết đó là một cơ hội bằng vàng để ta thực tập. còn nếu người kia không bao giờ nói một câu không dễ thương, không bao giờ làm một điều gì không dễ thương, thì chúng ta đâu có cơ hội để tu. Quanh ta, nếu tất cả đều là toàn mỹ thì ta tu sao được. 

Nương tựa hải đảo tự thân

Một hôm có một sư cô trẻ lên than thở với thầy

Quán chiếu về tương quan sẽ dẫn tới cái thấy vô ngã

Các đây mấy tuần, một hôm ra vườn ngồi chơi trên bãi cỏ, có một con bọ xít nhỏ xíu bay bám vào áo mà tôi không hay. Ngồi một lúc, thoán có ý hay tôi vào phòng và ngồi vào bàn để ghi lại kẻo sợ quên. Vừa cầm cây bút lên thì thấy anh chàng bọ xít đang đậu trên vai trái. tôi có cái tập khí la fkhoong ưa bọ xít vì mùi hôi của nó. Do đó, với phản ứng tự nhiên, tôi đua tay lên phủi một cái, và con bọ xít rớt xuống. Lúc đó tập khí mạnh và chánh niệm tới trễ, quí vị có nhớ ngày xưa khi chưa đi tu, hễ biết con muỗi đậu vào má mình thì mình đưa tay đánh một cái bốp liền. Nhưng nhờ tu học nên chuyện đánh cái bốp cho con muỗi chết, mình không làm nữa, mình chỉ đuổi cho nó bay đi thôi. Điều này ta cần thực tập mới làm được. Từ chỗ đánh cái bốp cho con muỗi chết cho đến chỗ mình chỉ xua cho nó bay đi, phải cần một thời gian thực tập tinh chuyên. Tôi cũng vậy. Sau khi phủi con bọ xít rồi, tôi cúi xuống định ghi lại cái tư tưởng vừa có thì tự nhiên chánh niệm tới và nó nói. Trời đất ơi. Con bọ xít nhỏ xíu mà phủi mạnh như vậy thì làm sao nó sống được. Bọ xít cần một mooit rường, một khung cảnh mới có thể sống, bây giờ đem nó vào thư viện, nơi chỉ sách, có nhang và tọa cụ thôi, thì nó ăn gì để sống. Toi muốn đứng dậy đi tìm con bọ xít để đưa nó ra ngoài, nhưng ý nghĩ thứ hai lại đến. Sao mình không ghi xong tư tưởng kia rồi sẽ đi kiếm và đưa nó ra ngoài sau. Tôi cúi xuống ghi chép và bỏ bút đứng dậy đi tìm con bọ xít. Tìm nó gần mười năm phút mà không thấy. Tôi liên tưởng đến người việt đi tị nạn được đưa vào xã hội tây phương mà còn khó sống, huống hồ đằng này người ta đang ở ngoài vườn, có cây, có lá, có đất đai, có hạt sương tươi mát... mà lại đem bỏ vào một onwi chỉ có tọa cụ, kinh sách thì làm sao người ta sống được. Cái hiểu đưa tới cái thương và thôi thúc mình đi tìm. Tôi rất làm lạ là chỉ trong một vùng chừng hai ba  thước vuông, vậy mà lật mọi thứ lên cũng vẫn không tìm thấy. Tôi hơi hối hận là tại sao lúc đó mình không đi tìm ngay mà phải đợi ghi cho xong một câu rồi mới đi tìm. 

Tìm mãi không được tôi thất vọng và hình dung rằng con bọ xít này sẽ từ từ khô đi giống như những con ốc leo tường. nó sẽ khô như vậy, sẽ chết như vậy và tội nghiệp cho nó quá. Tôi tự hứa lần sau sẽ hành động có chánh niệm hơn. Với tâm trạng đó, tôi ngồi tiếp tục làm việc. Chừng nửa giờ sau, nhìn lên tôi thấy chàng bọ xít đã trở về đậu trên vai áo, gần chỗ nó đậu hồi nãy! Sự trở về của con bọ xít làm cho tôi mừng. Tôi có cảm giác vui như vừa tìm lại được một người bnaj cũ và cái buồn cái hối hận đột nhiên biến mất. Tôi cúi xuống lượm một tờ giấy, để con bọ xít lên rồi đi ra vườn đặt nó lên một chiếc lá rất cẩn thận. Trong cuộc sống nhiều lúc ta có những niềm vui đơn giản như vậy. Tôi thấy rất rõ ràng việc làm lúc đó của tôi và niềm vui của tôi trong khi làm việc đó, nếu có một quan sát viên nhìn vào, chắc sẽ buồn cười. Có biết bao nhiêu sinh mạng ở ngoài trời đang chờ chết, mình cứu được một con bọ như thế có nghĩa gì đâu. Sự có mặt của con bọ đối với quan sát viên kia không quan trọng gì hết, nhưng đối với tôi nó quan trọng vô cùng, tại vì tôi biết rằng cái hạnh phúc của mình tùy thuộc vào chỗ mình có lòng tư bi hy không. Một người không có lòng từ bi thì không thể có hạnh phúc. Cho nên tu tập là làm cho lòng từ bi càng ngày càng lớn để hạnh phúc của mình ngày càng lớn lên. Nếu ta có được lòng thương đối với những sinh vật li ti như vậy thì ta cũng có thể có lòng thương đối với những sinh vật lớn hơn, trong đó có sư huynh, sư đệ và học trò của ta. 

Cho nên khi quán chiếu về vô ngã không có nghĩa là ngồi đó để suy nghĩ về vô ngã, mà mình phải sống đời sống hàng ngày một cách có ý thức. Tiếp xúc với con sâu, với hạt lúa, với chén tương, với người bạn tu, với mặt trời... một cách có chánh niệm để thấy sự liên hệ mật thiết giữa tất cả các hiện tượng tức là quán chiếu vô ngã. Thí dụ khi ăn trái mận mình thấy một đám mây trong trái mận. Trái mận không bao goiwof có được nếu không có đám mây, không có mặt trời, không có đại địa, không có người trồng mận, không có anh, không có tôi. Vì vậy mà tôi có trong trái mận, và trái mận có trong tôi. Trái mận cũng đồng thời là mặt trời là đám mây. trái mận bất diệt và tôi cũng bất diệt. Đó là một bài thực tập quán chiếu về tính vô ngã. 

Mình càng quán chiếu như vậy, càng sống có chánh niệm như vậy thì tự nhiên trái tim mình càng ngày càng lớn thêm lên. trái tim ở đây tức là sự thương yêu, là lòng từ, và nhờ vậy mà mình sẽ dung chứa được tất cả mọi người và mọi loài trong đó. Trái tim của em có thể chứa được tôi không? Trái tim của em có thể chứa được người kia không? Có thể chứa được người mà mình nghĩ là khó chịu hay không ? Có thể bao dung được cô Francois Berthot không? Nếu hiểu rằng Francois đã bị người ta giành mất con, đã từng sống một đời sống rất khó khăn, đã lâm vào tình trạng mất trí, thì tự nhiên cái hiểu đó đưa tới cái thương và ta có một chỗ ngồi ấm áp cho Francois trong trái tim ta. 

Thiên đường của tuổi thơ

Mỗi khi trời mưa ta thường có cảm giác êm dịu, mát mẻ và thường nhớ đến những cơn mưa mùa hè ngày xưa. Tuổi thơ nào cũng được đánh dấu bằng những cơn mưa. Khi còn là em bé, ta cởi trần cởi truồng, đùa chơi dưới mưa. Cái thiên đường kia đâu đã mất vì cho đến bây giờ ta vẫn còn có những cơn mưa và vẫn có thể an trú trong thiên đường tuổi thơ đó trong giờ phút hiện tại. 

Quê hương đích thực là quê hương không bao giờ bị đánh mất. Nó không chỉ có mặt trong quá khứ mà còn có mặt bây giờ và trong tương lai nữa. Hồi còn bé, khi được mẹ cho chén cơm với dưa giá thịt kho, hoặc cá kho, ta mang bát cơm với đôi đũa ra ngồi ở bực cửa, vừa ăn vừa nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống. ta cứ đưa mắt lên,  đưa mắt xuống nhìn những giọt nước mưa từ lá rơi xuống do những giọt nước mưa tạo ra và ăn rất ngon lành. Ở tuổi đó, ta không lo lắng cho tương lai không tiếc nuối thơi quá khứ chỉ ngồi đó một mình và ăn rất chậm. Có khi chậm quá mẹ phải gọi. Con ơi. sao ăn một chén ocwm mà lâu quá vậy. Đó alf trường hợp ta ăn một mình. Nếu sanh trong một gia đình có anh chị em, ta có thể ngồi quây quần với nhau để ăn cơm. Chúng ta cũng ngước mắt xuống nhìn những bong bóng phập phồng. Chúng ta đã rất sung sướng vì có em, có chị, có anh cùng ngồi bên cạnh và cùng hưởng cái thiên đường đó của tuổi thơ. 

Khi lớn lên, ta đánh mất cái thiên đường đó, tại vì phải lo cho tương lai, phải nghĩ về quá khứ. Khi đi học ta lo về chuyện thầy giáo hỏi bài, về việc thi cử, về quần áo, về cái lược chải đầu, lo đôi giày cho bóng, lo chúng bạn chê cười. Ta mất đi cái hồn nhiên của tuổi thơ và từ từ ta đánh mất cái thiên đường của tuổi thơ đó. Ta cũng đánh mất cía thiên đường ngây thơ, quây quần ovwis anh chị em trong gia đình. 

Hồi đó, tết đến ta không có nhiều quà, chỉ có một bộ quần áo mới nhưng ta rất mừng và thường nôn nao chờ đón ngày tết. Sáng mồng một mặc áo quần mới vào, đi sột soạt vì vải mới còn dính chất hồ, nghe rất oai. Đến trưa, mẹ cắt cho một khoanh bánh tét, lấy một chiếc đũa cắm ngan, lăn ngang một ít đường cát, đưa cho ta rồi nói con đi ra ngoài chơi. Có thể lúc đó mẹ đang bận công việc, không muốn ta quanh quẩn vướng víu. Vui mừng ta mang khoanh bánh ra sân, vừa nhẩn nha ăn vừa nhìn con mèo, con chó, nhìn bông hoa vạn thọ, nhặt xác pháo giao thừa mà lòng tràn đầy hạnh phúc. Những hạnh phúc đó còn lại trong tàng thức ta dưới dạng những hạt giống hạnh phúc, khiến ta thường có cảm tưởng thiên đường đó đã mất và thường đi tìm

Người Tây phương cũng như người đông phương đều cùng có mtooj cảm nghĩ là quá khứ bao giờ cũng đẹp, quá khứ bằng vàng. Những ngày tháng ngọc ngà ngày xưa bây giờ đã biến mất rồi. Thủa đó đời sống đẹp hơn mặt trời cũng rạng rõ hơn ngày hôm nay, đó là lời bài hát nổi tiếng của pháp. 

Cái cảm nghĩ thiên đường trong quá khứ bao giờ cũng đẹp hơn thực tế hiện tại, thường được nuôi dưỡng bằng những kỷ niệm của tuổi thơ mà ta thường nghĩ bây giwof không còn nữa. T

Thưc tập chánh niệm là để khám phá ra rằng không có gì đã qua và đã mất. Cái hạt giống hạnh phúc kia của thiên đường tuổi thơ vẫn còn trong chúng ta. Nếu biết thực tập nghĩa là biết cày bừa ruộng tâm, biết tưới tẩm và vun bón hạt giống, ta có thể tiếp xúc và làm phát khởi niềm hạnh phúc đó trở lại. Đây là một sự thực rất đáng mừng. 

Ngũ căn và ngũ lực

Đạo bụt có một dụng cụ rất mầu nhiệm để cày bừa, để gieo hạt, để tưới tẩm, để vun bón, gọi là chánh niệm. Chánh niệm là cái năng lượng mà ta có thể phát khởi trong đời sống hàng ngày. Nói chung năng lượng có nhiều thứ: Năng lượng để phá hoại, năng lượng để xây dựng, để thanh lọc. 

Khi bỏ củi vào lò để đốt, ta làm phát xuất một loại năng lượng gọi là nhiệt lượng. Nhiệt lượng đó sưởi ấm căn phòng, giúp cho ta có thêm hạnh phúc. đó là một loại năng lượng mà mùa đông ta rất cần đến. Trong con người cũng vậy, ta cần phải có sức nóng thì mới sống được. Vì vậy ta phải ăn cơm, ăn cơm là đưa những nguyên liệu vào trong cơ thể để các tế bao ftaoj nên một loại năng lượng gọi là thân nhiệt. Khi giận người ta phát ra một loại năng lượng gọi là giận, và cá năng lượng đó cũng làm ta nóng, nhưng nóng khó chịu hơn là cái nóng của lò sưởi mùa đông. Năng lượng giận làm cho cơ thể ta bốc cháy, đau khổ, và ta vung vẫy niễm đau nỗi khổ của ta lên những người và vật chung quanh. 

Nghi ngờ cũng là một loại năng lượng. Khi tưới tẩm hạt giống nghi ngờ trong ta nó phát sinh ra một năng lượng làm ta uể oải, mất hết sức sống, nhìn gì cũng thấy không thấy có ý nghĩa. Năng lượng đó là loai năng lượng tiêu cực, có tính cách phá hoại. Tương tự như thế,  năng lượng giận cũng chứa rất nhiều tiêu cực, và sức phá hoại của nó cũng rất trầm trọng. 

Hiện nay ta có những trưng tâm sản xuất năng lượng để thắp đèn, để chạy máy. 

Đạo bụt dạy về ngũ căn và ngũ lực. Ngũ căn là năm địa điểm để phát sinh ra năm năng lượng. Ngũ lực là năm nguồn năng lượng phát sinh từ năm địa điểm đó. Ngũ căn có thể ví với năm nhà máy phát sinh ra năng lượng. căn tức là gốc

Ba đối tượng để tin  của ta là chân  ( một cái gì là thạt), thiện ( lành), mỹ ( đẹp. Thật có nghĩa là không phải giả, vì đạo đức có khi là giả. Ban đầu ta có thể tin vào đạo đức giả, nhưng sau một thời gian cái thần tượng đó nó đổ, nó rớt xuống và lúc đó niềm tin trong ta tan biến.  Lâm vào tình trạng này là vì ta đã nhận giả làm chân, nhận ác làm thiện, nhận ố làm mỹ. Tất cả vì ta vô minh. Khi niềm tin không được thắp sáng bởi trí tuệ thì nó dễ bị tan vỡ, và từ chỗ tin tưởng, ta có thể lâm vào trạng thái nghi ngờ. Khi năng lượng của nghi ngờ phát sinh trong tâm thức, ta sẽ uể oải, rã rời, hết muốn làm gì nữa. Do đó theo giáo lý đạo bụt, mọi niềm tin phải được làm bằng chất liệu của trí tuệ. tin mà không quán chiếu thì niềm tin đó rất nguy hiểm. Bụt dạy, Tín ta mà không hiểu ta tức là bài báng ta. Do đâu mà có niềm tin. Do cái hiểu, vì vậy nhà máy năng lượng thứ hai trong đạo bụt là nhà máy tuệ. 

Tuệ là cái thấy của hiểu. Năng lượng của niềm tin được chế tạo từ nguồn năng lượng của trí tuệ. Có quán chiếu ta mới thấy rõ được sự thật. Thấy rõ được sự thật thì ta mới có thể xa lìa những cái giả ngụy trang bằng vỏ chân, những điều ác ngụy trang bằng vỏ thiện, và những việc xấu xa ngụy trang bằng vỏ tốt đẹp. Lúc đó niềm tin ta sẽ được goi là chánh tín. Muốn có trí tuệ, tức là muốn có cái thấy sâu sắc, ta phải biế nhìn. Nhìn cho sâu sắc tức là quán chiếu bằng năng lượng của chánh niệm. Vì vậy nhà máy phát sinh năng lượng thứ ba trong đạo bụt là nhà máy niệm. 

Trung tâm tu học là nơi cung cấp vật liệu để tạo ra nhà máy niệm. tại các trung tâm tu học, ta được dạy nhiều phương thức để thiết lập nhà máy chế biến một loại năng lượng tích cực gọi là năng lượng chánh niệm. đây là một thứ năng lượng rất cần thiết để chúng ta có thể nhìn sâu và thấy được sự thật tiềm tàng trong sự sống. Khi biết ăn cơm trong chánh niệm, biết rửa nồi trong chánh niệm, biết đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và thở trong chánh niệm thì tâm của ta hướng về một phía, nó tập trung, không bị tán loạn. trnajg thái đó gọi là định. 

Định là nhà máy năng lượng thứ tư trong đạo bụt. Người không có định thì không làm được gì cả. Muốn giải quyết một vấn đề cho riêng mình hoặc cho đại chúng mà không có định thì không đi tới kết quả nào. Khi soạn một bài giảng hay thực tập quán chiếu để tìm sự thật của một vấn đề, ta phải có định tâm. Vì vậy nhà máy định rất cần thiết, nếu không có nhà máy định thì không bao giờ ta có tuệ cả. Nếu không tập trung thì làm sao thấy được giải pháp, tìm được sự thật. 

Khi có bốn nguồn năn gluowngj kể trên  đời sống của ta là một đời sống tinh chuyên, không uể oải, không bệ rạc. Nếu ta uể oải, rã rời, không có niềm vui, không thiết sống là vì ta không có năn gluowngj tinh chuyên. đó là nhà máy thứ năm trong đạo bụt, nhà máy tấn. Tấn tức là sự siêng năng, sự chuyên cần. 

Năm nahf máy đó goi là năm căn. Căn ở đây là nhà máy phát sinh ra năng lượng. Với năm nhà máy đó, khi chúng bắt đầu hoạt động thì chúng phát sinh ra năm loại năng lượng gọi là năm lực. vì vậy ngũ căn cũng là tín, tấn, niệm, định, tuệ mà ngũ lực cũng là tín tấn, niệm, định tuệ. Căn tức là hình thức của nhà máy, những trang bị của nhà máy. Lực là năng lực phát xuất từ sự vận hành của các nhà máy đó. Ngày xưa khimowis học tôi thường thắc mắc đã có năm căn : tín, tấn, niệm, định, tuệ tại sao phải có năm lực nữa?  lúc đó tôi chưa hiểu năm căn là năm nhà máy và năng lực là năm loại năng lượng do năm nhà máy đó phát xuất và biến ra. 

Nếu trong thân và tâm ta không có đủ năng lực, hoặc nwang lượng yếu ớt, ta phải biết xét tìm trong năm nhà máy đó, xem những bộ phận nào bị hư hỏng để lập trức tìm cách chữa trị. xem xét và chữ trị thường xuyên mới đúng là đời sống tu tập tinh chuyên. 

5 tương tức mầu nhiệm của các chủng tử

nếu năm nhà máy chế tạo năng lượng toàn hảo thì chúng sẽ phát sinh ra năm nguồn năng lượng rất cần thiết cho sự tu tập và chứng ngộ của ta. Bụt dạy tâm ta có hai phần: tàng thức và ý thức. Tàng thức là nơi chứa tất cả hạt giống của năng lượng. ý thức là nơi hạt giống biểu hiện, đơm hoa, kết trái. Có những điều mà khi nhìn vào vùng ý thức ta không thấy , nên ta quả quyết ta không có điều đó. thực ra điều đó có trong tâm ta, nó nằm trong tàng thức dưới dạng những hạt giống, và chưa phát hiện ra mà thôi. Nếu trang bị đầy đủ phương tiện và chăm bón các hạt giống này, chúng ta sẽ phát sinh ra những năng lượng trên vùng ý thức. Ví dụ khi quý vị noisL bây giờ tôi không giận ai hêt.s Điều đó đúng. Bây giờ có ai đỏ mặt tía tai, có ai sân si la mắng ai đâu mà có người giận phải không. Thật ra thì cái giận không chỉ có mặt trên phần ý thức nhưng nó vẫn có mặt ở dưới phần tnagf thức. 

chúng ta ai cũng đều dang có cái giận trong lòng, nhưng nó đang ở trong trạng thái hạt giống và đang ngủ yên trong kho tàng thức của ta. Người tu học phải khôn ngoan, phải biết lợi dụng lúc những hạt giống tiêu cực đang ngủ yên để lo vun bón gieo trồng những hạt giống tích cực. Thiền sinh ru hội kết là một bài thực tập ru ngủ các hạt giống tiêu cực. Nội kết là những niềm đau, nỗi khổ, ở trong lòng ta. Nếu ru cho chúng ngủ thì ta sẽ ranh rang để cày bừa, gieo trồng, tưới tẩm những hạt giống tốt. Đừng nghĩ rwangf khi lấy hết những hạt giống xấu xa rồi thì ta mới có thể tu được. nếu những hạt giống xấu được lấy ra hết rồi thì ta đã là toàn mỹ, và đã là toàn mỹ thì có gì sai đâu mà phải sửa, phải tu nữa. 

Hạt giống của nghi ngờ cũng có trong tất cả chúng ta. nếu ta không tu tập tín, tấn, niệm, định và tuệ thì hạt giống nghi ngờ sẽ phát sinh, nó sẽ bao trùm hết cả con người ta và năng lượng tiêu cực đó sẽ làm tiêu mòn đời ta. Nó sẽ làm cho ta khổ và những người chung quanh ta cũng sẽ khổ theo. Khi một người có niềm tin, tin vào một điều thật lành, thật đẹp thì tự nhiên đôi mắt người đó sáng long lanh và người đó có rất nhiều năng lượng. Người đó sống có định tâm, có chánh niệm và có sự hiểu biết. 

Tu học là cày bừa mảnh đất tàng thức và gieo vào những hạt giống tốt, tưới tẩm và gieo vào đó những hạt giống tốt, tưới tẩm để chúng nảy mầm rồi mọc thành cây trên phần ý thức. Khi mọc, những cây đó sẽ đơm hoa, kết trái rồi trở thành những hạt giống lành cùng loại và rơi xuống mảnh đất tâm. Duy thức học gọi đó là dẫn tự quả, nghĩa là một hạt giống có thể sanh ra nhiều hạt giống có cùng một tính chất. Đây là một trong sáu tính chất của chúng tử. Muốn một hạt giống tốt phát hiện trên phần ý thức, làm đẹp cuộc đời rồi gieo xuống tàng thức những hạt giống tốt cùng lại, ta cần có một điều kiện gọi là đãi chúng duyên. Đãi là đợi, chúng là những, và duyên là điều kiện. đãi chúng duyên là đợi những điều kiện thuận lợi. Hạt giống nào ở dưới tàng thức cũng cần những điều kiện thuận lợi mới phát hiện được trên phần ý thức, kể cả hạt giống chánh niệm. Những điều kiện thuận lợi đó gồm có điều kiện tăng thân, điều kiện thầy, điều kiện thiền đường, điều kiện pháp thoại, điều kiện thực tập. khi ta trang bị đầy đủ những dideuf kiện đó thì hạt giống tốt tiềm tàng dưới tàng thức sẽ có cơ hội để nảy mầm và phát sinh, làm đẹp cho cuộc sống của ta và gieo lại những hạt giống đồng loại vào đất tâm, làm rạng rỡ môi trường sinh sống của ta. Người nào đã học 50 bài tụng duy biểu chắc còn nhớ hai tính chất vừa nói của chúng tử. Bụt thường dạy rằng tất cả chúng sinh đều có phật tánh, tất cả chúng sinh đều có thể trở thành những bậc toàn giác. Kinh Pháp hoa có câu: nhất thiết chúng sinh giai hữu phật tánh, nghĩa là chúng sinh ai cũng có hạt giống bụt ở trong mình. nếu hạt giống đó có đầy đủ điều kiện thì nó sẽ phát triển. Mục đích của tu học là nhận thức trong ta có hạt giống bụt và tìm đủ mọi cách, trang bị đủ điều kiện để cho hạt giống đó phát sinh và nảy nở. Ta có thể gọi hạt giống đó là hạt giống của chánh niệm hay là hạt giống của tuệ giác, hoặc hạt giống của chánh tín. Chúng cùng là một thực tại nhưng tùy trường hợp ta có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau. trong trường hợp này ta gọi là hạt giống niệm vì niệm có chứa định, trong định có chứa tuệ, trong tuệ có chứa tín, trong tín có chứa tấn. Vì vậy niệm là hạt giống của bụt ở trong ta. Ta cũng có thể gọi hạt giống trong ta là định, tuệ, tín hay tấn. Nhưng để cho dễ dàng ta lấy niệm làm biểu tượng cho hạt giống bụt ở dưới tàng thức. 

Bụt là phiên âm của chữ buddha. Danh từ buddha do động từ budh mà ra. budh có nghĩa là thức dậy, hiểu biết, thức tỉnh, giác ngộ. Biết cái gì đang xảy ra, và biết một cách sâu xa thì gọi là Budh. Chánh nnieemj nghĩa là biết cái gì đang xảy ra, thấy được cái gì đang xảy ra. Tùy theo trình độ thấy của mình mà cái thấy đó sâu hay cạn. Nhưng tất cả đều là cái thấy. Bụt là người đã thấy, đã hiểu, đã tỉnh thức hoàn toàn. Mỗi chúng ta đều có khả năng tỉnh thức. Cái khả năng tính có thể thực dậy, có thể trở thành một vị bụt, gọi là phật tánh. Tiếng phạn là buddhata. Phật tánh tức là hạt giống chánh niệm. Ta không thể nói ta không có hạt giống đó. Tại vì chánh niệm trước hết được định nghĩa là ý thức được cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Ví dụ tôi nâng ly lên và tôi biết tôi đang nâng cái ly lên thì lúc đó năng lượng chánh niệm đang có mặt. 

Các hạt giống vô giá trong tàng thức. 

Ta có mặc cảm thấp kém và thường nghĩ rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi, không thể nào thành bụt được. Đó là vì ta không công nhận hạt giống bụt ở trong ta. 

Một trong ba mặc cảm mà kinh samiddhi đề cập tới là mặc cảm tự ti, nói rõ ra là mặc cảm cho rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi. Thật ra trong chúng ta ai cũng đều có hạt giống bụt, tức là có khả năng tính thành phật. Khả năng tính thành phật là danh từ mới, trong quá khứ ta gọi là phật tính. Dầu sống trong thất niệm 24 tiếng mỗi ngày và chánh niệm không bao giờ có mặt trên vùng ý thức, nhưng trong tâm ta lúc nào chánh niệm cũng nằm trong tàng thức dưới dạng một hạt giống. Cái kho tàng ta thường đi kiếm nó nằm ngay trong tâm của ta mà ta không hay. Chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình chỉ là người bần cùng, suốt đời đi cầu xin một chút tình thương, một chút hiểu biết, một chút giác ngộ của bụt, còn chính ta thì không có gì cả. Vì vậy mà bụt nói kinh pháp hoa để giúp ta đánh tan mặc cảm thấp kém đó. Kinh dạy rằng trong tâm ta có đủ kho tàng của giác ngộ, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc, đừng tìm kiếm đâu xa. 

Hỡi người giàu sang bậc nhất

Tha phương cầu thực xưa nay

Hãy thôi làm thân cùng tử

Về đây tiếp nhận gia tài

Ngày xưa có một vị bồ tát vì thấy đượ ccais phật tánh trong mọi người là một sự thật nên ngài phát một hạnh nguyện rất lớn. Ngài thường làm một việc rất bình thường và vì công việc đó mà ngài thường bị người ta la rầy, xưa đuổi nhưng không bao giờ ngài mất niềm tin. Ngài tên là thường bất khinh. Thường bất khinh là nghĩa là tôi không dám khinh ai cả, tai vì tôi biết mỗi người đều có khả nawg tính thành phật. 

Một khả năng tính nữa là khả năng tính hạnh phúc, một khả năng rất quí giá trong đời sống hàng ngày. người có khả năng hạnh phúc thì sống trong điều kiện nào cũng có thể có hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. được sống chung với một người như vậy là ta có phước lắm. Khi lâm vào tình trạng khó khăn, người có khả năng hạnh phúc thường có đủ khả năng tạo ra ánh sáng cùng niềm vui cho mình và cho người xung quanh. Nếu đi vào địa ngục người đó sẽ làm cho địa ngục sáng lên, làm cho tiếng cười vang lên nơi địa ngục. Những người như vậy có thật. Bồ tát địa tạng là một người chuyên đi vào những chỗ tối tăm nhất, khổ đau nhất để làm cho ánh sáng và tiếng cười có mặt ở những nơi đó. Nếu không tu tập phát triển hạt giống của hạnh phúc, không dày công vun xới khả năng tính hạnh phúc trong ta, thì làm sao ta làm được điều đó, làm sao ta đi vào được những nơi tăm tối như vậy để cứu giúp người. Khả năng tính hạnh phúc là một chất liệu tạo nguồn vui cho mọi người. Nếu trong đại chúng có một người mà trong hoàn cảnh nào cũng cười được, vui được và cũng không mất niềm tin, thì đại chúng đó đã được hưởng rồi, huống hồ khi trong đại chúng có được nhiều người như vậy. Thử hỏi ta có phải là một người như vậy hay không. Mới nhìn vào vùng ý thức, ta hơi nghi ngờ cái khả năng của mình. Nhưng như vậy là ta đã mang cái mặc cảm thứ ba, mặc cảm thua kém. Ta phải theo gương bồ tát địa tạng, bồ tát thường bất khinh nhìn sâu vào tàng thức và công nhận các khả năng tính của ta, công nhận ta có thể có hạnh phúc được. Muốn dễ dàng có hạnh phúc, trong đời sống hàng ngày ta phải tu tập và phát triển cái hỷ tính của mình. 

Tất cả đều tùy thuộc vào cách ta tiếp xử với hoàn cảnh. Nếu có khả năng hạnh phúc thì trong điều kiện nào ta cũng có thể tạo dựng được hạnh phúc cho ta và cho những người chung quanh. ngược lại, nếu không tu tập và cứ nghĩ rằng hoàn cảnh này không tạo được niềm vui cho ta, ta phải đi kiếm một hoàn cảnh khác, thì ta luôn luôn lmaf tăng thân cùng tử làm thân của một cô hồn lang thang. 

Vậy thì hoàn cảnh nào là hoàn cảnh lý tưởng của ta. Thật ra thay vì thắc mắc như vậy, ta phải tự hỏi: ta có khả năng có hạnh phúc hay không. nếu có thì trong hoàn cảnh nào ta cũng tạo được hạnh phúc cả. Sống tại đây ta cũng thấy vui, ở úc hay mỹ cũng vậy, mà ở vn ta cũng tìm được hạnh phúc như thường. sống ở đâu ta cũng có hạnh phúc, đó là hờ trong khi tu tập ta cắm rễ được trong giây phút hiện tại, và lấy tất cả những điều kiện trong giây phút hiện tại làm nền tảng cho sự sống, cho niềm vui của ta. Trời nắng ta vui, trời mưa ta cũng thấy hạnh phúc. trời mưa là một trong những yếu tố không thể thiếu trên quê hương đích thực của tôi. Nếu sanh qua nước bụt A Di đà ma fkhoong có trời mưa thì tôi sẽ thấy thiếu thốn vô cùng, tôi sẽ thấy rằng cõi tịnh độ của ngài chưa được toàn hảo và thế nào tôi cũng năn nỉ bụt cho mưa mỗi ngày một lần, cho nắng mỗi ngày một lần, cho cõi bụt có cây chanh, cây khế, cây mận, cây trúc, cây đào. 

Tuy nhiên, mình đâu cần phải đi đâu, đâu cần du lịch về tương lai hay quá khứ mới có những điều đó. Những cái thuộc về quê hương đích thực của ta nó đang có mặt ngay ở đây và trong giờ phút này, chỉ vì ta không có khả năng tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc, chỉ vì ta đang làm thân cùng tử, đang làm người hành khất, chỉ vì ta khoonng có khả năng an trú trong hiện tại cho nên ta chưa thấy thỏa mái đó thôi. 

Bốn lãnh vực của chánh niệm

Niệm có nhiều nghĩa, nghĩa đầu tiên là nhớ lại.  phần trên của chữ niệm là chữ kim có nghĩa là bây giờ, phần dưới có chữ tâm, tức tâm của ta. Vậy trước hết niệm có nghĩa là cái tâm của ta ngay trong lúc này. Một điều gì ta đã quên, bây giờ nó trở về trong giây phút hiện tại thì goi là hớ. Ức niệm. Nói về nhớ, ta có nhiều thứ và nhiều cách để nhwos. Chẳng hạn ta nhớ những việc đã qua nhứ nhớ đến những khổ đau, những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ, và trong khi nhớ ta có thể đánh mất mình, có thể chìm đắm trong những kỷ niệm khổ đau, hay hạnh phúc trong quá khứ. Cái đó cũng là niệm nhưng hoài niệm. trong giáo pháp bụt dạy, những sự nhớ nghĩ như vậy là tà niệm, vì ta tự đánh mất mình trong lúc nhớ, nên nó không phải là chánh niệm. 

Khi nghĩ tới tương lai, ta lo lắng, thao thức, chìm đắm trong tương lai thì điều đó cũng là một loại niệm, nhưng nó được gọi là vọng niệm. 

Ngay cả trong hiện tại nếu ta bị lôi cuốn bởi những hình sắc, những âm thanh, tâm ta không tự chủ được, không an trú được trong cái thấy chân thật về thực tại, thì tuy thuộc hiện tại, nhưng nó cũng không phải là chánh niệm. Ví dụ khi ăn bánh hay cà rem, ta có hạnh phúc trong khi ăn. Nhưng nếu quên rằng ăn những thứ đó nhiều quá, sẽ nguy hại cho thân và tâm của ta, thì tuy đang sống trong hiện tại, nhưng ta đang không sống trong chánh niệm mà đang sống trong thất niệm. Cho nên không phải khi tiếp xúc được với những gì trong hiện tại thì gọi là chánh niệm. Tiếp xúc mà bị lôi cuốn bởi những cái trong hiện tại thì đó gọi là tà niệm. Bởi chánh niệm cho ta thấy rằng ăn cà rem nhiều như vậy thì nguy quá. Ăn nửa ly hay một ly đều biết rằng ăn nửa ly hay một ly thì không đến nỗi nào tức là lúc đó ta có thực tập quán ăn uống chừng mực. Nhưng ăn tới ly thứ hai mà vẫn không có sự soi sáng, thì rõ ràng ta đang bị cà rem nó kéo đi. Như vậy tuy gọi đang sống trong hiện tại nhưng kỳ thực ta đang bị hiện tại kéo đi, ta không có tự chủ. Điều đó gọi là thất niệm. Thất niệm là đánh mất chánh niệm. Chánh niệm là không bị lôi cuốn và chìm đắm trong quá khứ, không bị lôi cuốn và chìm đắm trong tương lai, cũng như không bị lôi cuốn và chím đắm trong hiện tại. Sống mà có sự tỉnh thức thì mới gọi là sống trong chánh niệm. 

Chánh niệm có bốn lãnh vực: lãnh vực của thân, của thọ, của tâm và của pháp. 

1. Khi biết những gì đã xảy ra trong cơ thể của ta, ví dụ khi ta ngồi, ta biết ta ngồi, khi cúi xuống, biết ta cúi xuống, khi đi biết ta đi, khi đau bụng biết ta đau bụng, gan yếu, biết gan ta yếu, thì những cái thấy và biết đó được gọi là thân niệm. Quán chiếu về cơ thể và vệ sự vận hành sinh lý của cơ thể thì gọi là thân hành niệm. Kinh thân hành niem dạy rất rõ về những phép quán chiếu này. 

2. Khi nhận diện được những cảm thọ của ta như vui, buồn, dễ chịu, khó chịu, hay không vui buồn, không dễ chịu, không khó chịu thì gọi là thọ niệm. Thọ là một trong 51taam hành của ta. trong tàng thứ ta có 51 hạt giống gọi là 51 tâm hành. Trong đó niệm là một, thất niệm là hai, thọ là ba, tưởng là bốn, xúc là năm và thọ thọ được liệt kê riêng ra như một đối tượng đặc biệt của chánh niệm vì thọ là một tâm hành rất quan tọng

3. Còn 50 loại tâm hành khác được liệt kê vào phạm trù thứ ba gọi là tâm. còn gọi là tâm hành. Khi buồn, khi vui, mà ta biết ta đang buồn, đang vui thì cái biết đó gọi là tâm niệm. Quán chiếu về tâm tư và về sự vận hành tâm là gọi là tâm hành niệm. 

4. Lĩnh vực thứ tư là pháp, tức là những đối tượng của tâm hành. Có tất cả là 51 tâm hành. Mỗi tâm hành đều có đối tượng riêng của nó, nghĩa là ta cũng có 51 pháp. Ví dụ giận là một tâm pháp, 

ta phải nắm rõ kiến thức nà. Để dễ hiểu ta hình dung hình vẽ một trái quít có 5 múi. trái quít này đem ví với năm yếu tố làm ra con người ( năm uẩn)(. múi đầu là sắc, nghĩa là thân ta, múi thứ hai là thọ, tức là cảm thọ của ta, múi thứ ba là tưởng ( tri giác cũng là 1 trong 51 tâm hành) múi thứ tư là tâm hành, 

Thọ tưởng và hành thường xuất hiện trong phòng khách.. khi ta buồn vui thương ghét nhớ quên... thì tấ cả những tâm hành đó phát hiện trên ý thức. khi không có mặt trong phòng khách, chúng nằm nghỉ ở tàng thức dưới dạng hạt giống. vì vậy đây có nghĩa là tàng thức và thọ tưởng hành là nội dung của ý thức. 

Một trong những phouwng pháp để tránh khó khăn là ta nên tỉnh táo để mời thêm một người bạn biết tiếp khách, người bạn chánh niệm tới để soi sáng, vỗ bề và chăm sóc người bạn kia. Cũng như khi đứa con khóc thì bà mẹ dù đang ở dưới bếp cũng chạy lên ẵm lấy con. Vì vậy mỗi khi ta buồn chán, giận ghét ta phải mời người bnaj chánh niệm lên để ôm lấy cái buồn cái giạn, cái ghét, cái chán đó mà an ủi chuyển hóa chúng. Tu tập nghĩa là luôn mời chánh niệm lên để ý thức được ai đang ở trong phòng khách và phải tiếp xử như thế nào để cho cái phòng khách của ta nó đẹp, nó vui hầu ta luôn luôn có hạnh phúc. 

Bốn ý nghĩa của niệm. 

Niệm là một trong 51 tâm hành và được gọi là tâm sở niệm. tâm sơ rniemej có thể là niệm. 

Kể đến niệm còn có nghĩa là chánh niệm, nó tương đương với đức bụt tiềm tại trong ta. đây chính là phật tánh ở trong ta, và là một trong năm lực

nghĩa thứ ba của niệm là khoảng thời gian ngắn nhất, như sát na. Ví dụ trong văn cảnh sách qui sơn có câu. 

niệm niệm tấn tốc, nghĩa là sát na này nói theo sát na kia, thời gian đi qua rất mau. 

Chuyển tức tức thị lai sainh, thay một hơi thở là đã đi sang đời mới rồi. 

Hà nại yến diên không quá, vì vậy không nên chần chờ để cho thời gian trôi qua. 

Trong mỗi niệm có thể có những cảm thọ, nhiều tri giác. Thành ra niệm còn có nghĩa là khoảng thời gian chứa đựng nhwungx cảm thọ những tri giác. 

Thứ tư, niệm còn có nghĩa là tà niệm. tà niệm tức là tri giác sai lầm. Nghĩa này mới phát sanh, không phải có từ thời bụt còn tại thế. Vào đời đường, trong khi thiền tông rất huwgn thịnh, có hai thầy tên là vô tướng và vô trú. Thầy vô tướng ở chùa tịnh chúng. 

Vốn liếng của người tu là cái năng lương của chánh niệm, một nguồn năng lượng giúp ta có mặt, tỉnh táo để thấy được cái gì đang xảy ra để giữ được sự tự do của ta và không bị cái đang xảy ra cuốn theo. Vì vậy phương pháp tu tập chánh niệm là phương pháp an toàn và cụ thể nhât.s 

Ba loại năng lượng của chánh niệm. 

Trước hết, năng lượng của chánh niệm giúp cho ta có mặt đích thực bây giờ và ở đây, nhờ vậy mà ta có thể trở về với quê hương của mình được. Chánh niệm tức là phương tiện chuyên chở, giúp ta trở về quê hương của mình. Đã về, đã tới và về được , tới được là nhờ chánh niệm. Năng lượng thứ hai của chánh niệm là công nhận sự có mặt của đối tượng. Nếu không có mặt thì làm sao ta công nhận sự có mặt của kẻ kia được. phải có mặt trước thì ta mới nói được rằng tôi biết anh đang ngồi đó. thở vòa, tôi biết là tôi có mạt ở đây, thở ra tôi biết là anh đang ngồi đó, trước mặt tôi. nội một hơi thở như vậy thôi đã có thể đem lại cái khả năng tỉnh thức, hiểu biết, thương yêu rồi. Mà thương yêu là gì? thương yêu là công nhận sự có mặt của con sâu, tờ lá, mặt trăng, cây khế, hay của bà mẹ, người anh, người chị. 

Nếu không có mặt thì làm sao ta bước được bước thứ hai là công nhận sự có mặt của kẻ kia. cho nên khi nhìn lên mặt trăng rằm mà nhìn bằng con mắt có năng lượng của chánh niệm thì mình thấy được mặt trăng tròn, sáng và mát. Mà sở dĩ mặt trăng có mặt một cách hiện thực, rõ ràng, tươi mát, là tại vì ta có mặt. Ngược lại nếu ta đánh mất ta trong sự lo nghĩ, giận hờn thì làm sao mặt trăng đó tươi mát được. Có mặt đích thực mới thấy được ngôi sao mai, và mới nói được với thị giả. này con , con có thấy ngôi sao mai không. người học trò của mình có mặt và ngôi sao trên trời cũng có mặt, là nhờ mình có mặt. cho nên khi ta vun bón hạt giống chánh niệm, thì hạt giống chánh niệm tạo ra một nguồn năng lượng để giúp ta có mặt đích thực. 

Hai bước của thiền tập

Thiền tập có hai bước, bước đầu là chỉ, bước thứu hai là quán. Chỉ tức là dừng lại và tập trung vào một đối tượng. Quán là dưa mắt nhìn xâu vào để thấy rõ như nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ em, nhìn kỹ cây hoa đào, nhìn kỹ mặt trăng, nhìn kỹ con sâu, nhìn kỹ lá gan của mình. Nhìn kỹ trong bốn phạm vi thân , thọ, tâm pháp, gọi là tứ niệm xứ. Khi nhìn kỹ như vậy thì ta mới thấy và mới hiểu. Cái hiểu, cái thấy đó cởi trói giúp cho ta giải thoát và chuyển hóa. Những bước thiền tập đó sẽ dẫn đến tuệ. 

Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa

Vườn tâm tuệ giác nở trăm hoa. 

Thành ra những từ giác, trí, tuệ có thể dịch bằng danh từ đơn giản như là thiểu và thấy. 

Con người khổ đau là tại vì cái tà niệm, cái vọng niệm, cái tri giác sai lầm của mình. Khi nhìn sâu, quán chiếu để làm tan những vọng niệm, những sai lầm của tri giác, thì ta có tuệ, nghĩa là giải thoát được những khổ đau của ta. Ta giận hờn, ghen tuông và khổ đau là vì ta bị trói buộc bởi những tri giác sai lầm của chính ta. Do công phu quán chiếu, nhìn sâu thì ta hiểu, ta thấy và ta được cởi trói, cho nên ta chuyển hóa được và có hạnh púc. Tất cả những công trình đó thực hiện được là nhờ một loại năng lượng gọi là chánh niệm. NGoài công việc thực tập hơi thở chánh niệm, thực tập, đi đứng nằm ngồi làm việc trong chánh niệm, thực tập ăn cơm có chánh niệm, uống trà có chánh niệm, thì ta đâu còn cơ hội nào để sản xuất được thứ năng lượng quí giá gọi là chánh niệm đó. Cho nên công phu thực tập hàng ngày rất quan tọng. Có thể ta cũng đi thiền hành với mọi người, cũng ăn cơm yên lặng, ngồi thiền, rửa bát, chùi phòng tắm, cầu tiêu với mọi người, nhưng nếu trong khi người khác làm công việc đó mà phát ra tinh lực chánh niệm tràn đầy, còn ta chỉ làm hình thức thôi thì đó là một điều rất uổng phí. Đi thiền hành nửa giờ có thể làm lưu xuất không biết bao nhiêu là tinh lực của chánh niệm để nuôi dưỡng, soi sáng và chuyển hóa. Nếu chỉ đi cho có hình thức, đi là vì người khác đi, thì rất uổng. Cũng như cùng đi qua một rừng trầm hương châu báu, có người thu thập được rất nhiều châu báu, trong khi ta lại về tay không. Vì vậy khi vòa tu viện, chúng ta nên học ngay những bài thi kệ nhật dụng. 

Diệt tam mạn là giải thoát tử sinh. 

Kiến đắng, thắng, liệt giả nghĩa là có kẻ bằng mình, hơn mình, thua mình, giả ở đây là kẻ, là người tắc hữu ngôn luận sinh thì phát sinh những tranh luận. Nên biết rằng chữ ngôn luận ở đay không phải chỉ là lời nói, mà tư lượng ở trong tâm của ta cũng là một thứ ngôn luận. Tâm ta có sự kỳ thị, sự ganh tị, sự cao ngạo, sự chê bài tất cả những cái đó đều là ngôn luận.  Tam sự bất khuynh động sự là cái việc, ở đây tạm sự là ba mặc cảm. Nếu ta không bị lay động bởi ba mặc cảm, ba tư tưởng đó, Tắc vô nhuyến trung thượng, thì ta không còn cái ý niệm kém người, bằng người hay hơn người nữa. Chữ nhuyến cũng có nghĩa là mềm. Đọc là nhuyến nhưng nghĩa của nó cũng như chữ nhuyễn. Nhuyễn có nghĩa là yếu ớt, mềm yếu, hèn nhát, vô dụng. 

Thắng mạn, tức là mặc cảm hơn người, đẳng mạn là mặc cảm bằng người. cập bất như mạn là mặc cảm không bằng người. tinh có nghĩa là và, cập có nghĩa là và, nó còn có nghĩa là với tới, theo kịp, theo bằng. Chúng ta hay nói khi thái quá, khi bất cập. Thái quá tức là đi quá đà, bất cập là chưa tới bằng. Cập bất như tức là chưa bằng người, nghĩa là cái mặc cảm không bằng người thua người. Hữu thử tam mạn giả là ba cái mạn này thử nghĩa là này. Thị khả hữu tranh luận nghĩa là cái đó có thể tạo nên sự tranh luận. Tranh luận bên ngoài * lời nói, hành động và tranh luận bên trong ( tư tưởng, cảm nghĩ). 

Từ ba cái mặc cảm này phát sinh ra nhiều tai nạn: giận hờn, ganh ghét, ghen tuông, tủi hổ... chỉ cần tủi thân thôi cũng có thể đưa đến chán đời tự tử rồi. 

Diệt trừ thử tam mạn nghĩa là diệt trừ ba ái mạn này rồi. Thị danh bất động tưởng tưởng tức là tri giác, nghĩa là đạt tới cái tri giác gọi là bất động, tức là không bị những mặc cảm, những giận hờn, tủi hổ và chán đời làm cho mình khuynh động, ngã nghiêng. Mình đứng vững như một gốc đại thụ. Bất động có nghĩa là vững chãi và thảnh thơi. Bất động la fmootj trong những thuộc tính của Niết Bàn. 

So sánh hai bản dịch ta thấy bản dịch của tạp a hàm, ngắn hơn, chỉ có bốn câu, nhưng bản dịch của biệt dịch tạp a hàm dễ hiểu hơn. Bên tạp a hàm, hàng đầu liệt kê cả ba thứ mặc cảm: kiến đẳng, thắng, liệt giả. Mỗi thứ chỉ dùng mọt chữ thôi: đẳng, thắng, liệt. Cố nhiên là nó đầy đủ ý nghĩa, nhưng bên biệt dịch tạp A hàm nêu rõ từng mặc cảm bằng nhiều chữ. thắng mạn, cập đẳng mạn, tinh cập bất như mạn, cho nên rõ ràng hơn. Tôi dịch bài kệ trong biệt dịch tạp a hàm. 

Mặc cảm ta hơn người

kém người hoặc bằng người

kẹt trong ba tưởng ấy

là vướng vòng tranh chấp

diệt trừ được cả ba

là đạt tới bất động

Cố nhiên hạnh phúc sẽ không có được nếu ta còn kẹt vòa trong vòng tranh chấp. Chữ tranh chấp hay hơn chữ tranh luận. Tại vì tranh chấp có thể bằng ngôn ngữ, bằng tư tưởng, mà cũng có thể bằng hành động, còn tranh luận thì ta có thể hiểu nó chỉ thuộc phạm vi ngôn từ mà thôi. 

Trong những bìa kệ này, ta thấy đức thế tôn chỉ giáo hóa trong phạm vi hạnh phúc, tại vì kinh tam di đề là một kinh nói về hạnh phúc chân thật. Khởi đầu đức thế tôn nói về nhận thức sai lầm, ý niệm sai lầm của ta về hạnh phúc. ngài nói rằng vì chưa biết được bản chất của những đối tượng tham dục, nên ta mới nhận lầm đó là hạnh phúc đích thực. Nếu quán chiếu và thấy được bản chất đích thực của chúng, thì sẽ thấy rằng đó chỉ là những tư tưởng kéo ta đi vào những nẻo đường tăm tối, luân hồi, khổ đau mà thôi. Thấy được như vậy thì không có cái vọng tưởng nào, không có một vị thiên giả nào có thể lôi kéo ta đi theo cái ý niệm hạnh phúc giả tạo được. Sau đó, Đức thế tôn dạy rằng vượt được những mặc cảm hơn người, bằng người thua người, thì những pheiefn não như ganh tị, giận hờn, sẽ tan biến, và lúc đo smowis có hạnh phúc thực sự. 

Bảy loại mạn

Chúng ta thấy ý niệm hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân rất đúng. Cá nhân tức là có một cái ngã, có một cái thực tại riêng biệt. Nếu mình đi tìm hạnh phúc cho cái ngã riêng biệt đó, thì không bao giờ có thể tìm được. Sự an lạc của những người chung quanh phải là sự an lạc của mình thì sự an lạc đó mới là an lạc thực sự. Sự sống là một, không thể chia năm xẻ bảy ra thành từng mảnh vụn, để từng mảnh điểm tìm hạnh phúc riêng. Muốn rõ hơn ta phải đi sâu vào giáo lý bụt dạy về mạn. Ta thấy có ý niệm về bảy mặc cảm đó vì khi dùng danh từ phật học mà không biết rõ ý nghĩa đích thực của danh từ thì ta dùng sai. Ví dụ khi nói rằng: anh chàng đó ngã mạn quá, ta có ý nói rằng anh tđó tự cho mình là hơn người. Thật ra cái chữ ngã mạn nó không chỉ có nghĩa cho mình hơn người mà thôi. Cho mình thua người cũng là ngã mạn, mà cho mình bằng người cũng là ngã mạn. 

Thứ nhất là mạn. Đối với người mà địa vị, gia tài, danh tiếng hay học thức thua mình mà mình có ý tưởng rằng người đó thua mình, người đó học dở hơn mình, người đó thuộc về hàng quí phái bằng mình, người đó không văn minh bằng mình, người đó tu học chậm, mình  thu thập giỏi hơn, mình thực tập lâu ngày hơn, mình thông minh hơn, mình biết nhiều ngoại ngữ hơn... cái dó là mạn. Điều này chúng ta kẻ ít người nhiều ai cũng đều bị kẹt vào cả. Cái tư tưởng đó nó phát xuất từ cái ý niệm mình với người kia là hai người khác nhau. Khi mình thấy người đó là người anh em, người chị em cùng sống với nhau, cùng thực tập trong một tăng thân thì tự nhiên mình thấy người đó là mình mình là người đó. Những cái yếu của người đó, mình có trách nhiệm, và những ccais gì mình đã đạt tới, mình có bổ n phận phải trao quyền, phải giúp đỡ người đó để cho hai người là một, cùng đi trên một con đường, thì lúc đo sminhf mới thoát được cái mạn thứ nhất. 

Thứ hai là quá mạn. quá mạn có nghia xlaf đối với những người tương đương với mình, học cũng tương đương, tu tập cũng tương đương, bên tám lạng, bên nửa cân mà mình lại cho mình hơn người đó. Điều này nó cũng phát sinh từ sự phân biệt giữa mình và người la fhai thwujc thể khác nhau. chúng ta là một không ai hơn ai, không ai bằng ai, không ai thua ai.

Mạn thứ ba là mạn quá mạn. đối với những người có đức độ hơn mình, tu học hơn mình có tài năng hơn mình, có trí tuệ hơn mình mà mình lại cho mình hơn người đó thì gọi là mạn quá mạn. 

mạn thứ thư là ngã mạn. đây là mạn gốc bởi nói làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. chúng ta nhận lầm những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức là một cái ngã biệt lập với những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức khác. chúng ta thowngf bị kẹt trong ba ý niệm. ý niệm về ngã, ý niệm về ngã sở, và ý niệm về tương tại. Ví dụ sắc là một trong năm uẩn

- khi ta nói thân thể này là tôi. tôi đã bị kẹt vào ý niệm về ngã

khi ta nói thân này không phải là tôi, nhưng nó thuộc về tôi tức là ta bị kẹt vào ý niệm dị ngã hay ngã sở

trường hợp thứ ba, khi ta nói thân này và tôi là cái khác nhau nhưng trong thân có tôi và trong tôi có thân, tức là ta bị kẹt vào ý ý niệm tương tại

Cả ba ý niệm đều thuộc về ngã mạn. K

Tăng thượng mãn : chưa đạt được sự chứng đắc mà mình tuyên bố rằng mình đã có sự chứng đắc

Ty mạn. 

Phải thôi hy vọng mới có hạnh phúc chân thực. 

Tuyệt hi vọng, tuyệt có nghĩa là chấm dứt, hi vọng là sự chạy theo, sự tìm cầu, Ta nên biết rằng đây là văn xưa, ngày nay ta dịch là nguyện. vô nguyện là một trong thoát môn. vô nguyện hay vô tác. Hai giải thoát môn kia là không và vô hướng. Vô nguyện tức là không đặt mình trước một đối tượng của sự tìm bắt, dầu đối tượng đó là bằng cấp, là mỹ nhân hay là danh hoặc lợi. Không chạy theo tiếng phạn là apranihita, nghĩa là không đặt mình trước một đối tượng để chạy theo. Chừng nào mình không chạy theo một điều gì nữa hết, thì chừng đó mình mới thực sự có hạnh phúc. Chừng nào mình còn chạy theo một cái gì thì chừng đó mình còn nói rằng ta chưa có hạnh phúc, những điều kiện có trong hiện tại không đủ để ta có hạnh phúc nên ta phải đi tìm. Hạnh phúc đích thực là khi ta không còn chạy tìm nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tất cả những điều kiện sẵn có của hạnh phúc tôi đã có ở đây và bây giờ. Chỉ khi nào đạt tới cái nhận thức như vậy thì mới có hạnh phúc thật sự. 

Trong đạo cơ đốc, giáo lý về hy vọng đóng một địa vi quan tọng. Hy vọng một niềm hạnh phúc trong tương lai, cho nên người ta có nghị lực để chịu đựng cái khổ đau ở hiện tại. Ráng lên, ráng lên. Ngày mai, ngày mốt mình sẽ hết khổ mình sẽ về nước chúa. Như vậy điều căn bản của giáo lý đó là công nhận hiện tại chỉ là khổ đua, cho nên đi ngược lại với giáo lý đạo bụt. Hạnh phúc có thể tìm được trong hiện tại. Đây là đặ cthuf của đạo bụt. các tôn giác khác thường treo cái hy vọng được cứu chuộc trong tương lai. trong khi đạo bụt dạy ta phải chấm dứt cái đó, phải trở về khai thác mảnh đất hiện tại cho thật sâu sắc. Ly kết tuyệt hy vọng. danh từ rất mạnh lối dùng chữ rất hùng vĩ. 

Làm được những điều đó thì bất kiến ư nhân thiên, không thấy mình trôi nổi, vào ra, bập bềnh trong cõi nhân và cõi thiên. Thử thế cập tha thế, đời này và cả trong tương lai mình không còn là con người đi lang thang luân hồi nữa. 

Không phải trong cõi người ta mới bị hệ lụy, mà trong cõi trời ta cũng bị hệ lụy luôn. Hệ lụy là vì sao? Vì sự chạy tìm của ta, vì nhưng xphieenf não như sân hận, ganh tị, thèm khát, giận hờn trong con người của ta. Những cái đó được chuyển hóa là nhờ ở sự thực tập diệt trừ những ý niệm, vọng tưởng sai lầm về hạnh phúc, về thực tại, vượt được những ý niệm về ngã, giải thoát khỏi những sợi dây ràng buộc thì tự nhiên ta đạt tới giải thoát và không còn thấy mình quanh quẩn, luân hồi, khổ đau trong cõi người và cõi trời nữa. 

Bước sang bài kệ trong biệt dịch tạp A Hàm, đoạn ái cập dnah sắc, diệt trừ tam chủng mạn nghĩa là đoạn trừ ysn iệm về ái và về danh sắc, diệt trừ ba loại ngã mạn. Bất xúc ư chư dục là không tìm tới những đối tượng mà ta gọi lầm là hạnh phúc. Diệt trừ những tâm niệm phiền não trong lòng như sân nhuế. Bạt trừ chư độc căn, Bạt tức là nhổ lên, trừ diệt tận gốc. Chư độc căn là những cái gốc làm độc ở trong con người ta. Những độc căn đó là tham, sân, si, ganh tị, tranh đua. Bạt trừ chư độc căn, tức là nhổ trừ cho sạch những gốc rễ của các chất độc ở trong con người của ta. Chư tưởng nguyện dục tận là những cái vọng tưởng, những cái hy cầu, những cái tham dục đã chấm dứt rồi. Nhược năng như thị giả, nếu có thể làm được như vậy, thì đắc độ sinh tử hải. Nghĩa là có thể vượt qua được biển sinh tử. Đắc độ sinh tử hải nó hay hơn. Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế. Bất kiến ư nhân thiên thử thế cập tha thế la fmoojt hình tượng được lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều kinh kahcs. Vượt thoát biển sanh tử thì ta có mặt rong cõi nhân và cõi thiên cũng không sao, chứ không phải ra khỏi cõi nhân cõi thiên mới là vượt thoát sinh tử. Bụt và các vị bồ tát cũng đã và đang có mặt trong cõi Nhân và cõi Thiên. Như vậy bài kệ này có mục đích khai triển những điều bụt đã nói trong hai bài kệ trước. Không có gì mới, nhờ vậy mà lần này vị thiên giả hiểu được . Nghe pháp thoại cũng vậy, đề tài nghe rồi nhưng nghe nữa, rồi nghe nữa, thì có lúc sẽ thấm. 

Hạnh phúc và khổ đau có tính chất tương tức

Theo cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là những điều không phải là khổ đau. Hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận của tâm tư ta. Nhưng theo ngueyen tắc tương tức của bụt dạy thì hạnh phúc à khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. 

Hạnh phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc. và hạnh phúc cũng vô thường nên có thể trở thành khổ đau. đó là cái nhìn tương tức trong đạo bụt mà chúng ta phải nhớ. Vì vậy ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh phúc và khổ đau làm hai thực thể riêng biệt, là chúng ta đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. 

Như vậy nếu đã từng khổ đau thì với những chất liệu khổ đau trong người, ta có thể tu tập để biến chúng thành chất liệu hạnh phúc nhưng năng lượng tích cực của cuộc sống. Còn nếu hiện tại đang có hạnh phúc mà ta không biết bảo trì, ta dẫm lên hạnh phúc mà đi trong đời sống hàng ngày, thì nó sẽ biến thành khổ đau. Vì vậy cho nên ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức, cái này chứa cái kia. Tính cách tương tức này thể hiện trong mọi ý niệm, mọi thực tại của cuộc sống hàng ngày. 

Trong kinh samiddhi Bụt có nói tới ngũ dục tức là năm ý niệm về hạnh phúc như là phải có thật nhiều tiền, phải có danh vọng cao.. Nhiều người trong chúng ta bị kẹt vào những ý niệm đó. Làm sao để có cái này, làm sao để có cái kia, nếu không có cái này cái kia thì hạnh phúc không thể có được. Hầu hết chúng ta đều chạy theo những đối tượng như vậy. Chúng chỉ là bóng dáng củ hạnh phúc, là ý niệm về hạnh phúc ma fkhoong phải là hạnh phúc chân thật. Ý niệm đó có thể là danh , lợi, tài, sắc. Ý niệm đó có thể là môt thiên đường hay một đời sống sung túc giàu có. Tất cả những ý niệm đó Bụt gọi là những cái bẫy sập. 

Hành trì giới luật sẽ không vướng vào bẫy sập. 

Trong bài giảng của khóa tu mùa hè năm nay tôi có nói rằng nếu quí vị cảm thấy cô đơn thì có thể sự cô đơn đó phat sính từ nguyên nhân quí vị không hành trì năm giới. Tôi đã đưa ví dụ giới thứ ba là giới tà dâm. Ban đầu mình cô đơn và nghĩ rằng có liên hệ với người khác phái sẽ igups mình ấm áp, bớt cô đơn. Rồi từ đó đi đến chuyện chung đụng thân xác. Nhưng ai ngờ những kinh nghiệm chung đụng xác thân đó, niềm cô đơn của mình lại lớn lên gấp bội. Đó là vì khi không có sự đối thoại và thông cảm giữa hai tâm hồn mà lại có sự giao tiếp giữa hai thân xác, thì sự giao tiếp này sẽ đào thêm cái hố ngăn cách và tạo thêm nỗi cô đơn. Sau đó hai tuần, tôi nhận được bức thư của một thiếu phụ người Tây Phương nói rằng. Bạch thầy, điều thầy nói không có gì đúng hơn nữa, con đã đi qua kinh nghiệm đó. Có một lúc con cảm thấy cô đơn, con đi tìm sự ấp ủ, sự ấm áp, con khám phá ra rằng càng ngày niềm cô đơn của con càng lớn. Sự xa cách của con với loài người với xã hội càng ngày càng lớn là tại vì con đã đi lầm đường. 

Đó mới chỉ là một trong năm giới. Bốn giới kia cũng vậy. Khi không hành trì các giới, ta dễ bị sập vào bẫy ái dục, bẫy danh lợi, bẫy ý niệm về hạnh phúc, và ta sẽ khổ đau nhiều. Nếu có hành trì, năm giới ta mới biết cách phá lưới mà ra, biết cách lấy lại tự do. Tự do ở đây khôn gphair là tự do chính trị mà là tự do đối với những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc. Mình đòi hỏi phải có điều kiện này, điều kiện nọ. thì hạnh phúc mới có thật. Cái ý niệm về hạnh phúc đó  chính là cái  ngục tù giam hãm mình. Bỏ ý niệm đi thì khung cửa tự do sẽ mở rộng và hạnh phúc thật sự sẽ hiển bày ngay trong giây phút hiện tại. Tự do có khi được gọi là thảnh thơi và đó là một trong hai đặc tính căn bản của niết bàn. Vững chải dịch ra tiếng anh là stability solidity. Nếu trong ta không có hai yếu tố vững chãi và thảnh thơi thì hạnh phúc không phải là hạnh phúc đích thực. 

Tăng thân đồng hoàn cảnh mới giúp ta thoát được bẫy sập. 

Khi một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng vẫn rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với ngũ dục cũng vậy. Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất khó thoát ra. Chẳng hạn như khi nghiện ma tý, nghiện rượu, nghiện sắc dục hay là nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có tiền ít thì muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn nữa, giống như  người khát nước ngoài biển khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi thì rất khó thoát ra. Nhất là khi mình phải đơn phương tranh đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ dục và nghiện ngập thì thaamjj nan, vạn nan. Sở dĩ như vậy là vì mình đã nhiễm vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống như ngựa theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu được rằng điều đó là có hại, là không nên làm, nhưng ta vẫn ngựa theo lối cũ như thường. Thành ra nếu đến người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: Anh ơi! anh không nên sử udngj ma túy tại vfi nghiện ma túy thì thân anh sẽ tan nát, công danh sự nghiệp của anh sẽ tan nát gia đình anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên tiếp tục con đường này nữa thì vô ích lắm. Tại vì chính người ngày cũng biết điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa, nhưng họ không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy sập được. Vì vậy chúng ta đừng đến để dạy luân lý, đạo đức cho họ

Tuệ giác giúp chúng ta giải thoát kiến thức làm ta tự hào

Tối biết những ý niệm về hạnh phúc, vê ngũ dục là những cái bẫy sập vì vậy cho nên tôi không phí tuổi trẻ của tôi để sa vào những cái bẫy sập đó. Tôi đi tìm hạnh phúc trong giây phút hiện tại là vì pháp của đức thế tôn là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, nó vượt tính cách thời gian, bó bảo đảm sự tự do cho mình, nó cho mình sự vững chãi. 

Gooxc rễ của mình. Nơi nương tựa này là con đường tu học mà đức thế tôn đã bày ra, tức là pháp. Thầy samiddhi đã nói tới nguyên tắc hiện pháp lạc trú: Tôi đi tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đay, tôi không bị sập vào bẫy của những ý niệm hạnh phúc, tôi đi tìm hạnh phúc chân thật trong sự sống, trở về với hiện tại và pháp của bụt là ngọn đèn soi sáng cho tôi, giúp tôi tiếp xúc với thực tại mà không làm cho tôi bị rơi vào những bẫy sập của ý niệm. Thành ra khi có chỗ nương tựa tức là ta đã có một niềm tin, và có một niềm tin thì ta có hạnh phúc chân thật. Niềm tin ở đây không phải là tin vào một chủ thuyết về hạnh phúc một ý niệm về hạnh phúc. Niềm tin ở đây là một cái gì mình có thể có kinh nghiệm trực tiếp. Những người có một ý niệm về hạnh phúc ví dụ như thượng đế và họ tin vào ý niệm đó, tin vào một thiên đường tương lai, thì tuy đó cũng là những niềm tin nhưng không phải được đặt trên căn bản thực chứng trong hiện tại. 

Đạo bụt nói tới niềm tin như là một năng lượng tạo ra hạnh phúc nhưng niềm tin ở trong đạo bụt khác với niềm tin ở ngoài đời. Vì vậy ở đây ta cần nhắc lại giáo lý về ngũ lực. Ngũ lực là năm loại năng lượng làm cho ta trở nên một người sống động, có cuswcs sống với hai con mắt sáng với những bước chân chậm chãi

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

Phép lạ của sự tỉnh thức

 Thứ bảy tuần rồi, tôi có đem chuyện steve kể lại cho những người tham dự buổi giảng kinh, có một anh nói: Steve đã tìm ra nguyên tắc nhưng chưa tìm ra phương pháp. Tôi nói: tìm ra nguyên tắc được thì cũng tìm ra phương pháp được. Nếu steve tìm được hứng thú trong lúc học bài với mickey thì tức là steve áp dụng hữu hiệu một vài phương pháp nào đó mà steve đã tự tìm ra một mình. Đâu có phải chỉ có kinh quán niệm mới cung cấp được cho mình những phương pháp. Steve tuy có học phật và đọc được sanscrit, nhưng steve khôn gphair là người đã qui y. Nhưng không ai cấm người không phật tử thực hành những phương pháp phật giáo, với lại phương pháp phật giáo khôn gphair là những phương pháp duy nhất. Lại còn điều này nữa, khôn gphair chỉ những phật tử mởi tìm ra phương pháp phật giáo. Đức thích ca mâu ni, các bậc duyên giác và bích chi phật cũng đâu cso là phật tử trước khi tìm được con đường và những phương pháp đạt đạo, phải không?

Một chị nói: thế thì một hôm nào đó, mình sẽ mời steve tới nói về kinh nghiệm của steve cho mình nghe, mình có thể học hỏi những kinh nghiệm của steve. Tôi nghĩ khi chị ấy nói như thế, chị xác nhận một ddieuf quan trọng: người phật tử không nắm hết chân lý, người phật tử có thể học được kinh nghiệm của những người không phải phật tử và quan hệ hơn nữa, người phật tử có thể học hỏi phật pháp với những người không phật. 

nhưng mà steve cũng có thể áp dụng phương pháp này trong kinh quán niệm, nếu steve muốn, chắc đâu là những phương pháp mà steve tìm ra đã đủ để đưa steve tới chỗ thành công hoàn toàn. Mỗi đêm mà phải thức dậy chừng mười lần để xem thử bé zoe còn thở không, điều đó cũng hơi làm mình bực mình đấy chứ. Nhiều người mới nghe có thể gắt lên rồi,huống hồ là tự họ phải làm như steve. Biết đâu trong kinh quán niệm lại chẳng có phương pháp giúp steve xem tihf giờ ngủ và thì giờ dậy cảu bé Zoe là một. 

Công tác viên xã hội của trường chắc hẳn cũng muốn biết xem thành quả của steve đạt được lớn lao tới chừng nào, có phải không? có tác viên nào mà lại chẳng thấy thời giờ dành riêng cho mình quá ít ỏi. 

Tôi cũng là một loại tác viên. Thiều cũng là một loại tác viên. Chúng mình cùng muốn biết làm thế nào Steve đã giật được vô khối thì giờ cho Steve. Steve đã đạt được vô khối thì giờ thật chưa. Hay chỉ mới đạt trên nguyên tắc. 

Bên mỹ có một anh chàng rất thân với tôi. tên anh là jim forest. Anh ta ở trong tổ chức catholic peace Fellowship. Ngày xưa anh ta đã đốt thẻ trưng binh chống chiến tranh và đi ở tù hơn 1 năm. Hồi đó, nghe anh ta ở tù, tôi hơi ngại, bởi tánh anh ta rất hoạt động, nôn nóng muốn hành động, sợ không kham nổi sự tù túng trong phòng giam. Tôi biế cho anh một lá thư rất ngắn rằng. Hãy nếm trái quýt của anh, hãy hợp nhất với trái quýt của anh, bởi vì ngày mai trái quýt ấy không còn nữa. Tôi không ngờ câu nói của tôi có hiệu quả. Ba năm sau hồi tưởng lại chuyện ấy, jim viết: câu ấy giúp cho tôi nhiều hơn là thầy có thể tưởng tượng. Nhờ câu ấy mà tôi tìm được sự an lạc nơi lao tù, làm bạn được với lao tù và sống trong lao tù những ngày lợi lạc. Jim đã tìm được tự do trong lao tù, khôi phục được thì giờ và sự sống của mình ngay trong lao tù. Jim khá đấy chứ, phải không Thiều.

Mùa đông năm kia Jim qua đây chơi. Tôi thường hay rửa bát sau khi ăn cơm xong trước khi lên ngồi uống trà. Một tối jim đòi rửa bát. Tôi nói Rửa thì rửa nhưng phải biết cách rửa Jim nói. Bộ thầy nói toi không biết cách rửa chén hay sao. Tôi nói: có hai cách rửa chén. 

Cách thứ nhất là rửa để cho rửa xong, cách thứ hai là rửa khôn gphair để cho rửa xong. Jim thích quá nói. Tôi sẽ chọn cách thứ hai, rửa chỉ để rửa mà thôi. Từ đấy Jim hay giành rửa chén. Tôi giao trách nhiệm cho anh ta trong cả tuần. Sau đó về xứ, anh ta tuyên truyền chủ nghĩa rửa chén để mà rửa chén trong nhiều bài báo. Anh ta tuyên truyền nhiều quá, ngay cả trong gia đình mình nữa. Khiến lẩu cười bảo anh ta ở dưới bếp chỉ còn chén bát sạch, nếu anh thích rửa bát để mà rửa bát quá như vậy thì sao anh không xuống đem chén bát sạch ra mà rửa lại một lần nữa đi. 

Hồi tôi còn làm điệu tại chùa từ hiếu, cách đây 30 năm, rửa chén bát khôn gphair là một iệc làm dễ chịu lắm đâu nhé. Vào nhưng mùa an cư, hai người trực nhật phải nấu cơm và rửa bát có khi cho hơn 100 thầy. Xà phòng không có, chỉ có tro trấu và bẹ dừa mà thôi. Ngồi trước một đống chén bát lớn như vậy rất nản. Nhất là nhằm mùa đông phải nấu một nồi nước nóng khá lớn mới rửa được vì nước lạnh buốt. Bây giờ đứng rửa bát trong bếp có xà phòng nước, có nước ấm chảy dưới tay mình thật dễ chịu hơn nhiều quá. Ấy vậy mà ai đã rửa bát ai cũng muốn rửa thật mau cho xong, để mà lên ngồi chơi, có nhiều bà đòi chồng mua cho cái máy rửa chén. Thiều à. Cái máy giặt tôi còn chịu được chứ còn cái máy rửa chén thật tình tôi không chịu nổi. Các bà ở quê mình sẽ chép miệng mèng đéc ơi làm biếng đến vậy là cùng. 

theo tinh thàn của kinh quán niệm thì trong khi rửa bát mình chỉ nên rửa bát mà thôi: có nghĩa là khi rửa bát mình có ý thức được rằng sự kiện chính mình đang rửa bát mới nghe qua thì thấy buồn cười. Rửa bát thì có gì hay ho đâu mà tập trung ý lực vào đấy nhiều như thế. Nhưng quả thực tất cả sự hay ho là nằm chỗ đó nghe thiều. Sự kiện tôi đứng đây rửa và rửa những cái bát này là một sự kiện màu nhiệm. Tôi hoàn toàn là tôi, làm chủ được hơi thở tôi, ý thức được sự có mặt ý thức tâm, ý thức ý à hành động của tôi. Tôi không bị động trong hoàn cảnh như mộ cái 

Làm hòa với múi quýt

Nếu trong lúc rửa bát mà ta chỉ nghĩ tới tách trà, nghĩ là tới sự nghỉ ngơi hay bất cứ một công chuyện nào trong tương lai, và chỉ muốn cho việc rửa bát qua mau, xem việc rửa bát như một cực hình thì ta không rửa bát để mà rửa bát, ta không sống trong thời gian rửa bát, ta không chứng thật được phép lạ của sự sống trong thời gian rửa bát. 

Không biết rửa bát thì khi cầm tách trà lên, có thể tra cũng không biết uống trà. Cầm tách trà lên ta có thể chỉ nghĩ đến những chuyện khác mà không biết là ta đang nâng tách trà trong tay. Cứ như thế, ta bị thâu hút vào trong tương lai, bị con ma vị lai thâu hút hết hồn vía, đi ngang sự sống mà không sống được giây phút nào của sự sống. Câu chuyện múi quýt của Jim đã xảy ra trong trường hợp này. Có lần , lâu lắm rồi, jim ngồi ăn quýt ới tôi mà cứ phóng tưởng về công việc trong tương lai. Hồi ấy mỗi khi nghĩ tới một dự tính nào có tánh cách hấp dẫn là jim hoàn toàn bị thu hút vào đó và quên hẳn thực tại trong hiện tại. Tay jim bóc vỏ quýt và miệng jim như nhai hết vỏ quýt này tới vỏ quýt nọ. Thế mà Jim đâu có biết mình đang ăn quýt. Tôi mới nói với chàng ta. Thì anh hãy ăn múi quýt của anh đi đã. Jim giật mình thức giấc. Lúc đó anh ta đang ăn hết múi quýt này đến múi quýt khác, không ngưng. Thế mà tôi lại nhắc anh ta ăn quýt, làm như anh ta đang không ăn quýt. Mà thực ra anh đâu có đang ăn quýt. Anh ta đang ăn cái dự tính của anh ta mà. Người xưa nói tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị. ( tâm ý không có mặt, thì nhìn mà không thấy, nghe mà không rõ, ăn mà không biết mùi vị). Tâm bất tại, tức là sự vắng mặt của ý thức. Một trái quýt có nhiều múi, ăn được một múi quýt thì có thể ăn được hết trái quýt, còn nếu một múi mà cũng không ăn được, thì cả trái quýt cũng không ăn được. Jim là một anh chàng thông minh. Anh ta dừng tay lại nghe sự có mặt của múi quýt trên lưỡi mình, ăn múi quýt một cách thật đàng hoàng và gật đầu trước khi đưa tay gỡ một múi khác. Sau cùng, như thiều biết, anh ta đã cso thể xem lao tù như một múi quýt và làm hòa bình với múi quýt đó. 

Hồi tôi mới vòa thiền viện, cách đây cũng đã trên ba mươ inawm, các thầy trao cho tôi tập tỳ ni nhật dụng thiết yếu. Đây là một tập sách mỏng chừng bốn mươi trang thôi, ghi chép những ý tưởng  mà thiền sư độc thể đã dùng để thắp sáng tâm ý của ông trong mọi cử chỉ hành động. Ví dụ khi mới thức giấc vào lúc ban mai, ông cho khởi dậy ý tưởng này trong trí: vừa mới tỉnh giấc, tôi mong cho mọi người sớm đạt được trạng thái tỉnh thức lớn, hiểu biết thấu suốt mười phương. Khi múc nước rửa tay, ông sử dụng ý tưởng này để tự đưa mình về trạng thái ý thức múc nước rửa tay, tôi mong cho mọi người có những bàn tay trong sạch để đón nhận lấy chân lý. 

toàn tập tỳ ni nhật udngj thiết yếu chỉ có những câu như thế. mục đích là giúp người hành giả mới vào đạo nắm lấy được tâm ý mình. Thiền sư độc thể đã giúp cho hành giả mới vào đạo thực hiện những điều dạy trong kinh quán niệm một cách tương đối dễ dàng. Môi khi mặc áo, rửa chân, đi cầu, trải chiếu, gánh nước, súc miệng... người hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong tỳ ni nhật dụng để nắm bắt tâm ý 

Kinh quán niệm nói: khi đi hành giả ý thức rằng mình đang đi, khi dừng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức rằng mình đang được sử dụng trong tư thế nào, hành giả cũng ý thức được tư thế ấy của thân thể. Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán niệm thân thể... ý thức được những tư thế của thân thể. Tuy vậy vẫn chưa đủ, kinh quán niệm nói ta phải ý thức về mọi hơi thở, mọi động tác, mọi hiện tượng sinh lý, vật lý, cảm giác và tư duy liên hệ với bản thân nữa. 

Nhưng quán niệm như thế để làm gì thì giờ đâu mà quán niệm

Một tác viên nếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm thì còn thì giờ đâu nữa để làm công việc tác động quần chúng trong phạm vi tái thiết và phát triển xã hội. Anh  chàng steve của chúng ta làm thế nào mà có thì giờ để vừa làm việc vừa quán niệm, vừa học bài với Mickey, vừa đem tã lót của zoe tới tiệm giặt. 

Phép lạ là đi trên mặt đất. 

Steve nó nói là từ khi biết lấy thì giờ của mickey và của marie làm thì giờ của mình thì chàng ta có vô khối nhưng đó có thể là đứng trên nguyên tắc mà thôi. Bởi vì steve có thể quên lãng trong khi học bài với mickey. Steve có thể quên rằng thì giờ của mickey cũng là thì giờ của mình, và như vậy steve có thể đánh mất thì giờ như chơi. Steve có thể mong cho thì giờ ấy chóng qua hoặc sinh ra cáu kỉnh vì thì giờ ấy không thú vị, không phải là thì giờ của mình. 


vì vậy muốn thật sự có vô khối thì giờ. steve cần giữ ý thức đây là thì giờ của ta, sáng tỏ mãi trong suốt thời gian học bài với con. Trong khi ấy tâm ý con người hay buông luung và từ ý tưởng này, tâm ý bắt sang ý tưởng khác như con vượn chuyền cành. Muốn giữ cho ý thức hiện thực sáng tỏ, từ đây về sau tôi sẽ dùng danh từ chánh niệm để thay thế cho mệnh đề ý thức sáng tỏ về hiện thực thì cần đôi chút luyện tập. Tập luyện ngay trong đời sống hàng ngày và thực tập trong những buổi thiền quán. Trong khi một tác viên đi bộ trên con đường đất đỏ để tới đầu làng, anh cũng có thể thực tập quán niệm. Anh đi từng bước vững chãi trên con đường đất đỏ hai bên có viền cỏ xanh và khởi chánh niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên con đường đó, niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên con đường đó, con đường dẫn tới làng. Anh tập trung ý tưởng vào đối tượng quán chiếu duy nhất ấy. Ta đi trên con đường đâu làng, trời lạnh hoặc trời mưa, đường khô hay con đường lầy lội. Anh cũng duy trì chánh niệm. Anh không lập đi lập lại trong trsi một cách máy móc tôi đang đi trên con đường đầu làng. Máy móc là sự ngược lại của chánh niệm. Có người niệm phật như một cái máy trong lúc tâm trí đi phiêu lưu xa thực tại ngoài ngàn dặm. Tôi nghĩ niệm phật như thế còn tệ hơn là không niệm phật. nếu ta thực sự duy trì được chánh niệm trong khi ta đang bước trên con đường làng, ta sẽ thấy sự kiện ta đang bước trên con đường làng là một sự kiện mầu nhiệm. một niềm vui nở ra từ tim ta như một đóa hoa à bao trùm lấy thế giới hiện thực. Tôi ưa đi bộ một mình trên những con đường quê, hai bên có những bông lúa hay cỏ dại và đặt từng bước chân ý thức trên đất, biết mình trong hiện tại đang đi trên hành tinh màu xanh kỳ diệu. Những lúc như thế tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ kỳ. Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi trên than hồng là thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên than hồng mà là đi trên mặt đất. 

Hàng ngày ta thực hiện phép lạ mà ta thường không hay biết. Thiều nhìn thử lại xem trời xanh, mây trắng, lá đục và đôi mắt bé thi hải thiều âm đan lay láy. Hai mắt của hải thiều cũng là một phép lạ mà trời kia, mây ấy, lá nọ cũng là phép lạ phải không

Thiền sự độc thể nói: khi ngồi nên ngồi thật ngay thẳng và khởi niệm. ngồi đây cũng như ngồi trên pháp tọa bồ đề. Pháp tọa bồ đề là chỗ một đức phật đã ngồi mà chứng ngộ. nếu có hằng hà sa số phật tức là đã có sa số người đã giác ngộ, và chỗ bãi cỏ tôi ngồi hôm trước ấy thế nào cũng có một đức phật đã ngồi. 

Thi sĩ nguyễn công trứ cũng có ý thức sáng khi ông ngồi xuống một chỗ ngồi và thấy được rằng ngày xưa, cổ nhân đã từng ngồi trên chỗ ông đang ngồi, và ngàn muôn năm sau cũng sẽ có người tới ngồi chỗ ấy. 

Ngã kim nhật tại tọa chi địa

Cổ chi ngân tằng tiên ngã tọa chi

Ngàn muôn năm âu cũng thế ni

ai hay hát mà ai hay nghe hát

Chỗ ngồi và thời gian trong giờ phút ấy trwor thành hợp nhất trong một hiện tại vĩnh cửu

Nhưng người tác viên không phải có thì giờ để suốt ngày thong thả. 

chơi trên những con đường cỏ xanh và ngồi dưới gốc cây. Người tác viên phải soạn thỏa, dự án công tác, bàn bạc với dân làng, giải quyết trăm vàn khó khăn lao động nơi ruộng vườn, đối phó với cường hào ác bá. trong thời gian thực hiện công tác đó. Anh hoặc chị phải để tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản ứng một cách thông minh và hữu hiệu. Tất cả những điều ấy chính là quán niệm. Thực tập quán cũng là để có thể để hết tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác và phản ứng thông minh. Trong lúc bàn cãi giải quyết và đối phó, sự bình tâm và tự chủ là những yếu tố cần thiết để đi tới kết quả tốt đẹp, anh chị tác viên nào cũng rõ điều ấy. nếu ta khôn gtuwj chủ mà để cho sự óng giận hoặc đãng trí kéo đi thì hiệu năng của ta không còn bao lăm nữa. 

Quán niệm là một phép lạ mà ta có thể sử dụng để khôi phục và thâu hồi tự thân. Giả dụ một nhà ảo thuật nào đó đem thân thể ta chia làm nhiều phần và đặt mỗi phần ở một địa phương khác nhau. Bàn tay đặt nam, bắp chân đặt ở bắc, cánh tay đặt đông. rồi dùng phép lạ hô lên ột tiếng. mỗi phần của thân thể lập tức liền lại với nhau, để thân thể ta trở nên toàn vẹn trở lại. quán niệm cũng thế, đó là phép lạ để tu họp trong chớp nhoáng tâm ý phiêu lưu, tản mát khắp chốn và thực hiện tự tâm toàn vẹn trong giây phút hiện tại của sự sống. 

nắm lấy hơi thở chánh niệm

Như vậy quán niệm vừa là một phương tiện vừa là một cứu cánh, vừa là nhân, vừa là quả. Khi thực tập quán niệm để luyện định tâm thì ta gọi quán niệm là nhân. Nhưng quán niệ vốn là sự sống tỉnh thức, do đó ta cũng gọi quán niệm là quả. Quán niệm để xua đuổi quên lãng và phân tán. Quán niệm để thực sự sống từng giây, từng phút của cuộc sống. Quán niệm để duy trì chánh niệm và duy trì sự sống. 

Người tác viên biết sử dụng hơi thở để duy trì chánh niệm, bởi vì hơi thở là dụng cụ rất mầu nhiệm để đình chỉ loạn tưởng. Hơi thở là cây cầu bắt từ bờ sinh lý sang bờ tâm lý, là môi giới giữa thân và tâm. Mỗi khi chợt nhớ ra rằng tâm ý mình đang phân tán, rong ruổi, ngươi tác viên nên dùng hơi thở để nắm giữ nó lại. Anh thở vào nhè nhẹ một hơi thở khá dài và ý thức rằng mình đang thở một hơi dài. Anhlaij thở ra một hơi dài, đưa ra ngoài hết không khí trong buồng phổi anh và ý thức rằng mình đang làm như thế. Kinh quán niệm dạy về cách nắm lấy hơi thở như sau:

Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi có ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng. 

Trong một tu viện phật giáo, vị nào cũng được khuyến khích sử dụng hơi thở để đình chỉ loạn tưởng, tập trung tâm ý và thực hiện định lực. Định lực là sức mạnh của sự tập trung tâm ý, là năng lực có thể phát khởi sự tỉnh thức lớn. Nhưng sự tỉnh thức lớn cũng là một sự tỉnh thức. Khi người tác viên nắm lấy hơi thở mình, anh ấy đã là một người tỉnh thức rồi. Để duy trì chính niệm lâu dài, ta nên tiếp tục nắm lấy hơi thở. Mùa này ở đây lá vàng rơi đẹp lắm. Đi ở ven rừng khoảng mười lăm phút trong chánh niệm, giữ lấy hơi thở thôi thấy khỏe khoắn và tỉnh táo lạ. Tooi tiếp xúc được với từng chiếc lá. 

Khi thiều đi một mình trên con đường quê, thiều dễ nắm giữ chánh niệm hơn. Nếu htieeuf có một người bạn cùng đi bên cạnh không nói năng gì, cùng nắm lấy hơi thở thì thiều vẫn nắm giữ chánh niệm một cách dễ dàng. Nhưng khi người bạn đi bên cạnh hỏi chuyện thiều thì sự tình trở nên khó khăn hơn chút ít. 

Nếu thiều khởi ra trong tâm ý niệm cái anh chàng này cứ hỏi chuyện hoài, không để cho mình chánh niệm thì thiều dễ trở thành bực mình. Nhưng nếu thiều tự nhủ anh chàng hỏi chuyện thì hỏi chuyện, mình trả lời thì trả lời nhuwgn mình vẫn nắm giữ chánh niệm, biết mình với anh chàng đang đi trên đường với nhau, biết anh chàng hỏi gì, biết mình trả lời những gì, và dù sao mình vẫn còn có thể nắm lấy hơi thở. Nghĩ như vậy, Thiều tiếp tục duy trì chánh iệm, biết rằng trường hợp này hơi khó hơn trường hợp đi bộ một mình, nhưng cứ thực tập để từ từ đạt tới một khả năng tập trung ý lớn hơn. Có câu ca dao nói: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.  trong hoàn cảnh náo nhiệt phiền toái mà giữ được chánh niệm, đó mới là làm được chuyện khó, có phải không

Đếm hơi thở và theo dõi hơi thở

Trong kinh điển phật thường dạy nên sử dụng hơi thở để luyện thành sự định tâm. Có một bài kinh đặc biệt nói về sự sử dụng hơi thở để duy trì hơi thở, gọi là kinh an ban thủ ý. Kinh này được thiền sư việt nam gốc trung á tên là khương tăng hội dịch và chú giải vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba tây lịch. Tăn ghội viết tắt là an ban còn sati có nghĩa là niệm quán niệm hay chánh niệm, thời ấy tăng hội dịch là thủ ý. 

Vậy kinh an ban thủ ý là kinh dạy, gìn giữ tâm ý bằng cách sử dụng hơi thở. Kinh này là kinh thứ 118

1, tuy thở ra và thở vào là việc làm của phổi, tức là của ngực nhưng không phải vì thê smaf bụng không có tham dự. Sự lên xuống của bụng hòa nhịp với ự lên xuống của ngực. Ta nhận thấy khi ta bắt đầu thở vào thì bụng bắt đầu lên cao. Nhưng khi hởi thở vào đi được hai phần ba con đường của nó thì bụng bắt đầu xuống bớt. 

2. Giữa ngực và bụng có một ranh giới gọi là hành cách mạc. Khi ta thở vào đúng phép, ta đưa không khí vào phần dưới của phổi trước khi ta thở đầy phần trên của phổi. Khi phần dưới của phổi có đầy không khí vào nó đẩy hoành cách mạc xuống dưới. Do đó bụng ta bắt đầu phình lên cao. Khi ta thở đầy phần trên lá phổi, ngực ta căng đầy và do đó bụng ta bắt đầu xuống bớt. 

3. Vì vậy cho nên người xưa hay nói. Hơi thở bắt đầu từ rốn và chấm dứt ở chót mũi

Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. phải để ý là không nên thở dài với mức tối đa. làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở. Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hay tai xuôi theo hai chân, đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra xem nó kéo dài bao lâu, có thể đếm thầm trong trí. một hai ba, sau vài lần như thế, ta biết được chiều dài của hơi thở ra. Ví dụ chiều dài ấy là 5, sau đó ta dự tính thêm một hay hai nữa để cho hơi thở ra của ta dài tới 6-7. Thế là lần này khi thở ra ta bắt đầu đếm từ 1 đến 5. Đến 5 thay vì chuẩn bị hít thở vào, ta cứ tiếp tục thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6 đến 7. Như vậy có nghĩa là ta đưa thêm không khí tồn dư trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông tay để hai phổi tự động đưa không khí trong lành vào. Chúng đưa vào được bao nhiêu không khí thì đưa. Mình không nên cố gắng hít thêm. cố nhiên là chiều dài của hơi thở vào sẽ ngắn hơn chiều dài của hơi thở ra. Nhưng ta nên đếm thầm để biết nó dài bao nhiêu. 

Người mới tập nên tập như thế trong nhiều tuần. Trong khi thở luôn ý thức được mình đang thở và ý thức được chiều dài của hơi thở vào và ra. Trong khi đi bộ, đứng, ngồi, nhất là ở những nơi thoáng khí ta cũng nên tập như thế. Khi đi bộ ta có thể dùng bước chân để đếm rất tốt. 

chừng một thoáng sau khoảng cahcs giữa chiều dài của hơi thở vào và chiều dài của hơi thở ra sẽ rút ngắn lại. Bây giờ ta có thể cho hơi thở vào và ra bằng nhau, nghĩa là nếu thở ra sâu thì thở vào cũng sâu. Tuy nhiên, nếu thấy hơi mệt thì nên dừng lại. Nếu không mệt ta cũng nên thực tập có giới hạn. Khi thấy hơi mệt là tiêu chuẩn rất tốt, nó báo hiệu cho ta nên nghỉ hay cso thể tiếp tục. Khi đếm ta có thể dùng con số hay dùng mệnh đề ta ưa thích, ví dụ nếu đó là số 6, ta có thể dùng mệnh đề hiện hữu quanh tôi mầu nhiệm hay tâm tôi thanh tịnh an lạc. Nếu đó là số 7, ta có thể dùng mệnh đề tôi bước từng bước trên trái đất hay nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật. Khi đi bách bộ, mỗi tiếng nhịp theo mỗi bước chân. 

Hơi thở phải thật nhẹ nhàng, đều đặn, trôi chảy tiếp nối như một lạch nước trôi trên cát mịn. Hơi thở phải thật im lặng, im lặng đến nỗi người gần cũng không nghe thấy mình thở. Hơi thở nên uyển chuyển như một dòng sông, một con rắn đang bò, chứ không thể như một dãy núi lởm chởm, hay như nhịp phi của một con ngựa. Chủ động được hơi thở của mình nư thế tức là chủ động được thân tâm mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn mà ta khó dùng những biện pháp khác để nhiếp phục thì phương pháp quan sát hơi thở phải được đem ra áp dụng. mới ngồi xuống để thiền đinhk người hảnh giả sau khi điều chỉnh tư thế ngồi liền điều chỉnh ngay hơi thở. Ban đầu thở tự nhiên rồi làm cho hơi thở dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần và dài dần. 

Trong suốt thời gian ngồi xuống cho đến khi hơi thở đã trở nên im lặng sâu thẳm, hành giả ý thức được tất cả những gì đang trải qua. Kinh quán niệm nói: tôi đang hít vào và biết rõ là tôi đang hít vào. Tôi đang thở ra và biết rõ là tôi đang thở a. Tôi đang thở vào một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi ngắn. Tôi  đang thở vào và điều hòa cho thân thể tôi trơ rneen tĩnh lặng. 

Trong khoảng 10 đến 20 phút, tâm lý của hành giả lặng xuống như hồ nước trong và koong bị lôi kéo và phân tán nữa. Phương pháp theo dõi hơi thở tĩnh lặng và điều phục hoàn toàn hơi thở được gọi là phương pháp tùy tức. Tùy là theo dõi, tức là hơi thở, tùy tức là theo dõi hơi thở. 

Nếu thấy phương pháp theo dõi hơi thở hơi khó, ta có thể theo dõi bằng phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm 1 thở ra đếm 1. Thở vào đếm 2, thở ra đếm 2. Thở cho đến hơi thở thứ 10 thì bắt đầu đếm lại từ 1. Trong lúc thở như vậy, sự đếm là sợi dây buộc tâm vào hơi thở. Ban đầu đếm là để chú ý, kẻo nếu không chú ý thì đếm lộn. Đó là hình thức định tâm sơ đẳng nhất, cột được tâm vào sự đém rồi, đạt tới cái định tâm sơ đẳng ấy rồi thì bắt đầu bỏ sự đếm và chuyển sang theo dõi hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở được gọi là phương pháp sổ tức. Sổ là đếm, tức là hơi thở. 

Những lúc tâm trí bị phân tán khó tập trung để quán niệm, ta lại nắm lấy hơi thở, nắm lấy hơi thở cũng là quán niệm. Hơi thở là một phương tiện thần diệu để nắm lấy tâm ý. Giới thứ bảy của dòng tu tiếp hiện cũng đặc biệt chú trọng tới hơi thở. Lhoong được buông thả theo vọng loạn tưởng và hoàn cảnh để tự đánh mất mình, phải biết dùng hơi thở để nắm lấy thân tâm, thực hiện chánh niệm, phát triển định tuệ và đi tới trên con đường thành tựu đạo nghệ. 

Mỗi động tác là một lễ nghi

Thiều ơi, tôi thường nghe một ví dụ này khá hay về hơi thở. Có một bức tường cao không có cách gì leo lên đứng phía trên được, duy chỉ có sợi chỉ mong manh vắt qua bức tường. Người khôn khéo sẽ buộc đầu sợi chỉ ấy vào dây gai rồi qua bên kia kéo đầu sợi chỉ xuống để cho sợi dây gai vắt lên thay thế. Xong rồi, bạn lại buộc đầu sợi gai với dầu sợi dây thừng để kéo nó vắt qua bức tường. Sau khi cột một đầu thừng xuống chân bức tường bên này, ông ta sang bên kia tường bám vào sợi dây thừng mà trèo lên đứng phía trên bức tường, hơi thở của ta là sợi dây chỉ mong manh kia, nếu ta biết sử dụng thì ta có thể biến nó thành một khí cụ thiền diệu cứu ta ra khỏi những trường hợp xem như vô vọng. Hơi thở cũng là một cây cầu bắt từ thân sang tâm, hơi thở điều hòa cả thân và tâm, hơi thở thiết lập sự thể giữa thân và tâm. Thân và tâm đều có liên hệ tới hơi thở, và hơi thở có thể dùng để điều hợp thân tâm, đưa đến trạng thái tĩnh lặng sáng chiều của cả hai. 

Có nhiều người và nhiều sách nói đến những ích lợi lớn lao của sự tập thở đúng phương pháp. Người biết htowr là người biết sử dụng một kho tàng sinh lực vô tận. Hơi thở thanh lọc buồng phổi, thanh lọc máu trong huyết quản, thanh lọc và đổi mới cả cơ thể. Hơi thở quan trọng hơn thức ăn. Những điều ấy rất đúng. Hồi xư tôi từng bị ốm nặng và qua mấy năm thuốc thang không lành, tôi đã dùng đến phương pháp thở, phương pháp này đã cứu sống tôi. 

tuy vậy trong câu chuyện mà tôi đang nói với thiều đây, hơi thở là dụng cụ và đối tượng của quán niệm. Hai lá phổi tốt, một hơi thở khỏe là những thiện duyên rất lớn, tuy nhiên không phải là mục đích lớn mà chỉ là những vật phó sản của sự thực hiện quán niệm mà thôi. 

Ở parsi tôi có hướng dẫn một lớp ngồi thiền cho người ngoại quốc. Trong số đó có nhiều người trẻ. tôi nói với họ mỗi ngày ngồi một giờ đồng hồ thì tốt lắm, nhưng không đủ thiếu gì. phải tập thiền trong khi đi, đứng, ngồi , nằm và làm việc. tôi chỉ cho họ cách quán niệm trong khi ruwaar tay, rửa bát, quét nhà, nói chuyện. tôi nói trong khi rửa bát, có thể ta nhớ tới tách trà và muốn ruwaar cho thật mua để lên ngồi uống trà. nhưng như thế là ta không thấy được sự sống trong khi rửa bát. Trong khi ta rửa bát thì rửa bát phải là chuyện quan trọng nhất trong thiền. Người hành giả tu 24 tiêng sdodongf hồ một ngày, chứ không phải chỉ tu trong giờ tụng kinh và ngồi thiền. Mọi động tác đều được nhiếp phục trong chánh niệm. Mỗi động tác là một lễ nghi. Dùng chữ lễ nghi thì hơi nặng nề nhưng tôi phải dùng chữ ấy qua một lượt để thiều thấy tính cách sanh tử của sự tỉnh thức. 

Hãy là nụ cười

Ngày nào cũng thực tập quán niệm, giờ nào cũng thực tập quán niệm. Nói thì dễ nhưng thực hành cho được thường xuyên là chuyện không dễ. Vậy cho nên tôi đề nghị những người trong lớp thiền tập nên để dành một ngày trong tuần để khởi sự thực tập .Đã đành trên nguyên tắc ngày nào cũng là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, nhưng trên thực tế mình hoàn toàn chưa thể nào chủ động được và mình có cảm tưởng gia đình, sở làm và xã hội chiếm mất hết thì giờ của mình. Vì vay tôi đề nghị họ lấy một ngày trong tuần làm ngày của mình. Ngày này sẽ là bàn đạp tạo nên thói quen tốt đẹp của sự thực tập quán niệm. 

Tác viên xã hội ai cũng có quyền có 1 ngày như vậy mỗi tuần, nếu không ta sẽ tự đánh mất mình một cách dễ dàng trong cuộc đời náo động. Ta tạm gọi cái ngày thứ bảy kia là ngày quán niệm. Muốn tổ chức ngày quán niệm ta hãy chuẩn bị làm sao khi thức dậy trong buổi sáng, ta có thể nhớ ngày đó là ngày quán niệm. Treo một cái gì ở trên trần nhà hay ở trong mùng. ví dụ như một chữ quán hay một cành thông chẳng hạn, để khi thức dậy là ta có thể trông thấy và biết đây là ngày quán niệm, ngày của mình

Nhớ ra như vậy rồi, ta nên mỉm cười để chứng tỏ rằng ta đang có ý thức trọn vẹn và cũng là nuôi dưỡng ý thức trọn vẹn đó. Nằm trên giường ta bắt đầu theo dõi hơi thở, điều phục hơi thở, thở những hơi chậm, dài và ý thức. Rồi ta từ từ vén chăn ngồi dậy ( đừng tung chăn chồm dậy như thường nhật). Nuôi dưỡng quán niệm trong từng cử chỉ. Ta súc miệng đánh răng, chải đầu, cạo râu hay điểm trang một cách nhẹ nhàng, thong thả, cử động nào cũng được nhiếp phục trong quán niệm. Theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở, đừng để tâm loạn động. Khi làm những cử động thể dục buổi sáng cũng vậy. Các cử động thể dục nên làm thong thả, đi đôi với nhịp thở dài và nhẹ. Trong khi tập thể dục, duy trì nụ cười hàm tiếu trên môi. 

Nên để ra ít nhất là nửa giờ để tắm gội thong thả trong chánh niệm. Đôi khi tắm xong là ta đã thấy nhẹ nhàng khoan khoái rồi. Sau đó ta có thể đi làm việc nội trợi, giặt áo quần, chùi nhà, lau bàn, sửa bếp, xếp dọn sách vở. Những công việc ấy phải được làm thật khoan thai, nhẹ nhàng trong chánh niệm. Làm tức là tu, đừng mong cho chóng xong. Bí quyết là làm thong thả. Để tâm ý vào đó, ưa thích nó, đồng nhất với nó. Phải tìm được sự an lạc trong khi làm những việc đó. Nếu không thì ngày quán niệm đó xem như thất bại. Những người mới tập thì nên giữ im lặng trong ngày quán niệm. Vận tốc của các cử động dưới ảnh hưởng của quán niệm được giảm xuống rất nhiều. Hãy nhìn những vị thiền sư. Họ đi đứng khoan thai, nhất cử nhất động đều nhẹ nhàng, không vụt chạc hay nóng nảy. Nói như thế không có nghĩa là trong ngày quán niệm ta không nên nói chuyện. Ta cũng có thể nói chuyện và cũng có thể hát nữa. Nhưng ta chỉ nên nói hay hát ít thôi, trong khi duy trì ý thức minh mẫn về những gì ta đang nói hoặc đang hát. Cố nhiên ta có thể vừa hát vừa quán niệm. Biết rõ là ta đang hát và ta đang hát gì. Tuy thế nên biết rằng trong khi ta hát, tình tiết và âm điệu có thể đưa ta lạc ra ngoài chánh niệm nếu năng lực tập trung của ta còn yếu kém. Buổi trưa ta có thể tự nấu cơm. việc ăn cơm, rửa bát, nghỉ ngơi, tất cả cũng đều được thực hành trong chính niệm. Buổi sáng sau khi nhà cửa đã được gọn hay chăm bón vun mấy khóm hoa. Ta pha trà và ngồi uống trà trong chánh niệm. Để dành thật nhiều thì giờ cho công việc này. Đừng uống trà như người ta ăn hủ tiếu, cà phê ngoài tiệm trước khi đi làm, nghĩa là hấp tấp quá. Uống trà thật thảnh thơi, khoan thai, như nhịp đi của bốn mùa, như nhịp quay của trái đất, thong thả, đều đặn, không hấp tấp. Không đi tìm tương lai. Sống với giờ phút hiện tại. Chỉ có giờ phút hiện tại mới là sự sống. đừng đồng nhất sự sống với tương lai. Đừng luôn nghĩ tới chuyện phải đi về tương lai. Đừng luôn luôn nghĩ tới chuyện khởi hành. Ngày xưa trong bướm bay vượn cải hoa vàng tôi viết

Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu

là nụ cười

là một phần của hiện hữu nhiệm mầu

tôi đứng đây, chúng ta không còn khởi hành

quê hương chúng ta đẹp như quê hương của tuổi thơ

xin đừng ai xâm phạm. Tôi vẫn còn hát ca. 

Buổi chiều ta có thể đọc kinh, chép kinh, viết thơ cho bạn, làm bất cứ việc gì mà ta thích từ công việc trong tuần. tôi nhắc em là làm gì cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ăn ít thôi, khoảng 10-11 giờ ta ngồi thiền đến nửa đêm sau khi bách bộ chừng một giờ để thở không khí trong lành, theo dõi hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng bước chân ta về phòng và đi ngủ trong chánh niệm. 

Thiều ơi

Thế nào mình cũng tìm cách để tôn trọng tuyệt đối ngày quán niệm của tác viên. Ngày ấy cần thiết quá và ảnh hưởng tốt đến những ngày khác trong tuần rất nhiều. 

Mười mấy năm về trước, nhờ ngày bình tĩnh quán niệm ấy mà chú văn và các anh chị trong dòng tiếp hiện đã hướng dãn được trường đi qua nhiều giai đoạn bão táp. 

Thực tập ngày quán niệm được trong vòng ba tháng thì ta đã có sự thay đổi quan trọng trong đời sống của chúng ta rồi. Từ ngày quán niệm, sự thực tập sẽ lan qua những ngày khác trong tuần và ta sẽ có thể tu không phải một ngày trong một tuần mà bảy ngày trong một tuần. Thiều đã thấy ra ngày quán niệm là một bàn đạp quan trọng hay chưa. 

Thức dậy giữa làng hồng

Không những tác viên cần có một ngày trong mỗi tuần, họ còn cần có một tháng trong mỗi năm nữa. Chắc thiều còn nhớ lá thư tôi viết để trả lời thầy châu toàn về dự tính làng hồng. làng hồng là một quê hương tâm linh cho người tác viên, cũng như phương bối quê hương tâm linh cho chúng ta ngày xưa vậy. 

Chúng ta phải có làng hồng để trở về sau những đợt công tác. Tại đây ta trồng cây, trồng rau thơm, đi bách bộ với trẻ trong làng, thực tập quán niệm và thiền tọa. Thầy châu toàn trong một lá thư cho tôi đã nói tới dự tính ấy, và gọi khu làng quê hương tâm linh này là làng thanh niên phụng sự xã hội. Thầy có nói cho tôi hay rằng khu vực chọn lựa có thể nằm gần miền cao nguyên và như thế có thể hạp với cây hồng. Tôi nói như thế thì đặt tên làng là làng hồng thì nhẹ và đẹp hơn tên kia. Thầy châu toàn là một nghệ sĩ, cho nên tôi rất tin cậy nơi thầy về khía cạnh nghệ thuật của làng. Tôi có dặn thầy nên giữ tất cả những tảng đá lớn nhỏ có mặt trong khu đất dù dưới suối hay trên đồi. Tôi lại dặn thầy đi đánh dấu tất cả cây lớn nhỏ nào có giá trị nghệ thuật để giữ lại. Làng sẽ có công viên, rừng và rất nhiều con đường đi bộ qua rất nhiều vườn hồng và tên làng do đó mà có. Làng sẽ có nhiều lô đất, mỗi tác viên có một lô đất, thieeuf cũng có 1 lô, tôi cũng có 1 lô. Chúng ta sẽ làm một căn nhà đơn giản trong khu đất và trồng cây ăn trái và rau quả quanh nhà. Tôi ưa trồng rau thơm lắm. Tôi sẽ trồng sau nhà tôi nhiều thứ rau thơm. cây ngò, cây quế, cây hưng, cây tía tô và cây kinh giới, cây tần ô, cây rau răm, cây lá lốt. Tôi cũng sẽ trồng cây lá dứa thơm, cây xả, một giàn mướp ngọt và có thể có cả một giàn hoa lý trước nhà

Thiều cười tôi đang sống với tương lai phải không. Đúng đó, nhưng tôi cũng đang sống với hiện tại. Bên này tôi cũng trồng đủ thứ rau thơm. Tuyết có gởi cho tôi nhiều loại hột giống, nhưng chỉ trồng đươc trong mùa ấm thôi. Làng hồng đối với tôi đã là một thực tại rồi.  Làng hồng cũng đã bắt đầu có mặt nơi thiều. 

thiều và các bạn nên xúc tiến việc thành lập làng hồng. làng hồng là một hình ảnh tươi mát trong lòng mọi chúng ta. làng hồng cũng là hình ảnh ấm áp. Các anh chị tác viên khi lập gia đình cũng nên về cư ngụ tại làng hồng. làng hồng sẽ có hợp tác xã. mình sẽ săn sóc cho làng. tổ chức sinh hoạt cho trẻ con và tạo nền nếp sinh hoạt tâm linh cho mọi người. mỗi tác viên khi về tới làng hồng là thấy thỏa mái. 

Trong 1 tháng cư ngụ làng hồng, người tác viên chơi đùa với trẻ con, đọc sách, nằm võng và trồng rau, ngồi thiền, rũ bỏ mọi bụi bặm phiền não, luyện thêm ý chí, thêm yêu thương. 

Hạt sỏi trong lòng cát mịn. 

Tác viên ngồi thiền để làm gì? Trước hết là để thực hiện một sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Thiều nên biết trong giấc ngủ cũng chưa hẳn là hình thức nghỉ ngơi toàn vẹn. Ngủ với thần kinh căng thẳng, với những bắp thịt trên mặt và trên tay chân co rút, với những giấc mmoongj nặng nề. Ngủ như thế không phải là nghỉ ngơi. nằm cũng chưa phải là nghỉ ngơi, nhất là khi còn trăn tở bất an. nằm dài, xuôi tay chân, đầu không kê gối là một tư thế rất tốt để tập thở và để buông thả bắp thịt cho thư thái. 

Nhưng nằm thì dễ ngủ. với lại nằm thì không đi sâu vào thiền quán được bằng ngồi. ta có thể tạo nên sự nghỉ ngơi toàn vẹn trong tư thế ngồi và tiếp đó có thể đi sâu hơn trong thiền quán để đối trị lại những trở ngại tâm lý của ta

tôi biết các tác viên có nhiều người biết ngồi kiết già, bàn chân trái đặt lên bắp chân phải và bàn chân phải đặt lên bắp chân trái, cũng có người chỉ có thể ngồi bán già, bàn chân trái đặt trên chân phải hay chân phải đặt trên bắp chân trái. Tai lớp thiền tập tại paris, có người không ngồi được các tư thế trên, tôi khuyên họ nên ngồi theo lối nguowaif nhật. Hai gối song song, hai lòng bàn chân úp xuống làm nơi nương tựa cho thân hình với một chiếc gối kê gọn dưới hai sóng bàn chân. ta có thể ngồi yên trong tư thế đó hơn một giờ nữa. Tuy nhiên ai cũng có thể ít nhất là tập ngồi theoe tư thế bán già. Ban đầu có hơi đau, nhưng độ vài tuần lễ thì ít đau hơn. khi đau thì đỏi tư thế đi hay đổi vị trí của các bàn chân cho nhau. Trong trường hợp kiết già hay bán kiết già, ta nên kê dưới mông một cái gối để cho hai đầu gối chúc xuống, như vậy là ta có 3 điểm tựa, thế ngồi như vậy là rất vững chắc sống lưng ta giữ cho thật thẳng, đây là một điều quan trọng. Đầu và cổ giữ theo sống lưng thật thẳng nhưng không cứng ngắt như gỗ. Mắt nhìn xuống khoảng hai thước về phía trước. miệng giữ nụ cười hàm tiếu. 

Bây giờ ta bắt đầu theo dõi hơi thở và cũng bắt đầu buông thả mọi bắp thịt trong người, chỉ giữ xương sống thật thẳng và theo sát hơi thở, còn bao nhiêu thứ còn lại cùng buông thả hết. 

Muốn buông thả những bắp thịt chằng chịt trên mặt, những bắp thịt co lại vì lo âu, cáu kỉnh, sợ hãi hay buồn phiền, ta hãy gọi về trên môi nụ cười hàm tiếu, nụ cười chớm nở, nụ cười tới thì các bắp thịt kia bắt đầu buông thả. Ta duy trì nụ cười ấy càng lâu càng quý, nụ cười mà thiều thấy nở hoài trên mặt phật. 

ta đặt lòng bàn tay trái ngửa ra trong lòng bàn tay mặt, buông thả mọi bắp thịt trong bàn tay, trong ngón tay, trong cánh tay, trong bắp chân. Hãy để cho tất cả trôi đi, nhưng những dày xrong rêu trôi theo dòng nước trong khi tảng đá dưới nước vẫn nằm im bất động, chỉ giữ lấy hơi thở và nụ cười hàm tiếu trên môi. Những ai mới bắt đầu tập ngồi thiền thì nên ngồi từ 20 phút đến nửa giờ. Trong thời gian đó, nên sự thực tập sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Kỹ thuật của sự nghỉ ngơi này được tóm tắt trong hai tiếng: nắm giữ và buông thả. Nắm giữ hơi thở và buông thả tất cả những gì còn lại. buông thả tất cả các thớ thịt trong châu thân, trong khoảng 15 phút hành giả có thể đạt đến sự tĩnh lặng và an lạc. Duy trì trạng thái tĩnh lặng và an lạc ấy. 

có người xem thiền tọa như một cực hình. Muốn cho thì giờ qua mau để nằm nghỉ. Trong trường hợp này, ta thấy đương sự chưa biết ngồi thiền. Biết ngồi thiền thì tự khắc tìm thấy sự khỏe khoắn và an lạc ngay trong tư thế ngồi. Tôi thường đề nghị những người này dung hình ảnh hạt sỏi rơi trong dòng sông để thực hiện sự an nghỉ trong thiền tọa. 

Thế nào là hạt sỏi rơi trong dòng sông. Hành giả ngồi xuống trong tư thế tiện nghi nhất, bán già hay kiết già, lưng thẳng. miệng giữ nụ cười hàm tiếu. Hành giả thở chậm và sâu, theo dõi hơi thở, đồng nhất mình với hơi thở. Thế rồi hành giả tự để mình buông thả hoàn toàn như một hạt sỏi trắng được thả xuống dòng sông trong vắt. 

hạt sỏi thả xuống dòng sông không hề tự ý cử động, nó tự buông thả và rơi xuống từ từ trong dòng sông bằng con đường ngắn nhất và cuối cùng tìm tới đáy sông. Xuống tới đáy sông rồi là nó được chỗ an nghỉ, không còn rơi nữa. Hành giả tự thấy mình như một hạt sỏi, tự để rơi mình trong một dòng sông, buông thả hoàn toàn. Trọng tâm của hành giả là hơi thở. Thời gian buông thả để rơi, để tìm tới nơi an nghỉ trên cát mịn dưới đáy sông không cần thiết là dài bao lâu. Khi mà hành giả thấy mình ngồi an lạc, khỏe khoắn như một hạt sỏi trên cát mịn dưới đáy sông là khi ấy bắt đầu có sự nghỉ ngơi trọn vẹn. Hành giả không bị quá khứ níu kéo, không bị vị lai thâu hút. Hành giả biết rằng nếu mình không có khả năng thọ hưởng sự an lạc trong giờ phút thiền tọa hiện tại, thì tương lai cũng sẽ trôi qua những kẽ tay mình, và mình cũng sẽ không bao giờ thực sống khi tương lai biến thành hiện tại. An lạc là an lạc trong giờ thiền tọa đây. Nếu không tìm được an lạc lúc này thì sẽ không tìm được an lạc ở bất cứ lúc nào khác. Đừng đuổi theo vị lai như người bị thu hồn chạy theo bùa phép. Dừng lại và tìm sự an lạc trong giờ phút hiện tại. Hành giả thấy rằng thời gian này là thời gian của mình, chỗ ngồi này là chỗ ngồi của mình. Chính trên chỗ ngồi này và trong giờ phút này mà mình có thể thành phật chứ không phải ở dưới một cây bồ đề nào trong 1 kiếp vị lai nào xa xôi. Thiền tập như thế trong vài ba tháng thì hành giả bắt đầu biết thế nào là thiền duyệt. Thiền duyệt là sự an vui tìm thấy trong thiền tọa. Ngày xưa thầy danh từ có cất một thiền thắt trên đỉnh phương bối, lấy tên là thiền duyệt thất. 

Thiều ơi! giờ tọa thiển có dễ thành công hay không là do đời sống hàng ngày mình có tập chánh niệm nhiều hay ít. Và cũng do mình  có thực tập đều đặn mỗi ngày hay không. Ở chùa lá pháp vân mình nên tổ chức thiền tạo mỗi đêm cho tác viên, từ 10 đến 11 giờ. Ai muốn ngồi nửa giờ hay cả giờ tùy ý. 

Nhận diện 

Những mục đích của thiền tạo chỉ là để tìm sự nghỉ ngơi thôi sao? Có người sẽ hỏi. Thiều cũng dư biết rằng mục đích của thiền tọa sâu xa hơn sự nghỉ ngơi. Nhưng sự nghỉ ngơi là khởi điểm cần thiết. Thực hiện sự nghỉ ngơi, ta thực hiện được sự tĩnh tâm và nhiếp ý là đi được một quãng đường khá dài trong thiền tập rồi. 

ta nên nhớ rằng, quán niệm hơi thở là một phương pháp thần diệu. Đừng nói rằng pháp quán niệm hơi thở là chỉ để dành cho người mới học đạo. thiền sư tăng hội đầu thế kỷ thứ ba đã viết trong kinh an ban thủ ý. Quán niệm hơi thở là đại thừa của chư phật để cứu vớt chúng sanh đang trôi chìm trong sanh tử. Đếm hơi thở, theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở là những phương pháp thần diệu đề nhiếp thâm và tịnh ý. 

Tuy nhiên nếu muốn nhiếp tâm và tịnh ý đến chỗ căn bản, ta phải biết quán niệm về cảm thọ và tư duy của ta. Muốn điều tâm ta phải quán tâm. Ta phải biết quan sát và nhận ra mọi mặt cảm thọ và mọi tư duy khi chúng có mặt nơi ta. 

Thiền sư thiền chiếu cuối đời lý có nói: người tu đạo nếu biết rõ tâm linh mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm linh mình thì chỉ phí công vô ích. muốn biết tâm mình thì chỉ có một cách quán sát nó, nhận diện nó. Công việc đó làm thường trực trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong giờ thiền tọa. Trong lúc ta thiền tạo, những cảm thọ và những ý tưởng có thể phát hiện trong ta. Nếu ta không dùng những phương pháp quán niệm hơi thở thì chúng có thể xâm chiếm và đưa ta ra ngoài chánh niệm. Nhưng ta đừng nghĩ rằng hơi thở chỉ là để xua đuổi cảm thọ và ý tưởng. Hơi thở còn là để tâm lắng lại thân tâm, mở lối cho định và tuệ. Khi một cảm thọ hay một ý tưởng xuất hiện, ta đừng cố ý xua đuổi bằng hơi thở, dù sự tập trung tâm ý nơi hởi thở có tác dụng khiến cho cảm thọ hay ý tượng đó tạm bị loại trừ ra khỏi tâm ý. Đừng cố xua đuổi, ghét bỏ, e sợ. phải làm sao>? chỉ cần nhận diện thôi. Thí dụ khi một cảm thọ đau nhức phát hiện nơi ta, ta liên fnhanaj diện nó. một cảm thọ đau nhức xuất hiện nơi ta. một cảm thọ đau nhức còn tồn tại nơi ta, ta cũng nhận diện nó: cảm thọ đau nhức còn tồn tại nơi ta. nếu một ý tưởng phát hiện nơi ta. ví dụ nhà hàng xóm giờ này mà còn làm ồn quá thì ta nhận diện nó. ý tưởng nhà hàng xóm giờ này mà còn làm ồn quá vừa phát hiện nơi ta. nếu ý tưởng đó còn tồn tại ta tiếp tục nhận diện, nếu có một cảm thọ khác, hay một ý tưởng khác đi qua đầu ta thì cũng phải nhận diện như thế. Ta không để cho một cảm thọ hay bất cứ ý tưởng nào phát sinh hay lưu trú trong ta mà có thể tránh thoát sự quán niệm và nhận diện của ta. 

Ta quan sát và nhận diện chúng như người gác cửa cung vua, nhận diện mỗi gương mặt đi qua cửa khuyết. Khi không còn cảm thọ hay ý tưởng nào có mặt, ta cũng nhận diện sự không có mặt của chúng. Cảnh giác thường trực như vậy tức là quán niệm về cảm thọ và tâm thức. Quán niệm tinh tiến như vậy, thì ta sớm điều phục được tâm ta. Ta có thể phối hợp phương pháp quán niệm này với phuong pháp quán niệm hơi thở để nhiếp phục tâm ý. 

Vọng tâm thành chân tâm

Thiều ơi. Điều quan trọng mà tôi muốn nhắc lại ở đây là trong khi thực hành quán niệm ta chớ nên để  sự phân biệt thiện ác, chính tà chi phối để tạo nên sự dằng co. khi một  ý niệm thiện phát sinh, ta chỉ nên nhận diện một ý nniemej thiện vừa phát sinh. khi một ý niệm bất thiện phát sinh ta chỉ nên nhận diện một ý niệm bất thiện phát sinh. Đừng lôi kéo hoặc xưa đuổi, không yêu mến cũng không ghê sợ. Hãy chỉ nhận diện chúng thôi là đủ. Nếu chúng đã đi rồi thì biết chúng đã đi rồi. Nếu chúng còn đó thì biết chúng đang còn đó. Có cảnh giác rồi thì không có gì cần phải sợ sệt nữa. 

Trong khi tôi nói đến người gác cửa đền vua. Thiều có thể tưởng tượng một không gian có hai cửa. Một cửa vào và một cửa ra với tâm ta là người gác cửa. Cảm thọ và ý tưởng nào vào là ta biết, chúng ở lại ta cũng biết. Chúng ra đi ta cũng biết. Ví dụ ấy có một khuyết điểm nghe thiều. 

Tai vì trong ví dụ ấy, những người vào ra không phải là ông gác cửa, trong khi đó những cảm thọ và tư tưởng của ta lại chính là ta, là một phần của ta. Đối với sự thiền tập, thì đó là sự náo loạn, sự phân tán, là quân giặc tìm tới công hãm thành trì của sự tĩnh tâm. Tuy vậy, khi ta có những ý tưởng, những ý tưởng đó cũng chính là ta. Ta vừa là người diễn kịch vừa là khán giả xem kịch. Ta vừa là tâm, vừa là người quan sát tâm. 

Cho nên xua đuổi hay nức kéo không phải là chuyện quan trọng. Quan trọng là nhận biết, sự quán sát này là sự quan sát không đối tượng hóa, tức là không phân biệt chủ thể và đối tượng. Tâm không nức kéo tâm, tâm không xua đuổi tâm. Tâm chỉ có thể quán tâm, mà sự quán sát đây không phải là sự quán sát một đối tượng độc lập. Hãy nhớ lại công án của thiền sư bạch ẩn: Tiếng vỗ của một bàn tay ngay chính trong bản thân của tâm. Điều này quan trọng đặc biệt, cho nên trong kinh quán niệm phật luôn dùng mệnh đề: quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, quán niệm tâm thức nơi tâm thức. Có người nói sự lập lại của những chữ cảm thọ và tâm thức là để nhấn mạnh. Tôi e rằng họ không hiểu ý của phật. quán niệm cảm thọ ơi cảm thọ là quán niệm của cảm thọ trực tiếp nơi cảm thọ, chứ không phải là quán niệm cảm thọ nơi một hình ảnh tạo ra về cảm thọ sau khi đối tượng hóa cảm thọ. Quán niệm cảm thọ onwi cảm thọ là tâm quán niệm tâm. đối tượng hóa để quan sát là phương pháp khoa học, không phải là phương pháp thiền quán. Cho nên hình ảnh người gác cửa và những khách vào ra gian phòng tâm thức không phải là hình ảnh hoàn bị để đem ví dụ cho sự quán sát tâm ý. Tâm như con vượn chuyền cành, Kinh hay nói như vậy. Chúng ta hãy tập quan sát con vượn, bám sát lấy nó, đừng để một cử động nào lọt ra khỏi nhãn quan ta. Hãy đồng nhất với nó. Tâm quán tâm nhưu bóng theo kình thì dù tâm ý chuyển đi đâu nó vẫn nằm trong sự kiểm soát của tâm. Kinh thường nói cột con vượn tâm lại. Đó chỉ là một cách nói thôi. Khi tâm thường trực quán tâm thì tâm không còn là một con vượn nữa. Không có hai tâm một tâm chuyền cành và một tâm đi kéo lại. 

Người tạo thiền thường mong thấy tánh để giác ngộ chứng đạo .Hành giả mới tập thiền đừng chờ đợi thấy tánh và giác ngộ. Tốt hơn là đừng chờ đợi gì hết. Nhất là đừng chờ thấy phật trong khi ngồi thiền. Trong 6 tháng đầu, hãy nỗ lực nhiếp tâm tạo nên trạng thái tĩnh lặng và an lạc. Người tác viên nên thực tập như thế, vừa rũ sạch được phiền não, vừa được nghỉ ngơi an lạc, vừa làm cho tâm hồn tĩnh lặng để cái thấy sáng thêm, để cái nhìn rộng thêm, để tình thương yêu có thêm thực chất. 

thiền tọa là thức ăn cho tâm linh nhưng cũng là thức ăn cho tình cảm và thể chất nữa. Thân thể ta cũng nhờ thiền tọa mà nhẹ nhàng an lạc hơn. Từ sự quán tâm đi tới sự thấy tánh con đường sẽ không gian nan lắm đâu nếu thực tập quán tâm thi hành đúng phép. Lúc thiền tọa mà đã tĩnh lặng, hình ảnh tư duy và cmar thọ không quấy động được rồi thì tâm bắt đầu an trú nơi tâm, tâm nhiếp tâm trong một hình thái trực giác mầu nhiệm, không có chủ thể và đối tượng, cũng như ta nhấp một chén trà mà tâm ý không còn phân biệt, ký ức không còn trấn ngự thì cảm thọ của ta về hương vị trà là 1 cảm thọ trực tiếp, một trực giác mầu nhiệm trong đó không còn có sự phân biệt chủ thể và đối tượng người uống trà và trà bị uống. Tâm vọng động cũng là tâm, như sóng nhấp nhô cũng là nước. Lúc tâm tĩnh lặng rồi thì vọng tâm cũng là chân tâm. Chân tâm là con người thật của ta, là phật, là đại thể, duy tính, duy nhất, không bị ngăn cách bởi ranh giới bản ngã, khái niệm và ngôn từ. Tôi không muốn nói nhiều về khía cạnh này đâu Thiều, chỉ chủ để có đầu có đuôi thế thôi. 

Một là tất cả, tất cả là một

Thiều ơi! tôi muốn dành mấy trang trong trang thư này để nói về các pháp quán niệm mà người tác viên có thể thực tập đạt dần tới trình độ phá chấp, vô úy và đại bi của các vị bồ tát. Đó là các pháp quán niệm về nhân duyên, vô thường và từ bi. 

Trong lúc thiền tọa, sau khi nhiếp tâm quán chiếu về tính cách duyên khởi của mọi hiện tượng. Phép quán niệm này khôn gphair là sự suy tưởng miên man về triết lý duyên sanh mà là sự thể nhập của tâm thức vào trong đối tượng tâm thức, dùng định lực để phơi bày mặt thực của những đối tượng này. 

Những ai đã từng học duy Thức đều biết danh từ nhận thức là để gọi chung chủ thể và đối tượng nhận thấy. Chủ thể nhận thức thực không có thể tồn tại độc lập với đối tượng nhận thức. 

Thấy là thấy một cái gì, giận là giận một cái gì, mơ ước là mơ ước một cái gì, tư duy là tư duy về một cái gì. Khi mà đối tượng nhận thức không có mặt thì không thể có chủ thể nhận thức. ( thấy nghe, giận, mơ ươc, tư duy). Người tạo thiền phải quán tâm, quán tâm thì thấy được sự tương sinh của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, và do đó khi ta quán niệm về hơi thở thì nhận thức về hơi thở là tâm. Khi ta quán niệm về thân thể thì nhận thức về thân thể là tâm. Khi ta quán niệm về vũ trụ vạn hữu thì nhận thức về vũ trụ vạn hữu cũng là quán niệ về tâm. Vậy quán niệm về thực tánh duyên khởi của vũ trụ vạn hữu cũng là quan sniemej về tâm. Tất cả mọi đối tượng của tâm thức đều là tâm thức. Trong đạo phật, đối tượng của tâm thức được gọi là pháp. Pháp được liên kê thành 5 loại: sinh vật lý ( sắc), cảm thọ ( thọ), tư duy ( tưởng_) hành nghiệp ( hành ) và nhận thức ( thức). Năm loại này được gọi là năm nhóm ngũ uẩn. Tư thế nhóm thứ năm ( thức) bao gồm cả 4 nhóm trước

Quán niệm về duyên khởi là nhìn sau vào các pháp để phát hiện tánh cahccs tương quan chặt chẽ của chúng, để thấy được chúng trong cái đại thể toàn nhất. Để thấy đợc thực tại không cắt xén thành từng mảnh nhỏ rời rạc khô chết. 

Đối tượng cần được quán niệm trước tiên là con người của chính ta, là hợp thể ngũ uẩn. Hành giả quán niệm ngũ uẩn của chính mình nơi tự thân. Hành giả ý thức được sự có mặt củ sinh lý, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp , và nhận thức. Hành giả quan sát những đối tượng ấy cho đến khi thấy rằng cái nào cũng có liên hệ thân thieets đến vũ trụ vạn hữu. Nếu không có vũ trụ vạn hữu thì hợp thể ngũ uẩn này cũng không thể có được. 

Cũng như một cái bàn, cái bàn có được là nhờ những hiện tượng khác mà ta không gọi là bàn. Ví dụ rừng cây, người thợ gỗ, người thợ mộc, sắt để làm đinh, cưa và búa, bút chì và hàng trăm hiện tượng khác liên hệ xa gần tới cái bàn như cha mẹ người thợ mộc, sự hình thành xưởng mộc. 

Nhìn thấy thực thể của cái bàn thì ta thấy nơi sự có mặt của những hiện tương mà ta không gọi là bàn. Trả lại tất cả những hiện tượng không bàn về cho vũ trụ: đinh về cho sắt, gỗ về cho rừng, người thợ mộc về cho cha mẹ ... thì cái bàn không còn có thể có mặt nữa. người nào nhìn thấy cái bàn mà thấy được vũ trụ, người ấy thấy được đạo. 

Hành giả quán chiếu hợp thể ngũ uẩn của mình bằng cách đó cho đên skhi thấy được sự có mặt của cái nhất thể thực tại nơi thân mình, mình cùng với sự sống của đại thể thực tại là một. Trả năm uẩn về thì tự ngã khoogn còn nữa. Vũ trụ vạn hữu đang nuôi dưỡng hợp thể ngũ uẩn từng giây từng phút, tự ngã chỉ là hợp thể ngũ uẩn đó chứ không còn là gì khác và hợp thể ngũ uẩn đó cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành tồn tại và hoại diệt của vạn hữu trong vũ trụ. 

Độ nhất thiết khổ ách

Thói thường con người hay cắt xén thực tại ra từng mảnh nhỏ tách biệt, ít thấy liên quan duyên khởi của các hiện tượng. Thấy được tất cả trong cái một, thấy được cái một trong tất cả là phá được một thứ cố chấp lớn mà đạo phật gọi là ngã chấp. Chấp ngã tức là chấp vào sự có những thực thể bất biến, những mảnh nhỏ rời rạc khô chết biệt lập với nhau. Phá được cái chấp ấy thì thoát ra ngoài mọi sợ hãi. Bát nhã tâm kinh nói rằng: Khi bồ tát quan thế âm quán chiếu về hợp thể ngũ uẩn và phát hiện ra cái trống rỗng của tự ngã thì tức khắc ngài vượt thoát ra ngoài mọi khổ đau, ách nạn. Thiều cũng vậy, tôi cũng vậy, các tác viên khác cũng vậy. Nếu chúng ta thực tập quán niệm một cách dũng mãnh, tinh tiến thì chúng ta cũng thoát ra được mọi khổ đau ách nạn, nhất là mọi sự sợ hãi. Bồ tát quan thế âm thường được mô tả như một sự chuyên môn đi hiến tặng sự không sợ hãi ( vô úy thí). tặng phẩm ấy có chi là lạ. Đó là phương pháp quán duyên khởi nơi ngũ uẩn. Điều quan trọng là nếu người tặng đã tặng hết lòng thì người nhận cũng phải nhận hết lòng, như thế thì tặng phẩm mới có thể tới nay. 

Hành giả phải tháo gỡ mọi bưng bít để sự sống của mình hòa vòa sự sống của đại thể. Con người không phải là những đơn vị đóng kín trong một lớp vỏ dày và đang chu du trong không gian và thời gian. Sống kiếp trăm năm hay sống ngàn năm muôn kiếp trong chiếc kín không phải là sống, mà cũng không phải là chuyện có thể có được. Sự sống của mình có mặt nơi những thực thể khác và những thực thể khác lại có mặt nơi mình. Mình là sự sống và sự sống không có biên giới. Có như thế thì mình mới sống được cái sống của vũ trụ, của người anh em, vui được cái vui của người anh em. Sự sống của mình đã không có biên giới thì sự còn mất của một hợp thể ngũ uẩn nào có nghĩa gì. Sự thăng trầm và tính cách vô thường của vạn hữu, sự đắc thất không còn lung lạc được mình nữa. Bởi vì hễ thấy được lẽ duyên khởi thì những thứ ấy không còn khống chế được mình và mình thoát ra được mọi khổ não. Ta hãy ngồi lại trong tư thế kiết già, điều phục hơi thở và hơi nhất chi mai. 

quán duyên khởi phải quán cho chuyên cần. trong lúc thiền tọa ta đã quán thành mà trong lúc giao tiếp công tác thường nhật ta cũng phải quán, phải thấy được người đối diện là mình và mình là người đối diện. phải thấy được quá trình duyên khởi của mọi sự đã, đang và sẽ xảy ra. 

Du ngoạn trên những đợt sóng sanh tử

Thiều ơi. Nói chuyện về những người tác viên tôi không thể không đề cập đến vấn đề sống chết. Phụng sự trong hoàn cảnh như hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam, ta thường trực đối diện với cái chết. Bao nhiêu anh em trong số chúng ta đã hy sinh thân mạng rồi. Liên, Vui, Tuân , Huy, Thỉ , Hành, Mai, Hùng, Toàn và tám người khác trong chín năm nay đã biệt vô âm tín. Trong khi xông qua rừng lửa đạn, trong khi khiêng chôn những xác chết. Trong số chúng ta có những thanh niên tăng ni đã theo tiếng gọi của tình huynh đệ mà đi làm tác viên xã hội nnuwng vẫn nhớ rõ rằng vấn đề chính yếu của thiền môn là vấn đề sống chết. Đã biết sự sống và sự chết chẳng qua là hai mặt của cuộc đời, ta can đảm đối diện với cả sự sống lẫn sự chết. Ngày xưa hồi mười chín tuốt, khi nghe giảng đến phương pháp quán xác trong những bãi tha ma, tôi thấy bi thảm quá và hơi có thái độ phản đối. Nhưng bây giờ tôi không còn thấy như thế nữa. Ngày xưa tôi nghĩ phép (Cửu Tưởng Quán) chỉ nên để dành đến khi mình lớn tuổi, vào khoảng ba mươi lăm, bốn muowai tuổi. Nhưng tôi đã thấy những người trẻ tuổi xứ ta nằm ngã gục bên nhau, có người mới chỉ mười bốn hay mười tám tuổi .không chuẩn bị trước ta không sẵn sàng để đối phó với cái chết. với lại tôi thấy rằng nếu không biết chết thì ta cũng chưa biết sống. Bởi vì chết là một phần của sự sống . Quỳnh hoa nói với tôi mới đây hai hôm: tuổi hai mươi đã có đủ năng lực để quán cửu tưởng. Quỳnh Hoa nói như vậy bởi vì cô ta vừa được hai mươi mốt tuổi. Ta phải giáp mặt sự chết và nhận diện nó như ta đã giáp mặt và nhận diện sự sống vậy. 

Quán như thế đến khi nào bình tĩnh, miệng mỉm cười, tâm trí nhẹ nhàng thì thành công. Lúc bấy giờ ta không còn bi quan mà lại còn thấy sự sống quí giá, đáng sống từng giây từng phút. Không những sự sống nơi ta mà cả sự sống nơi mọi người, mọi sinh vật, mọi thực vật. Ta không còn bám bíu sự sống đến mức phải đi tiêu diệt sự sống của kẻ khác để nuôi dưỡng sự sống của mình. Ta thấy được sống chết là hai mặt của sự sống, cũng như mặt trái và mặt phải của cùng một mặt trăng. Lúc bấy giờ ta siêu việt được sinh tử và mới thực sự biết sống và biết chết. Linh nói Những vị bồ tát đạt được chân lý duyên khởi, phá vỡ cái vỏ ngã chấp thì có thể vào sanh ra tử như người đi du ngoạn ngồi trên những đợt sống mà không bị những đợt sóng sinh tử làm chìm đắm. 

Thiều ơi. Có người nói nhìn thực tại với con mắt phật tử thì sẽ thấy bi quan. Thực ra bi quan hay lạc quan là những gì quá dễ dãi. Vấn đề là nhìn thấy thực tại một cách thấu đáo. Một tâm trạng bi quan chẳng bao giờ đưa tới được nụ cười trầm tĩnh mà ta thấy nở trên môi các vị bồ tát và những người đạt đạo. 

Cây bưởi trước nhà

Tôi đã nói với Theiefu về phương pháp quán niệm duyên khởi. Thiều cũng biết tất cả các phương pháp quán niệm trong đạo phật đều phải được xem là phương tiện mà khôn gphair cứu cánh hay chân lý tuyệt đối. Quán niệm duyên khởi là phá tan những biên giới giả tạo giữa các hiện tượng để thể nhập vào hòa điệu đại đồng của sự sống mà không phải xây dựng và cố chấp một triết thuyết gọi là triết thuyết duyên khởi. Herman Hesse trong cuốn Câu chuyện dòng sông chưa thấy được nên đã đặt vào miệng chàng tất đạt đa một lời phẩm bình về triết lý duyên khởi nghe còn non nớt. Nhà văn nói rằng lý duyên khởi cho thấy hình ảnh một vũ trụ trong đó mọi vật tương quan duyên mà hiện hữu, không có một kẽ hở nào để chứng tỏ có sự sai lệch ra ngoài luật tương quan tương duyên ấy. Do đó, ông không thể quan niệm được vấn đề giải thoát trong vũ trụ này. 

Trong duy thức học, ta thấy có phép quán niệm về ba tự tánh của thực tại. Tự tánh biến kế chấp, tự tánh y tha khởi và tự tánh viên thành thật. 

Quán duyên khởi nên theo sự hướng dẫn của Duy Thức, vì quên lãng và thành kiến nên ta thường phủ lên thực tại một lớp cố chấp. vì vậy, thực tại bị mang màu sắc biến kế chấp. Biến kế chấp là cái sai lầm về thực tại, cho rằng thực tại là những thể tách biệt, những cái ngã. Đó là nguyên nhân của sự phân biệt, kỳ thị, giận hơn. Để phá biến kế chấp, người hành giả quán niệm tự tánh y tha khởi, tức là sự tương quan tương duyên của vạn hữu trong quá trình sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Y tha khởi cần được sử dụng như một dụng cụ quán chiếu mà không được nhận thức là một triết thuyết. 

Quán chiếu y tha khởi là để thực chứng thực tại, thể nhập thực tại, chứ không phải là để bị kẹt vào y tha khởi. Cũng như dùng chiếc bè để qua bờ chứ không phải để đội lên đầu, do ngón tay chỉ mặt trăng mà thấy được mặt trăng chứ không phải lầm ngón tay là mặt trăng. 

Hành giả coi cố chấp và y tha khởi như một hệ thống khái niệm thì sẽ bị mắc kẹt. 

Vì vậy, phải có tự tánh viên thành thật. Viên thành thật là một danh từ để chỉ thực lại một khi thực tại đã được thoát khỏi màu của biến kế chấp. Viên thành thật có nghĩa là thế này: Thực tại là thực tại, siêu việt khái niệm. Bất cứ khái niệm nào cũng không thể miêu tả được nó, dù cho nó là khái niệm y tha khởi. Cho chắc hơn, Duy thức đề ra tam vô tánh để trung hòa tam tự tánh, tránh cho người học đạo không mắc kẹt vào ba tự tánh. Tinh hoa của Đại Thừa là ở chỗ ấy. 

Khi mà thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì người hành giả đạt được thứ nhận thức gọi là vô phân biệt trí. Nhận thức ở đây là sự cảm thông màu nhiệm trong đó không có sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Như tôi đã nói với Thiều một lần rồi, đây không phải là một cái gì xa xôi đâu Thiều. Bất cứ ai trong chúng ta có thực tập chút ít đều có thể nếm được mùi vị 

Trên bàn tôi có một xấp hồ sơ cô nhi. Mỗi ngày tôi dịch một ít phụ với các bạn. Khi khởi đầu dịch một hồ sơ, tôi nhìn vào tấm hình em bé và tự nhiên những nét mặt của em gợi nhiều hình ảnh về bản thân tôi và sự liên hệ giữa tôi với các em khiến tôi đi vào một sự cảm thông rấ mầu nhiệm. Bây giờ viết những dòng này, tôi thấy rằng trong giờ phút cảm thông ấy, tôi đã dịch những dòng chữ trong hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không thấy có tôi là người dịch hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không thấy có tôi là người dịch hồ sơ giúp cho em bé, tôi không thấy có em bé là đối tượng của sự thương yêu và giúp đỡ. 

Em bé và tôi lúc ấy là một, không có ai thương ai, không có ai nhờ ai, không có ai giúp ai. Không có bổn phận cũng không có công tác. Không có từ bi, không có Ba La Mật. Cái giờ phút cảm thông đó, nếu chẳng là một tia sáng của vô phân biệt trí thì còn là gì nữa hả Thiều. Khi thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì cây bưởi trước nhà cũng biểu hiện tự thân của nó một cách toàn vẹn. Cây bưởi lúc bấy giờ là chân như, là phật tánh, là thực tại. là mình. Bao nhiêu người đi qua sân mà đã có mấy người thấy được cây bưởi. 

Người nghệ sĩ có tâm hồn thế nào đó cho nên thấy được cây bưởi nhiều hơn, sâu hơn kẻ phàm phu. Sở dĩ có một sự cảm thông nào đó vì lòng anh rộng mở. Ăn thua là ở lòng mình. Nếu lòng mình không bị kiến chấp ràng buộc thì tự nhiên mình đi vào chỗ cảm thông với cây bưởi và cây bưởi sẵn sàng biểu lộ tự thân toàn vẹn của nó với mình. Thấy cây bưởi tức là thấy đạo. 

Có một thiền sư được hỏi về chân ý mầu nhiệm của thực tại bèn chỉ ra gốc Bạch Dương mà nói: Nhìn cây Bạch Dương kia kìa. Thiều có hiểu ngụ ý của vị thiền sư không. Có chứ phải không!

Tiếng hải triều vang dậy. 

Khi tâm được giải tỏa, ta thấy lòng tràn ngập cảm thương, cảm thương cho chính ta trải qua bao khổ đau chỉ vì chưa thấy được chính mình, chưa thấy được sự sống, chưa cởi bỏ được cố chấp, ganh ghét thù hận. Còn tiếp tục gây khổ cho người khác. Ấy là ta biết nhìn ta và nhìn người bằng con mắt từ bi. Lấy con mắt từ bi để nhìn mọi người. Từ nhãn thị chúng sanh là câu kệ trong kinh Pháp Hoa nói về Đức Bồ tát Quan thế âm. Đức từ bi của vị bồ tát này là một tiếng kêu gọi vọng suốt thời gian và không gian, tiếng kêu gọi của người đã thấy được thực tại toàn vẹn. 

Tiếng màu nhiệm, tiếng của người nghe được lời kêu đau thương của cuộc đời, tiếng tôn quý, tiếng sóng biển vang dậy. Tiếng siêu việt mọi thứ tiếng, trong đời ta hãy thường quán niệm tiếng ấy. 

Bỏ ra ngoài mọi nghi hoặc, hãy quán niệm bản chất thanh tịnh và siêu việt của Quan thế âm, bởi vì trong mọi trường hợp khổ não, tử sanh, ách nạn, sự quán niệm ấy sẽ là cánh cửa đi tới giải thoát. 

Ngouowif đầy đủ mọi công đức, thường lấy con mắt từ bi để nhìn chúng sinh, khiến cho hạnh phúc chảy tụ thành biển vô lượng, ta hãy cúi đầu làm lễ người ấy.

Diệu âm quan thế âm

phạm âm hải triều âm

Thị có tu thường niệm. 

Niệm niệm vật sanh nghi

Quan thế âm tịnh thánh

Ư khổ não tử ách

Năng vị tác y hộ

Cụ nhất thiết công đức

Từ nhãn thị chúng sanh

Phước tụ hải vô lượng

Tập nhìn chúng sanh với con mắt từ bi đó là một phép quán gọi là từ bi quán. Từ bi quán nên được thực hiện trong những giờ tọa thiền và cả trong những lúc giao tiếp phụng sự. Đi đâu, ngồi đâu cũng nên nhớ tiếng gọi của quan thế âm bồ tát - từ nhãn thị chúng sanh. 

Thiều ơi! Đối tượng và phươn gphaps thiền quán nhiều lắm. Trong kinh hệ Pali gọi là kamatthana, nhưng tôi sẽ không viết hết được cho Thiều và các bạn đâu. Tôi đã chỉ viết một vài phương pháp giản lược nhưng căn bản. Người tác viên cũng như mọi người, anh phải sống đời sống của anh, chị phải sống đời sống của chị. Làm việc chỉ là một phần của sự sống, làm việc trong chánh niệm mới là sống, mới khỏi bị liệt vào hàng Sống như một người chết. Mỗi người chúng ta cần sự thắp đuốc lên mà đi. Nhưng sự sống của chúng ta có liên hệ tới sự sống của những người xung quanh. Nếu ta biết sống chánh niệm, nếu ta biết giữ gìn tâm ý thì anh em chúng ta cũng được nhờ đó mà biêt sống chánh niệm, giữ gìn tâm ý. 

Nước sông trong hơn, cỏ cây xanh thêm.

Thiều ơi, có một lần đức mâu ni nói vấn đề sống chết là vấn đề chánh niệm. Còn hay mất là do có chánh niệm hay không. Trong kinh Samyutta Nikeya 47.20 NGài kể chuyện xảy ra trong một làng kia. 

Một vũ nữ hoa hậu vừa tới trong làng và dân chúng đổ xô đi xem chật đường chật ngõ. Lúc đó có một tên tử tội được áp giải đi ngang qua làng. Tên tử tội được lệnh phải nâng trong hai tay một bát dầu đầy tới miệng chén. Anh ta phải giữ ý tứ, nếu dầu trong chén sóng sánh rơi xuống đất một giọt là tên lính đi sau sẽ lấy mã tấu chém đầu tức khắc, bởi vì nhà vua ra lệnh cho hắn như vậy. 

Kể đến đây, Đức thế tôn hỏi: 

Này các thầy, trong trường hợp đó người tử tội có thể dễ dàng được không?

có một lần phật kể chuyện sau đây khiến tôi thấy được tất cả sự quan trọng của việc thực tập chánh niệm nơi tự thân mình. Nơi tự thân mình nghĩa là mình lo phận mình chứ đừng lo rằng người khác không chịu thực tập như mình, rồi sanh lo lắng và trách móc. phật nói

có thầy trò một nhà kia làm nghề mãi võ., Người đàn ông góa vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là meda kathullika. Hai thầy trò trình diễn để kiếm ăn. Họ dựng một thân tre cao, người đàn ông đặt cây tre trên đỉnh đầu mình trong khi em gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó để người đàn ông tiếp tục di chuyển trên mặt đất. Cả hai đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý một mức khá cao để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai nạn có thể xảy ra. Một hôm người kia đặn học trò:

Này Meda Kathulika, con hãy giữ gìn cho ta và ta sẽ giữ gìn cho con, chúng ta hãy giữ gìn cho nhau, để tránh được tai nạn và để thầy trò mình kiếm được ít tiền ăn. Đứa bé gái vốn thông minh trả lời rằng. Thưa thầy có lẽ ta nên nói thế này đúng hơn: Trong hai thầy trò ta mỗi người nên tự gìn giữ lấy mình, gìn giữ lấy mình tức là gìn giữ cho nhau tránh được tai nạn và để thầy trò mình kiếm được ít tiền ăn cơm. Đức phật nói: đứa bé nói đúng. 

Trong một gia đình có người biết tập chánh niệm thì tất cả thành viên gia đình được nhờ cậy hạnh tu, cả gia đình nhờ sự có mặt của một người sống trong chánh niệm mà được nhắc nhở rằng: mình cũng phải sống trong chánh niệm. Trong tập thể có một người sống trong chánh niệm thì cả tập thể đều được thừa hưởng bởi vì sự có mặt của người kia cũng được xem như sự có mặt của một Đức Phật. Trong gia đình Thanh niên phụng sự xã hội, ta nên biết thực hiện nguyên tắc đó, đừng lo ngại rằng người đồng sự của mình không xứng đáng mà chỉ nên nghĩ đến là làm sao cho mình được xứng mà chỉ nên nghĩ đến là làm sao cho mình được xứng đáng. Mình xứng đáng, đó là cách hữu hiệu nhất để nhắc nhở các bạn trong cộng đồng của mình. Mà muốn xứng đáng phải thực tập chánh niệm. Thực tập chánh niệm mới không đánh mất mình, mới có đủ an lạc sáng suốt, mới nhìn được mọi người với đôi mắt thương yêu cởi mở. 

Thiều ạ. Tôi mới vừa ở nhà dưới lên. Tôi xuống để pha một tách trà, uống cho đỡ khô trước khi viết tiếp cho Thiều. Chị Kirsten pha trà cho tôi. Thấy chiếc dương cầm tôi nói với chị: Thôi, chị ngưng dịch hồ sơ cô nhi đi và đàn cho tôi nghe 5 bảy phút. Kirsten chiều ý ngồi xuống đàn, chị đàn một khúc của chopin mà hồi còn nhỏ chị rất quen thuộc. 

Ba câu trả lời mầu nhiệm. 

Để kết thúc thư này, tôi xin kể rằng Thiều và các bạn một câu chuyện mà văn hào Lev tolstoy đã kể và tôi tin là thiều và các bạn trong trường sẽ thích lắm. Đó là câu chuyện " Ba câu hỏi khó của nhà vua". 

Nhà vua ấy Tolstoy không biết tên. Một hôm vua nghĩ rằng: Giá mà vua trả lời được ba câu hỏi thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là

1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc

2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan tọng nhất mà ta phải chú trọng

3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện

/Nghĩ thế vua liều ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được ba câu hỏi đó. 

Các bậc hiền thần đọc chiếu liền tìm đến kinh đô.Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. 

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng: muốn biết thời gian nào là thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng. Có ngày, giờ, năm, tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy, như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính trước được những gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy. Rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy ra tới để có làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng dù vua có chú ý tình hình mấy đi chăng nữa thì một mình vua cũng không đủ để định đoạt thời gian làm việc một cách sáng suốt. Do đó nhà vua phải thành lập một hội đồng nhân sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng có những công việc cần phải quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ tham khảo xem đã đến úc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy thời điểm cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xảy ra, do đó nhà vua phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. 

Về câu hỏi thứ hai cũng có nhiều tấu trình không giống nhau. Có người nói những nhân vật vua cần chú ý nhất là những đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông giám mục thượng tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lĩnh trong quân đội là quan trọng hơn hết. 

Về câu hỏi thứ ba các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan tọng nhất. có người nói chính trang quân đội là quan trọng nhất. 

vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không đồng ý với vị nào cả và chẳng ban thhuowngr cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định chất vấn một ông đạo tu trên núi. Ông đạo này nổi tiếng là người có giác ngộ. Vua muốn tìm lén trên núi gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia vì vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo. Chẳng bao giờ ông chịu tiếp những người quyền quí. Nhà vua cải trang làm thường dân, khi đi đến chân núi vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới và một mình vua trong y phục một thường dân trèo lên am của ông đạo. Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đát dưới am. Khi trông thấy người lạ ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đạo đã già yếu. Mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hổn hển. Nhà vua tới gần ông Đạo và nói : Tôi tới đây để xin ông Đạo trả lời giúp ba câu hỏi: làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc. Ai là người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả, và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước. 

Ông Đạo lặng nghe nhà vua, nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cuối cùng tiếp tục cuốc đát. Nhà vua nói ông đạo mệt lắm rồi,, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát. Vị đạo sĩ cảm ơn, trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. 

Cuốc xong được hai vòng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông Đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy  VÀ ĐƯA TAY RA ĐÒI CUỐC miệng nói: bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại tiếp tục cúi xuống cuốc đát. 

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua, rồi mặt trời bắt đầu khuất sâu đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc và nói với ông đạo. 

Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi, nếu ông đạo không trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho tôi biết để tôi còn về nhà. 

Chợt lúc đó, ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua. Bác thử xem có ai chạy lên kìa, nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng máu chảy ướt đẫm cả hai tay, ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im baatd động miệng ren rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy 1 vết đâm saau nơi bụng. Vua rua chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngưng chảy. Lúc bấy giwof người bị thuowgn mới tỉnh dậy và đòi uống nước. 

vua chạy đi múc nước suốt cho ông ta uống, khi đó mặt trời đã khuất núi và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông Đạo, nhà vua khiêng người tị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường của ông Đạo. Ông ta nhắm mắt nằm im. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa mà ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi nhà vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc lâu sau vua mới nhớ được là mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giaacs rồi và đang nhìn mình thì cất giọng rất yếu. Xin bệ hạ tha tội cho thần. Vua đáp ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha. Bệ hạ khong biết hạ thần nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạn bằng được, bởi vì ngày xưa trong chinh chiến bệ hạ đã giết mấy người anh và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa. Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông Đạo sĩ nên đã mai phục quyết tâm giết bệ ạ trên con đường xuống núi. nhưng đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà lên núi tìm bệ ạ. Hạ thần lại gặp bọn vệ sĩ. Bọn này nhận mặt được hạ thần nên đã xúm lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được nên chạy xuống đây. 


Thay đổi để tốt hơn

 18.08.2026 Những đội kiếm được tiền từ cty này là đội MH. còn đôi kinh doanh thì không nhiều nhưng vẫn oke.  Còn đội mà lấy từ cty này kĩ n...