Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

Hạnh phúc mộng và thực

 Nếu tới làng mai cách đây mười hai năm, quí vị sẽ thấy quan cảnh của làng không giống bây giờ. Thí dụ pháp đường chuyển hóa là một chuồng bò, phân bò chất lên rất cao, phía trên toàn là rơm và sàn gỗ mục hết. Mỗi khi có việc cần vào, ta thường bị những con mạt cắn khắp mình, khi ra phải đi tắm mới hết ngứa. Cỏ dại mọc khắp nơi, phật đường trúc lâm tức là căn phòng đẹp nhất của xóm thượng cũng là một chuồng bò chứa phân cao tới gần một thước tây. Chúng ta đã để ra rất nhiều tuần lễ mới chở hết phân ra, rồi phải dùng một máy xịt nước rất mạnh để rửa từng viên đá. Quang cảnh của làng mai cách đây mười hai năm rất khác với bây giờ. trong suốt 12 năm đó, chúng ta đã cày bừa, dọn dẹp, sắp đặt và quang cảnh của làng mai ngày nay tuy chưa được như mình mong ước nhưng cũng đã khá hơn trước rất nhiều. 

Khi mới đến một vùng đất hoang để khai khẩn, mảnh đất đó có thể làm cho ta nản lòng vì cỏ gai và chướng ngại vật đầy dẫy. Ta cần phải đào, phải bứng, phải chặt, phải cày, phải bừa. Người làm việc có phương pháp. lúc mới đến họ thường chụp hình khung cảnh đất hoang, rồi mới bắt đầu khai khẩn, xây cất. Sau một hai năm xây dựng họ đem hình ra xem để thấy sự khác biệt giữa hai quang cảnh mới và cũ. 

Tu học là điều phục tâm

Sự tu học của chúng ta cũng như vậy. Trước khi tu thì tâm của ta rất là hoang vu và gai góc. Ta tạo ra rất nhiều đau khổ cho chính ta và cả cho những người chung quanh. 

Này các vị khất sĩ, không có một sự vật nào khi không được điều phục mà có thể đem lại nhiều đau khổ như tâm của chúng ta. 

Này các vị khất sĩ, không có vật nào khi đã được điều phục và chế ngự mà lại có thể đem lại nhiều hạnh phúc như tâm của chúng ta. 

vì vậy tu học có nghĩa là điều phục tâm, làm việc với tâm. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ. Tâm không được điều phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những bất lợi lớn. 

Bất lợi lớn ở đây có nghĩa là những đau khổ cho chính bản thân và những người xung quanh. 

Ta không thấy một pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có thể dưa đến lợi ích lớn như là tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ. Tâm được điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những lợi ích lớn. 

Lợi ích lớn ở đây là hạnh phúc cho chính mình và cho những người chung quanh. Khi tu, ta tu với các tâm của ta, nghĩa là ta điều phục bảo vệ và hộ trì cái tâm của ta. 

Tâm cũng như đất, chứa đầy hạt giống. 

Trong văn học phật giáo, tâm có khi được ví với đất. Tại bất cứ nơi nào ở xóm thượng, ngoài hạt giống rau dền, đất xóm thượng còn chứa rất nhiều loại hạt giống khác. 

Ta thường chứa hạt giống trong bồ hoặc trong nhà để chờ ngày gieo và do đó nghĩ hạt giống là một cái gì có ở ngoài đất. Kỳ thực, hạt giống luôn luôn nằm trong đất. Nếu ta có hạt giống chứa trong bồ thì hạt giống cũng từ lòng đất mà ra, chứ không phải từ trên không rơi xuống rồi đem cất vào bồ. Cái ý niệm đất là tâm là một ý niệm vô cùng tuyệt diệu, vì vậy cho nên ta có chữ tâm địa. Trong đất tâm, ta có đủ mọi hạt giống: hạt giống của  gai góc,  của tham giận, của si mê, của kiêu căng, của ganh tị... Nhưng trong tâm ta cũng có các hạt giống hạnh phúc, của giác ngộ, của giải thoát, của sự tha thứ, của sự thương yêu... Tu học có nghĩa là phân biệt cho được những hạt giống đó để chuyển hóa những hạt giống xấu và tưới tẩm những hạt giống tốt. 

Trước khi tu tập, đất tâm của ta rất cứng và với đất đó ta không làm gì được cả. Vì vậy, việc đầu tiên là phải cày đất. Lưỡi cày đất tâm là chánh niệm. 

Ở làng mai, đứng trên đồi nhìn xuống, ta thấy những ruộng nho, những đồi mận rất đẹp. Ta nên biết rằng những vùng đất đó đã dược cày bừa rất kỹ lưỡng. Tại Xóm Hạ, đất ở các vườn trồng rau trong nhà mặt trời đã được chuẩn bị thật kỹ cho nên ta mới có các loại rau mọc lên rất mạnh và tốt tươi. Sư cô bảo nghiêm và sư cô chân vị là hai người đã để ra tất nhiều thì giờ và công phu để chăm sóc những vườn rau ở xóm hạ. Các sư cô biết rất rõ nếu không xới, không nhổ cỏ, không làm cho đất mềm, đất nhuyễn thì không thể nào trồng rau được. Tâm của ta cũng vậy, nếu tâm của ta không được điều phục không được uốn nắn, không được bảo hộ  thì tâm của ta sẽ gây ra đau khổ và không thể nào tạo được hạnh phúc cho mình và cho người. 

Ba tâm sở mới trong đạo bụt nam tông

Trước hết là tâm sở nhu nhuyễn,  nhu nhuyễn là mềm. Tâm nhu nhuyễn dễ làm việc lắm, còn nếu tâm cứng ngắc thì rất khó làm việc. Đất cứng mà không cày thì không trồng trọt gì được. Hãy lấy một cành cây khô mà ta lượm ở pháp thân tạng làm ví dụ. Khi ta uốn cành cây khô này thì nó gãy. Trong khi đó với một cành tre nen hay một dây mây, ta có thể uốn nắm một cách rất dễ dàng. Sự khác nhau giữ cành cây khô này thì nó gãy. Sự khác nhau giữa cành cây khô và sợi dây mây là ở chỗ một bên có sự nhu nhuyễn, một bên không có sự nhu nhuyễn. Tâm của ta cũng vậy, có khi nó cứng ngắc, cố chấp đủ thứ, dù có người muốn giúp, cố nói cho ta nghe một điều gì đó nhưng tâm ta nó vẫn trơ trơ vẫn không lay. Tâm đó gọi là tâm không nhu nhuyễn. 

Một tâm sở khác là tâm thích ứng. Ngày xưa dịch là tâm thích nghiệp, vì trong đó có chữ karma, nhưng dịch là tâm thích ứng thì dễ hiểu hơn. Tâm thích ứng là tâm uyển chuyển, tâm có thể chấp nhận được những hoàn cảnh mà ta không chờ đợi trước. Ví dụ ta có một ý niệm về làng mai, nghĩ rằng làng mai là thế này hoặc thế kia, nhưng khi về tới làng thì thấy làng mai không giống như những điều mà ta đã vẽ ra, đã suy nghĩ đến, vì không bỏ được cái ý niệm trước của ta về làng mai nên ta không thích ứng được. Kết quả là ta cảm thấy thời gian ở làng mai không hạnh phúc vì những điều ta mong đợi đã không xảy ra. Tâm đó gọi là tâm không thích ứng. Trong khi đó, tâm thích ứng là tâm dễ hội nhập với hoàn cảnh trong hiện tại. 

Tâm hữu năng dihcj là tâm tinh luyện hay tâm xảo diệu. Tâm xảo diệu là tâm có khả năng làm được những việc mà nhưng xtaam khác không thể làm được. Người có tâm đó thì rất khéo léo,,khéo léo như hai bàn tay của một cô y tá khi chích thuốc hay băng bó. Phải luyện tập lắm mới có được hai bàn tay của cô y tá. Ai muốn biết bàn tay cô y tá ntn thì hỏi sư chị. Tâm của mình cũng vậy, khi tâm của mình xảo diệu thì mình có thể đối cơ, đối cảnh và độ đời được một cách dễ dàng. Mình có thể sống với các sư em, sư anh, sư chị một cách rất hạnh phúc, còn nếu không có tâm xảo diệu, nếu cứng ngắc và không biết thích ứng thì mình chỉ chịu chết thôi. 

Tất cả những tâm sở và tâm hành này đều có hạt giống ở trong tàng thức. Nếu thực tập chuyện cày ruộng, thực tạp chuyện tu học hàng ngày thì hạt giống của tâm nhu nhuyễn, của tâm thcish ứn và của tâm xảo diệu sẽ tưới ẩm và ta sẽ trở thành một người sống có hạnh phúc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vì vậy mỗi khi giận, buồn, hoặc thất vọng ê chề, ta thối thất muốn bỏ đi, muốn trốn tránh xã hội loài người thì ta phải biết rằng cái tâm của ta ddagng còn là một miếng đất hoang chưa được cày bừa, chưa được tu tập. Bụt dạy rằng tâm không tu tập sẽ đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Vì vậy đối với người tu hành, công việc hàng ngày là cày cấy mảnh đất tâm của mình. Khi ngồi thiền mình cày ruộng tâm của mình. Khi đi thiền hành mình cũng cày ruộng tâm của mình. Khi nghe chuông, khi thở, khi ăn cơm đều là những lúc mình cày ruộng tâm của mình cả. Cũng vậy, khi lượm mận, làm mứt, nấu cơm, đều là những lúc ta cày miếng đất của ta. Đừng nghĩ rằng tu hành chỉ xảy ra trong khi ngồi thiền hay nghe thuyết pháp mà thôi. Cái tâm của mình phải luôn được tu tập. Theo danh từ hán việt, tu là làm cho đẹp, làm cho tốt, làm cho nó có thể sử dụng được như trong danh từ tu bổ. 

Hiện pháp lạc trú là sống hạnh phúc trong khi tu tập

Tại sao lại bỏ cái lạc thú heienj tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời như thế

Chúng ta thấy trong câu này có hai chữ hiện tại và phi thời, chữ hiện tại cũng như chữ phi thời mà vị thiên giả dùng là theo nghĩa ngoài đời, nó có nghĩa rất khác vưới chữ hiện tại và phi thời trong văn học đạo bụt. Phi thời ở đây có nghĩa là không đúng lúc, nó nằm trong tương lai chứ không có mặt ở hiện tại, nhưng đọc tiếp kinh này ta sẽ thấy rõ hai danh từ phi thời và hiện tại được dùng với ý nghĩa trong tinh thần đạo bụt. 

Ban đầu thầy Samiddhi cũng sử dụng hai danh từ đó theo cái nghĩa của vị thiên giả, và thầy trả lời: Tôi đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời. Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đấy chứ. Nói như vậy tức là thầy dựa vào giáo lý hiện pháp lạc trú mà đức thế tôn đã dạy cho thầy. Hiện pháp lạc trú là sống trong hiện tại với tất cả những niềm vui và sự an lạc của mình trong khi tu tập, chứ không phải tu để mong ước niềm vui trong tương lai, khôn gphair khổ để tu hành, khổ ấy vui. Điều này là rất quan trọng. Ví  như khi thiền hành mà quí vị nghĩ rằng đi thiền hành khổ cực bây giờ để mười năm sau sẽ có hạnh phúc, thì tất cả công phu đi thiền hành của quí vị đổ xuống biển hết. Đi thiền hành như vậy thì quí vị có đi mười năm cũng không ích lợi gì, tịa vì quí vị cho rằng đi tiền hành là một lao tác, một cực hình để đi tới một kết quả hạnh phúc an lạc trong tương lai. Vì vậy phương châm của sự thực tập là phải có hạnh phúc ngay trong khi thực tập. Đi thiền hành ta phải có an lạc ngay từ trong mỗi bước chân. Đây là nguyên tắc dẫn đạo cho sự tu học. Nếu tron gkhi đi thiền hành mà chúng ta không có an lạc thì đừng mong gì ta sẽ có an lạc trong tương lai. phải đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân nuôi dưỡng được mình và đem lại được niềm vui và sự an lạc cho mình ngay trong lúc đi. Từng bước chân thảnh thơi, có nghĩa như vậy.  Thức dậy hôm nay, tôi biết rằng tôi có hai mươi bốn giờ tinh khôi và tôi không muốn đi qua hai mươi bốn giờ đó như là đi trong mộng, tôi muốn đi trên miếng của thật tại, vì vậy tôi phải thắp lên ngọn đèn của chánh niệ, của tỉnh thức. Mỗi bước chân của tôi đều dẫm lên đất thật chứ không muốn dẫm lên trên thế giới của mộng mơ 

Ở đời có một chứng bệnh gọi là bệnh mộng du, mình đang ngủ mà mình đang đi. có những người ban đêm tự nhiên chổi dậy và đi. Họ đi trong giấc mơ mà họ không biết. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có những người đó mới đang mộng du thôi. kỳ thực trong đời sống hằng ng ày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du thôi. Kỳ thực  trong đời sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng du. chúng ta đi trên đất, bước trên đất mà giống như chúng ta bước trên mặt trăng. Có một thiền sư một hôm đi chơi trong vườn chùa với một số khách tới viếng thăm mà trong đó có thể có những vị xuất gia, đã dừng lại, chỉ vào một bụi cây có những cành lá rất xanh rồi mỉm cười nói. Người đời bây giờ nhìn những lá này, họ chỉ thấy được những cái lá này ở trong mộng. Tôi đang cùng đi với quí vị, nhưng có thể quí vị đang đi trong một giấc mơ. Chúng ta thấy có những người học phật, nhưng trong khi học hoặc bay bổng trên hư không. Sự học phật của họ, cái giáo lý mà họ học không dính líu gì đến đời sống hằng ngày của họ hết. Thành ra không hẳn là họ đang học đạo giải thoát, học đạo tỉnh thức. Họ đánh mất họ trong thế giới của suy luận, trong cái thế giới của siêu hình. Ăn một miếng cơm mà họ ăn trong giấc mơ, họ không thực sự ăn cơm tại vì cái tâm của họ hiện không có mặt. Họ bước một bước mà họ không thực sự bước trong gời phút hiện tại, tại vì họ không có chánh niệm. Khi dẫm chân trên thực tại ta tiếp xúc đượ cvowis chân như, tiếp xúc được với bản môn, tiếp xúc dược với niết bàn và kết quả là ta được nuôi dưỡng bằng cái chân như, bằng bản môn, bằng niết bàn, chứ ta không bị nuôi dưỡng bằng những cái hình bóng giả tạo trong mộng. 

Bảy đặc tính của chánh pháp. 

Hôm thứ năm vừa qua chúng ta đã nói về danh từ akalika và có nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa vua ba tư nặc và bụt thích ca hồi ngài còn ba mươi tám tuổi, bụt đã nói đại vương, vấn đề giác ngộ không phải là vấn đề thời gian. Đó là ý nghĩa vượt thoát thời gian, không phải già thì mưới giác ngộ mà trẻ thì không giác ngộ được. Tu học không phải là công chuyện chỉ nên làm khi chúng ta lớn tuổi. Trong minh tâm bảo giám, một cuốn sách mà tất cả các học sinh VN và Trung hoa thời xưa học thuộc lòng có câu. 

Mạc đãi lão lai phương học đạo

Cô phần đa thị thiếu nhiên nhân

Nghĩa là đừng đợi tuổi già rồi mới học đạo, những nấm mộ cô độc ở ngoài nghĩa địa phần lớn là những nấm mồ của người trẻ. 

Trong truyền thống bà la môn giáo ngày xưa, khi còn trẻ ta phải hưởng những thú vui dục lạc, phải cưới vợ, phải lấy chồng, phải sinh con. Đến khi con lớn rồi mới có quyền đi tu. Vua tịnh phạn đã hươn một lần trích dẫn quan niệm đó với thái tử tất đạt đa. Tuổi trẻ với tất cả năng lượng của nó mới có đủ sức để chọc thủng bức màn vô minh và đem lại ánh sáng giải thoát, nếu đợi đến khi già rồi thì làm sao còn có đủ sức để làm chuyện vĩ đại kia được. 

Tự mình có thể giác chi. 

Tự mình thông đạt. 

Quê hương đích thực và thiền đường trong giấc mơ

Ngày xưa có thể chúng ta đã có cơ hội sống với hiến pháp, nhưng đã bỏ cái thiên đường thật đó để chạy theo một thiên đường mà ta mơ tưởng, không bao giờ có thật. Trong một bài giảng bằng tiếng Anh trước khóa tu này, tôi có nói rằng mỗi người trong chúng ta đều có cảm tưởng là đã đánh mất cái thiên đường của mình và trong cuộc sống hiện tại, ta đang tìm lại cái thiên đường đó. Ta tin rằng có một nơi, có một cảnh mà trong đó nếu trở về được thì sẽ có an lạc, hạnh phúc, sẽ được che chở và có an ninh. Vì vậy mà suốt đời chúng ta cứ đi tìm một thiên đường trong giấc mwo. 

Người tu tịnh độ đầu tư vào việc tìm về bằng cách mỗi ngày lần bao nhiêu xâu chuỗi, niệm bao nhiêu chục ngàn danh hiệu bụt. Qua sự hành trì đó ta cũng nhận diện được ước muốn được trwor về với quê hướng đích thực của họ. Trong bài giảng tiếng anh nói trên tôi có nói rất rõ rằng, một ý niệm về quê hương đích thực. Khi nghe chuông ta thực tập: lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm, có khi ta nói đưa về quê hương. Như vậy chúng ta là nnhuwngx người đã mất quê hương đích thực và trong cuộc sống hằng ngày ta cứ mãi đi tìm cái quê hương đích thực đó. 

Quê hương đích thực là gì. Ý niệm của chúng ta về quê hương đích thực là gì? Quê hương đích thực là một nơi mà ta cảm thấy có an ninh, cảm thấy được che chở không phải lo sợ, không đánh mất chúng ta. Quê hương đích thực True home không phải là một cái ý niệm mà cũng không phải là một cảm tưởng. 

Ngay từ đầu, ý niệm về quê hương đích thực là một ý niệm mà ta cần phải cứu xét. Mỗi chúng ta đều giữ lại cái kỷ niệm một thời mà ta còn là bào thai trong lòng mẹ. Mỗi chúng ta đều cư trú khoảng chín tháng trong bụng mẹ. Bụng mẹ tiếng Hán Việt gọi là tử cung, nó có nghĩ là cung điện của đứa bé. 

Những nuối tiếc âm thầm trong tàng thức

Trong lý thuyết văn nghệ mác xít, người ta hay nói không được bôi đen thực tại, mà cũng không được tô hồng thực tại. Thực tại là thự tại, mình không nên bôi cho nó đen thêm, cũng khôn gneen tô cho nó hồng hơn. Trên lý thì như vậy, nhưng thực tế thì các nhà văn, nhà thơ, nhà họa luôn luôn có ý muốn bôi đen hoặc tô hồng. Tô hồng tức là làm cho đẹp hơn sự thật và tàng thức của chúng ta thường làm công việc đó. 

Có những điều mà trong khi tỉnh, ta biết rằng không đáng để ta theo đuổi, vậy mà trong giấc mơ ta vẫn theo đuổi. Khi nghe nói trong bụng mẹ tối hu và cung điện của đứa con không phải là cái đích mà ta tìm tới, thì ta có thể đồng ý một trăm phần trăm rằng đó không phải là quê hương đích thực của ta. Nhưng có thể trong giấc mơ ta vẫn âm thầm đi tìm về cái hướng đó. Và chính tôi có thể cũng đang làm như vậy! Thức dậy buổi khuya tôi vẫn thấy mình nằm ở trong tư thế ấy như thường. Thành ra ta phải biết sự thật là trong con người của ta có một sự mâu thuẫn, có một sự khác biệt giữa ý và tàng. Những đối tượng của năm thứ dục lạc kia, khi quán chiếu bằng ý thức, ta không thấy chúng có sức hấp dẫn như vậy, nhất là khi ta đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm, ta đã thấy rõ mặt mũi chúng. Ta nghĩ rằng ta đã được giải thoát rồi, nhưng than ôi, khi đi vào giấc mơ ta vẫn còn bị kẹt. Và vì vậy cho nên phải tiếp tục thực tập quán chiếu để chuyển hóa cái thấy của tàng vì cái thấy của ý chưa có nghĩa là ta đã được hoàn toàn giải thoát. Ta đã có thể cắt đứt những sợi dây kết sử phía trên phần ý, nhưng mà những sợi dây kết sử ở dưới phần tàng, gọi là hạ phần kết sử, hay là tùy miên, có thể ta chưa cắt đứt được, vì vậy cho nên ta đừng khinh thường. 

có một sư cô vì không gặp may mắn trên đường tu học, không có thầy giỏi, không có tăng thân tốt, nên đã không thành công trong việc chuyển hóa. Trong sự buồn đau và thất vọng đó, cô ngã bệnh. Trên giường bệnh, chỉ còn mấy ngày nữa là từ trần, cô bảo những người xung quanh hãy đme tới cho cô một muỗng nước mắm để cô uống. 

Sự tu hành của chúng ta hiện giờ cũng vậy. ta phải đạt cho được cái hạnh phúc trong khi tu học. đi tu là vì ta đã thấy được những sơn sốt, những đau khổ, những phiền não trong cuộc đời và cái thấy đưa tới một cái tâm muốn tạo hạnh phúc cho ta và cho người khác, muốn đem giọt nước thanh lương để xóa tan cái sầu khổ trong lòng mình và trong lòng người. Do đó mình phát ra một cái tâm rất đẹp, rất tươi, rất mát, gọi là tâm bồ đề, có khi gọi là sơ tâm. Sơ tâm tức là cái tâm ban đầu của người đi xuất gia. 

Ngũ Dục tạo nên những cơn sốt

ý niệm về hạn phúc là những chướng ngại của hạnh phúc

Trong ta mỗi người đều có một ý niệm về hạnh phúc. Ta nghĩ rằng hạnh phúc là phải như thế này hay như thế kia. nếu ta không được như thế này hay như thế kai thì ta kết luận là ta không có hạnh phúc. Ta cho rằng bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc của mình, và trong nhiều trường hợp, ý niệm về hạnh phúc của mình là chướng ngại căn bản để mình đạt tới hạnh phúc. Ví dụ mình ham muốn đậu được cái bằng đó, và nnghix rằng nếu không có cái bằng đó thì không bao giờ mình có hạnh phúc cả. Nhưu vậy tức là mình đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc. Trong khi mình đang có vô số cơ hội để có hạnh phúc,mình đánh mất hết, chỉ vì mình đã tự đóng khung cái hạnh phúc của mình vào trong cái ý niệm có bằng cấp kia. Đó alf một cái muốn, một thứ ái dục, ái dục về bằng cấp. Trong đời sống tu hành cũng vậy. là một ông thầy tu mình có thể nghĩ rằng muốn nói cho thiên hạ nghe thì mình phải có một cái bằng cấp vì có bằng cấp thì thiên hạ mới nể, thuyết pháp người ta mới nghe. Vì vậy cho nên mình phải xông xáo ra đời vài ba năm để học và giật cho được bằng cấp đó. Mình đâu có biết rằng vì ý niệm về bằng cấp mà sự nghiệp tu hành của mình có thể sẽ bị hư hỏng. Tóm lại tất cả đều do ý niệm của mình mà ra, và ý niệm thường rất dễ bị sai lạc. 

Có một anh chàng nói: Hạnh phúc của đời tôi là phải cưới cho được cô này, nếu không cưới được cô ấy thà rằng chết còn hơn, hạnh phúc khkoong thể nào có dược. Như vậy anh chàng đã cột đời của mình vào trong ý niệm  là phải cưới cho được cô kia. Cưới không được thì đời không còn có ý nghĩa gì cả. Tại sao đời không có ý nghĩa gì nữa cả. Đời còn nhiều nghĩa lắm chứ. Nhưng tại mình không thấy được tất cả những cái nghĩa khác của cuộc đời mà chỉ thấy có một nghĩa đó mà thôi. Cái đó gọi là ý niệm, ý niệm đó ở trong đạo bụt gọi là tưởng một cái tưởng của minh về hạnh phúc. 

Muốn sử dụng vô số những điều kiện để có hạnh phúc, muốn đừng dẫm lên những điều kiện của hạnh phúc mà đi, ta đừng nên bị ràng buộc vào một ý niệm nào về hạnh phúc cả. Khi đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc là ta không còn cơ hội nào khác để có hạnh phúc nữa. ý niệm hạnh phúc đó gọi là dục tưởng. 

Ý niệm về hạnh phúc hay dục tưởng là đối tượng cần quán chiếu. 

Ý niệm về hạnh phúc có thể là một ý niệm cá nhân, mà cũng có thể là một ý niệm có tính cách cộng đồng, goi là tâm thức cộng đồng. Nếu ta hỏi một người mỹ bình thường phải có những điều kiện nào mới có hạnh phúc, thì người ấy sẽ liệt kê những điều kiện tối thiểu mà một người mỹ phải có để có thể gọi là một người có hạnh phúc. Trước hết là phải có một trình độ học thức tương đương với BA hay BS, nghĩa là tốt nghiệp đại học cấp 1. kể để phải có công ăn việc làm tương đương với trình độ học vấn, lương đủ cao để có thể thuê 1 căn nhà, mua một chiếc xe. Trong nhà phải có TV tủ lạnh...Cái hạnh phúc đó gọi là ước lệ. Đó là ý niệm về những đk mà mình tin là cần thiết và là căn bản của hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ lại, ta thấy rằng rất nhiều người đang có những đk như vậy, nhưng không hạnh púc gì cả. Họ có thể đang bị đau khổ cùng cực. Ngay cả khi có nhiều hơn trên cả những điều kiện đã đòi hỏi, họ vẫn khổ đau vô cùng. Vậy thì ý niệm về hạnh phúc là một dideuf cần phải được quán chiếu, cần phải tìm hiểu vì ta có thể chết vì nó. 

Đừng nói gì ngoài đời, ngay ở trong đạo, người đã tu rồi, cũng có thể có một ý niệm về hạnh phúc.Ví dụ mình nghĩ là phải có một ngôi chùa riêng để tự do sắp đặt theo ý mình, để không phải làm theo điều người khác sai phái. Chừng nào làm trụ trì, làm viện chủ của một ngôi chùa rồi thì mới có quyền, mình có thể bảo chú này, cô kia làm theo điều này, điều nọ. Mình nghĩ: có một ngôi chùa riêng để làm chủ là điều kiện của hạnh phuc.s Nhưng than ôi, khi đã có một ngôi chùa riêng rồi mình mới biết rằng cái ý niệm về hạnh phúc có thể không đúng chút nào. Thật ra có một ngôi chùa, có một trung tâm tu học không phải là điều dễ. Ta có thể căn cứ vào điều kiện đó để tạo rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng không hẳn phải làm chủ một ngôi chùa mới có thể làm được những điều đó. Nếu mình là một người có hạnh phúc, có khả nwang hướng dẫn tu học và tạo dựng hạnh phúc cho người, thì không có chùa mình vẫn làm được việc đó. Mình lại khỏi phải chăm sóc và lo lắng cho ngôi chùa như một vị trụ trì. Nhiều khi không có chùa mình có thể tọa hạnh phúc cho mình và cho người gấp mười, gấp trăm lần khi mình có một ngôi chùa. Có rất nhiều người đau khổ vì không gọi bằng các danh từ đó. Khi được gọi bằng một danh từ khác họ thấy trong người như có lửa đốt, như bị sốt rét. Tại sao đáng lý mình được gọi bằng danh từ ây smaf người ta gọi mình bằng danh từ này. Khi có sốt rét, khi bị một ngọn lửa đốt cháy, mình biết rằng mình đang bị một dục tưởng trấn ngự, dù đó là một cái danh rất nhỏ. Vì vậy dục tưởng hay ý niệm về hạnh phúc là một đối tượng mà mọi chúng ta cần phải quán chiếu. Khi quán chiếu và đập vỡ được cái dục tưởng ấy rồi thì mình được giải thoát, và tự nhiên ta có vô số hạnh phúc. Điều kiện hạnh phúc có mặt rất nnhieeuf trong ta và chung quanh ta, sở dĩ ta không sử dụng được chúng là vì ta đang kẹt vào trong cái gọi là dục tưởng. 

Trong hai câu chuối cùng của bài kệ bụt nói cho vị thiên giả. 

Danh sắc trung sinh tưởng nghĩa là từ trong phạm vi danh và sắc, đã phát sinh ra những tri giác, những nhận thức. 

ai cũng nghĩ rằng phải có cái đó mới hạnh phúc, vì vậy mà chúng ta chạy theo cái dó, không suy nghĩ. điều này cũng là một đối tượng quán chiếu rất quan trọng của thiền quán. 

Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc không?

Hạnh phúc là gì? Trong thiền quán khi chiếu sáng vào, ta nhìn rõ ràng bản thân của ái dụng, để thấy rằng những hình ảnh mà bụt đưa ra là những hình ảnh ất tuyệt diệu. Hình ảnh của moojtj khúc xương trần, một miếng htijt sống, một bó đuốc rơm cầm ngược gió, một hố than hồng, một con rắn độc rất là dễ sợ. Nhìn chung quanh, ta thấy biết boa người đã bị rắn độc cắn, biết bao người đã rơi vào hố than hồng, đang lăn theo đối tượng của dục vọng để gặm, để nhấm, để ham muốn, để hi cầu. Những người ấy khoogn bao giờ thỏa mãn cả. Không cần phải nhìn xa, chỉ nhìn chung quanh là ta thấy được những điều bụt dạy. đó là quán chiếu. Trong khi đó, người có tự do là người không ôm ấp một ý niệm vê fhanhj phúc, không ôm ấp dục tưởng, những người ấy có vô số cơ hội để có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Trời mưa cũng có thể hạnh phúc mà trời nắng cũng có thể hạnh púc. 


Điều quan trọng nhất là muốn có hạnh phúc chân thật, ta phải đặt vấn đề nghi ngờ cái ý niệm của mình về hạnh phúc, tại vì mỗi chúng ta đều có ý niệm rằng nếu được như thế này, được như thế kia thì ta sẽ có hạnh phúc. Có thể ví cái ý niệm đó mà trong quá khứ mình đã đau khổ vô cùng. Gạt bỏ được ý niệm về hạnh phúc, mình sẽ bắt đầu có cơ hội hạnh phúc. Trước khi gạt bỏ được ý niệm đó, ta vẫn chưa có hạnh phúc. Tại sao?

Khi có một ý niệm về hanh phúc rồi thì ta không thể an trú trong hiện tại được, vì ta cứ nghĩ rằng chừng tôi đạt được cái đó, chừng nào tôi thành tựu được cái kia, thì tôi mới có hạnh phúc. Khi có một dục niệm như vậy làm sao mà có hạnh phúc ngay trong hiện tại được. Nên điều kiện tiên quyết để có hạnh phúc là phải rời bỏ ý niệm về hạnh phúc đi để có thể an trú trong hiện tại. Bụt dạy rằng chúng ta có thể tiếp xúc với hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại hiện tại lạc trú là có nghĩa như vậy. 

Trước đây tôi đã nói về sự thầm mong trở về quê hương của chúng ta. Hôm nay tôi nói thêm về quê hương đích thực. 

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, 

Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương. 

Quê hương này là quê hương đích thực. Quê hương này không phải là quê hương Pháp, quê hương Mỹ... hay quê hương VN mà là cái quê hương tâm linh của chúng ta, nơi ta cảm thấy thỏa mái và hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội trong bụng mẹ hơn chín tháng. Thời gian đó ta không lo lắng về quá khứ hoặc tương lai còn hiện tại thì đã có mẹ lo  hết. Ta có cảm tưởng rất an lành dầu ta còn rất bé. Khi ra đời rồi, cảm giác đó dần dần bị đánh mất, vì vậy trong ta có khuynh hướng muốn trở về cái cung điện của đứa con, muốn trở về nằm trog bụng mẹ. Dầu ta có mỉm cười biết rằng trở về nằm trong bụng mẹ để có sự an toàn là chuyện không thể làm được, nhưng trong tàng thức, cái ước muốn thâm trầm đó vẫn còn. Tại sao? Tại vì sự khác nhau về cách vận hành giữa ý thức và tàng thức .Ý thức biết rằng không làm thế nào để trở về trạng thái bao thai để có sự an toàn, đó là một chuyện không tưởng. Ý thức biết rất rõ như vậy, nhưng A Lại Gia Thức vẫn còn mang cái ước muốn đó. Quán chiếu xa thêm chút nữa, ta thấy rằng sự an toàn đó chỉ là một ý niệm an toàn mà thôi. Thực tế thì nơi êm ấm an toàn mà ta đã nằm là một phần thân thể của mẹ. Vì vậy sự an toàn ha bất ổn của ta hoàn toàn tùy thuộc vào những ái, ố hỷ nộ của mẹ. Tùy thuộc vào những chất dinh dưỡng hay độc tố mẹ dùng. Nếu một thi sĩ có cảm tưởng mình đã đánh mất thiên đường, mình đang đi lang thang, đang bị đày đọa, thì cái ý niệm về thiên đường đó cũng đã taojdduowjc từ cảm giác an toàn mà ta đã có trong thời gian còn trong bụng mẹ. Ra khỏi bụng mẹ tức là ra khỏi thiên đường. 

Xét cho kỹ, ta vẫn còn thiên đường tới một mức độ nào đó. Nằm trong nôi, vẫn còn là nằm trong loại thiên đường. Ta nhớ rằng hồi còn bốn, năm tuổi, khi cha mẹ ta bận với công này việc nọ, ta thường đi thơ thẩn một mình ra vườn. Ta chơi với con ốc, con bướm, con sâu. Ta thơ thẩn một mình, làm quen với những gì chung quanh ta. Có khi ta sang hàng xóm chơi với bạn. Đến khi rảnh tay hay đi chợ về, mẹ gọi ta, cho một cái bánh in, một khúc mía thì ta có hạnh phúc rất nhiều. Tất cả những cái đó đều là những yếu tố của một thiên đường mà hiện giờ ta đã mất. Thiên đường ở đây có thể gọi là quê hương. Quê hương đầu tiên là bụng mẹ. Quê hương thứ hai là thời thơ ấu, là cây khế ngọt...

Ngày xưa ta không cần phải có những điều kiện lớn lao mới có hạnh phúc, chỉ cần một cây khế để leo lên hái ăn là đã có đủ hạnh phúc rồi. Cây khế đó bây giờ có còn hay không? Trong thiên đường của ta chắc chắn lúc nào cũng có một cây khế. Ngày xưa tôi có nói với thầy bổn sư Nếu gõi tịnh động mà không có cây khế thì con không chịu về tịnh độ đâu. Nói thế tại vì cây khế là một yếu tố rất cần thiết trong thiên đường của tôi. Cách đây hai hôm, lúc ở sơn cốc, tôi ngồi dưới một cây táo laoij Golden Apple, trái bắt đầu chín và ăn một trái táo vừa mới hái trên cành, ăn rất thảnh thơi, ăn với tất cả sự có mặt của mình. Hồi còn nhỏ, tooid dược ăn chuối, ăn cam, ăn xoài, ăn đủ thứ trái cây ngon, nhưng trái táo thì rất hiếm. Tôi thường nghĩ rằng sau này có cơ hội đi sang các nước tây phương, thế nào mình cũng tìm cách leo lên một cây táo và ăn một trái táo ngay trên cây thì mới đã. Cái ước mơ đó của tôi đã được thực hiện. Nhưng ngày hôm kia, khi ngồi dưới cây táo và ăn trái táo đó một cách rất chánh niêm, rất sâu sắc và rất hạnh phúc thì tôi biết rằng cái thiên đường kia nó nằm ở đó chứ không nằm ở đâu cả. Cây khế ngày xưa có còn hay không, đó là tùy theo nhận thức của mình. cây khế ngày xưa còn đó, và nó có thể nằm dưới hình thức một cây táo hay cây mận. Tại sao lại phải cái thời gian đó, cái địa phương đó, cái cây tên đó thì nó mới thuộc về thiên đường của mình. Ta đã thực sự đánh mất cái thiên đường của ta hay chưa. 

Quê hương là đường đi học 

Con về đuổi bướm vàng bay

Những hình ảnh ấy đã mất hay chưa? Những con đường thiền hành ở xóm thượng, những con đường thiền hành ở xóm hạ, những con bướm, những hạt sỏi, những lối rẽ đi quanh có bóng mát trưa hè... những cái ấy có hay không

Tại sao ta phải ước mơ, phải hoài vọng về một thiên đường trong quá khứ. Tại sao chúng ta không có khả năng thấy được rằng con đường đi học vẫn còn có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Nếu biết an trú trong hiện tại, biết nắm lấy hơi thở, thì ta có thể trở về ngay với quê hương của ta. Tại sao trong khi thầy trò đi thiền hành với nhau ta lại không cmar thấy được hạnh phúc cực kỳ mà ta đã cso trong khi đi học trên con đường quê hương. Ta phải có khả năng dừng lại trong giây phút hiện tại để khám phá ra cái sự thật đơn giản là quê hương của ta vẫn còn đó, quê hương đích thực của ta vẫn còn đó. Quê hương đích thực không phải và không thể nào chỉ nằm trong quá khứ. Quê hương đích thực cũng không thể chỉ nằm trong tương lai. Nếu đã là một quê hương đích thực thì nó phải có ngay trong hiện tại nó phải có ngay bây giờ và ở đây. 

Cái gì cấm ta, không cho ta trở về quê hương, trở về với thế giới của hạnh phúc, với thiên đường của ta. Cái gì bắt chúng ta phải than phiền rằng thiên đường của ta đã mất. Cái gì bắt ta phải đi tìm kiếm một thiên đường khác. Cái đó là dục tưởng, là ý niệm về hạnh phúc. 

Quê hương đích thực đã mất đâu. Thầy samiddhi hiện đang có mặt bên cạnh chúng ta. Con sông mà thầy samiddhi tắm, con đường mà thầy samiddhi đi thiền hành cũng vẫn đang có mặt. Bụt cũng đang có mặt bên cạnh chúng ta. Sở dĩ ta chỉ than khóc, chỉ hoài niệm là tại ta đang kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc xa vời. Nếu có khả năng buông bỏ cái ý niệm đó về hạnh phúc thì ta có thể trở về an trú trong hiện tại và bắt đầu khám phá ra được tất cả những yếu tố và điều kiện của hạnh phúc đang nằm ngay bây giờ và ở đây. Ngày xưa sở dĩ ta chơi được với một hòn sỏi với một con bướm, với một dòng suối là vì ta không kẹt về tương lai, không tiếc nuối quá khứ. Sở dĩ ngày xưa ngồi trên bãi cát, ta say mê chơi với cát, tạo ra một lâu đài bằng cát, đem hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi, không kể đến mặt trời đã lặn, không kể đến giờ cơm chiều đã qua, là tại sao? Tại vì lúc đó ta có khả năng an trú trong hiện tại và giờ đây ta đã đánh mất cái khả năng đó. Lỗi tại ai nếu không phải là lỗi của ý niệm về hạnh phúc mà ta đã đưa vào trong đầu của ta. 

vì vậy tưởng là những đối tượng quán chiếu quan trọng. Ta phải chiếu ánh sáng vào dục tưởng, phá cho nó tan tành để ta có thể thực hiện sự trở về với quê hương đích thực. Trở về được thì có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại .

Que ehuowng là chùm khế ngọt. Chùm khế còn đó nhưng bây giờ nó có thể gọi là chùm mận. Quê hương là đường đi học, đường đi học còn đó mà bây giờ nó có thể được gọi là đường thiền hành. Không phải chỉ nằm ở tỉnh đó, trong xã đó nó mới là đường đi học. Nó có thể ở xóm thượng hay xóm hạ. Quê hương là một cơm mưa và trong cơn mưa đó, ta xúm xít lại ăn bắp rang với nhau. Những cái đó là những cái vẫn còn cho ta tiếp xúc. Ta đã mất thiên đường hay chưa? quê hương của ta đã mất hay chưa? Hạnh phúc của ta có thể có được hay không? Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ dục lạc hay không? Đó là những câu hỏi rất căn bản và cấp thiết. Và câu trả lời là câu trả lời của bụt. Hạnh phúc ấy đang có mặt và hạnh phúc ấy rất lớn. 

Để tiếp nhận được hạnh phúc này ta cần thực tập, và trong khi thực tập ta có anh, có chị, có em, có bạn cùng thực tập với ta. Nếu mọi người đều cùng thực tập, thì sẽ trở thành rất dễ dàng và ta dễ có hạnh phúc. 

Nếu mình biết được bản chất của điều mình gọi là hạnh phúc, thì mính ẽ không bị níu kéo bởi ý niệm sai lầm về hạnh phúc. Khi đã biết được tính cách sai lầm, cái không tưởng của ý niệm thì mình sẽ không bị kẹt vào trong ý niệm ấy nữa, nhờ vậy mà không một người nào, một vị thiên gia nào có thể xúi biểu hoặc lay chuyển được mình tại mình đang an trú trong thực tại của vạn pháp. 

Bản không vô hữu tính , nghĩa là bản tính của chúng ta là vô hữu. Chữ không ở đây có nghĩa là không phải như vậy, không phải như mình tưởng. Chữ khôn gnafy đã có từ lâu. Trong áo nghĩa thư nó có nghĩa là không phải như vậy, khôn gphair như vậy. Ví dụ mình co smootj ý niệm về hạnh phúc và mình cho ý niệm đó là chính xác là đích thực. Người có trí tuệ nhìn vào thì thấy điều đó không phải là hạnh phúc chân thật nên bảo rằng đó khôn gphair là hạnh phúc đâu, không phải đâu. Chữ snyata còn có nghĩa là không của bát nhã. Tuy nhiều nghĩa nhưng một trong những nghĩa căn bản là khôn gphari như vậy không phải như vậy. 

Trong đời sống hàng ngày, phần lớn nhận thức của ta đều sai lầm Tất cả những khổ đau mà ta chịu đựng đều phát xuất từ nhận thức sai lầm của ta. Cho nên phương pháp tu là mỗi khi thấy, nghe, nhận thức điều gì, ta đừng vội quả quyết đó là sự thật. Trong ta có rất nhiều chất liệu mê mờ, cho nên phải cẩn thận lắm mới được. Tôi thường cho các thiền sinh một câu thần chú để bảo vệ thân tâm: mỗi khi có một nhận thức làm cho trong người thấy bực bội thì phải đọc câu thần chú

Are you sure? Mình có chắc là như vậy hay không. 

Cái tưởng tạo nên bóng dáng của hạnh phúc

Tóc mai sợi ngắn sợi dài

Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm

Nếu lấy nhau được thì ta sẽ không thương nhau đến ngàn năm, đôi khi chỉ thương được có một năm thôi. Chính vì không lấy nhau được nên ta mới thương một ngàn năm. Thương như vậy là thương cái ý niệm về người kia, thương cái hình bóng đẹp mà ta đã tạo ra từ người kia. Còn nếu lấy người kia thì ta bắt buộc phải sống với cái thực tại của người kia. Mà sống với thực tại thì cố nhiên là ý niệm mơ hồ và đẹp tuyệt vời về người kia sẽ dần dần tan biến. Câu ca dao đó là một câu ca dao chỉ nói về chuyện tình mà thôi. Cố nhiên khi một người thương mọt người khác thì bóng dáng của người con trai hay của người con gái kia là bóng dáng tuyệt vời mà ta mơ mộng. Một sợi tóc mai đủ để cột ý chí của một đấng anh hùng. 

Nếu có được nhận thức chính xác đối với danh sắc và thấy được tính cách sai lạc, tính cách không có thật của chúng, thì ta được gọi là những người biết đi theo con đường của bụt dạy, vĩnh viễn xa lìa được những nẻo về tối tăm. 

Quán chiếu về vô ngã sẽ diệt được ba mặc cảm. 

Sau khi bụt đọc bài kệ đó cho vị thiên giả nghe. 

Mặc cảm hơn, kém, bằng

Tạo ra nhiều rối rắm

Ba mạn đã vượt rồi

Tâm không còn khuynh động


Nếu quán chiếu về ngã thành công thì ba cái mạn tức là ba cái mặc cảm đó sẽ tan tành. Giáo lý này sâu sắc lắm, chúng  ta không thể đọc qua mà hiểu ngay được. Nó có liên hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của chúng ta nên rất hữu dụng. 

Cả ba mặc cảm hơn, thua, bằng đều sai lầm vì chúng được tạo nên bằng một chứng kiến sai lầm. Cái thấy sai lầm ấy gọi là ngã chấp. Chữ ngã mạn mà chúng ta thường dùng không có nghĩa là mình hơn người khác. Theo đúng nghĩa của nó thì ngã mạn là bị kẹt vào cái ý niệm về ngã. Vì bị kẹt vào cái ý niệm về ngã cho nên ta mới thấy mình hơn, bằng hoặc thua người kia. Cả ba đều xấu hết, vì mặc cảm tự ti cũng có hại như mặc cảm tự tôn. Cái mặc cảm bằng người cũng có hại, vì trong ý niệm bằng người vẫn còn có sự so sánh, vẫn còn có sự tự hào. Ví dụ mình nói rằng Anh nói tiếng anh được thì tôi cũng nói tiếng anh được. đó là mạn. Như vậy cái bằng cũng được làm bằng chất mạn. nếu không có mặc cảm hơn thua, bằng thì mình la fnguowfi giải thoát. Vấn đề không phải là có bằng cấp hay không, biết tiếng anh hay không, có học xong trường cao cấp phật học hay không. Vấn đề là mình có ngã chấp hay không. Hạnh phúc là ở chỗ đó. Tất cả giáo lý nguy nga của đạo bụt đều được xây dựng trên một giáo lý cơ bản goi là vô ngã, tức là thực tại không có một cái ta riêng biệt. Chúng ta cùng chia sẻ sự sống. Sự sống đó không thể được cắt xén thành ra những vùng riêng biệt. Vì vậy mỗi khi người kia nói một câu làm cho mình buồn, làm một điều khiến mình bực, đó là một cơ hội để ta thực tập vô ngã. Chính nhờ những dịp như vậy ta mới có thể tiến bộ trên con đường tu tập. Nếu chung quanh chúng ta đều là những vị bồ tát thì chúng ta sẽ không thể nào tu được. Cứ tưởng tượng quí vị toàn là bụt và bồ tát, người nào cũng toàn mỹ, chắc quí vị sống không nổi. Vì vậy đừng đi tìm một tăng thân toàn là thánh tăng. phải có người có yếu kém về mặt này, mặt kia, mình mới có dịp so sánh và học hỏi được. Vì vậy tăng thân của chúng ta không cần phải là một tăng thân tuyệt hảo, những yếu kém của tăng thân là những chất lượng rất cần thiết cho việc tu tập của ta. Trong ta có những yếu kém, và trong các phần tử khác của tăng thân cũng có những yếu kém. Nhưng ta cũng như tất cả những phần tử khác đều có cái nguyện là sẽ đi trên con đường chuyển hóa, vì vậy mà chúng ta có cái chất thánh của một trong ba viên ngọc quý: tăng bảo. Một tăng thân trong đó còn có phiền não, lỗi lầm, khuyết điểm thì vẫn là một viên ngọc quý như thường. Ta chấp nhận những yếu kém của bản thân và chấp nhận những yếu kém của những phần tử khác trong tăng thân, đó là chuyện phải làm. Cùng nhau tu học là cùng đi trên một con đường và giúp đỡ lẫn nhau chuyển hóa những yếu kém. Vì vậy khi người kia nói một câu hay làm một việc gì có tính cách phát xuất từ sự vô ý, sự vụng về hay là sự giận hờn, ta phải biết đó là một cơ hội bằng vàng để ta thực tập. còn nếu người kia không bao giờ nói một câu không dễ thương, không bao giờ làm một điều gì không dễ thương, thì chúng ta đâu có cơ hội để tu. Quanh ta, nếu tất cả đều là toàn mỹ thì ta tu sao được. 

Nương tựa hải đảo tự thân

Một hôm có một sư cô trẻ lên than thở với thầy

Quán chiếu về tương quan sẽ dẫn tới cái thấy vô ngã

Các đây mấy tuần, một hôm ra vườn ngồi chơi trên bãi cỏ, có một con bọ xít nhỏ xíu bay bám vào áo mà tôi không hay. Ngồi một lúc, thoán có ý hay tôi vào phòng và ngồi vào bàn để ghi lại kẻo sợ quên. Vừa cầm cây bút lên thì thấy anh chàng bọ xít đang đậu trên vai trái. tôi có cái tập khí la fkhoong ưa bọ xít vì mùi hôi của nó. Do đó, với phản ứng tự nhiên, tôi đua tay lên phủi một cái, và con bọ xít rớt xuống. Lúc đó tập khí mạnh và chánh niệm tới trễ, quí vị có nhớ ngày xưa khi chưa đi tu, hễ biết con muỗi đậu vào má mình thì mình đưa tay đánh một cái bốp liền. Nhưng nhờ tu học nên chuyện đánh cái bốp cho con muỗi chết, mình không làm nữa, mình chỉ đuổi cho nó bay đi thôi. Điều này ta cần thực tập mới làm được. Từ chỗ đánh cái bốp cho con muỗi chết cho đến chỗ mình chỉ xua cho nó bay đi, phải cần một thời gian thực tập tinh chuyên. Tôi cũng vậy. Sau khi phủi con bọ xít rồi, tôi cúi xuống định ghi lại cái tư tưởng vừa có thì tự nhiên chánh niệm tới và nó nói. Trời đất ơi. Con bọ xít nhỏ xíu mà phủi mạnh như vậy thì làm sao nó sống được. Bọ xít cần một mooit rường, một khung cảnh mới có thể sống, bây giờ đem nó vào thư viện, nơi chỉ sách, có nhang và tọa cụ thôi, thì nó ăn gì để sống. Toi muốn đứng dậy đi tìm con bọ xít để đưa nó ra ngoài, nhưng ý nghĩ thứ hai lại đến. Sao mình không ghi xong tư tưởng kia rồi sẽ đi kiếm và đưa nó ra ngoài sau. Tôi cúi xuống ghi chép và bỏ bút đứng dậy đi tìm con bọ xít. Tìm nó gần mười năm phút mà không thấy. Tôi liên tưởng đến người việt đi tị nạn được đưa vào xã hội tây phương mà còn khó sống, huống hồ đằng này người ta đang ở ngoài vườn, có cây, có lá, có đất đai, có hạt sương tươi mát... mà lại đem bỏ vào một onwi chỉ có tọa cụ, kinh sách thì làm sao người ta sống được. Cái hiểu đưa tới cái thương và thôi thúc mình đi tìm. Tôi rất làm lạ là chỉ trong một vùng chừng hai ba  thước vuông, vậy mà lật mọi thứ lên cũng vẫn không tìm thấy. Tôi hơi hối hận là tại sao lúc đó mình không đi tìm ngay mà phải đợi ghi cho xong một câu rồi mới đi tìm. 

Tìm mãi không được tôi thất vọng và hình dung rằng con bọ xít này sẽ từ từ khô đi giống như những con ốc leo tường. nó sẽ khô như vậy, sẽ chết như vậy và tội nghiệp cho nó quá. Tôi tự hứa lần sau sẽ hành động có chánh niệm hơn. Với tâm trạng đó, tôi ngồi tiếp tục làm việc. Chừng nửa giờ sau, nhìn lên tôi thấy chàng bọ xít đã trở về đậu trên vai áo, gần chỗ nó đậu hồi nãy! Sự trở về của con bọ xít làm cho tôi mừng. Tôi có cảm giác vui như vừa tìm lại được một người bnaj cũ và cái buồn cái hối hận đột nhiên biến mất. Tôi cúi xuống lượm một tờ giấy, để con bọ xít lên rồi đi ra vườn đặt nó lên một chiếc lá rất cẩn thận. Trong cuộc sống nhiều lúc ta có những niềm vui đơn giản như vậy. Tôi thấy rất rõ ràng việc làm lúc đó của tôi và niềm vui của tôi trong khi làm việc đó, nếu có một quan sát viên nhìn vào, chắc sẽ buồn cười. Có biết bao nhiêu sinh mạng ở ngoài trời đang chờ chết, mình cứu được một con bọ như thế có nghĩa gì đâu. Sự có mặt của con bọ đối với quan sát viên kia không quan trọng gì hết, nhưng đối với tôi nó quan trọng vô cùng, tại vì tôi biết rằng cái hạnh phúc của mình tùy thuộc vào chỗ mình có lòng tư bi hy không. Một người không có lòng từ bi thì không thể có hạnh phúc. Cho nên tu tập là làm cho lòng từ bi càng ngày càng lớn để hạnh phúc của mình ngày càng lớn lên. Nếu ta có được lòng thương đối với những sinh vật li ti như vậy thì ta cũng có thể có lòng thương đối với những sinh vật lớn hơn, trong đó có sư huynh, sư đệ và học trò của ta. 

Cho nên khi quán chiếu về vô ngã không có nghĩa là ngồi đó để suy nghĩ về vô ngã, mà mình phải sống đời sống hàng ngày một cách có ý thức. Tiếp xúc với con sâu, với hạt lúa, với chén tương, với người bạn tu, với mặt trời... một cách có chánh niệm để thấy sự liên hệ mật thiết giữa tất cả các hiện tượng tức là quán chiếu vô ngã. Thí dụ khi ăn trái mận mình thấy một đám mây trong trái mận. Trái mận không bao goiwof có được nếu không có đám mây, không có mặt trời, không có đại địa, không có người trồng mận, không có anh, không có tôi. Vì vậy mà tôi có trong trái mận, và trái mận có trong tôi. Trái mận cũng đồng thời là mặt trời là đám mây. trái mận bất diệt và tôi cũng bất diệt. Đó là một bài thực tập quán chiếu về tính vô ngã. 

Mình càng quán chiếu như vậy, càng sống có chánh niệm như vậy thì tự nhiên trái tim mình càng ngày càng lớn thêm lên. trái tim ở đây tức là sự thương yêu, là lòng từ, và nhờ vậy mà mình sẽ dung chứa được tất cả mọi người và mọi loài trong đó. Trái tim của em có thể chứa được tôi không? Trái tim của em có thể chứa được người kia không? Có thể chứa được người mà mình nghĩ là khó chịu hay không ? Có thể bao dung được cô Francois Berthot không? Nếu hiểu rằng Francois đã bị người ta giành mất con, đã từng sống một đời sống rất khó khăn, đã lâm vào tình trạng mất trí, thì tự nhiên cái hiểu đó đưa tới cái thương và ta có một chỗ ngồi ấm áp cho Francois trong trái tim ta. 

Thiên đường của tuổi thơ

Mỗi khi trời mưa ta thường có cảm giác êm dịu, mát mẻ và thường nhớ đến những cơn mưa mùa hè ngày xưa. Tuổi thơ nào cũng được đánh dấu bằng những cơn mưa. Khi còn là em bé, ta cởi trần cởi truồng, đùa chơi dưới mưa. Cái thiên đường kia đâu đã mất vì cho đến bây giờ ta vẫn còn có những cơn mưa và vẫn có thể an trú trong thiên đường tuổi thơ đó trong giờ phút hiện tại. 

Quê hương đích thực là quê hương không bao giờ bị đánh mất. Nó không chỉ có mặt trong quá khứ mà còn có mặt bây giờ và trong tương lai nữa. Hồi còn bé, khi được mẹ cho chén cơm với dưa giá thịt kho, hoặc cá kho, ta mang bát cơm với đôi đũa ra ngồi ở bực cửa, vừa ăn vừa nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống. ta cứ đưa mắt lên,  đưa mắt xuống nhìn những giọt nước mưa từ lá rơi xuống do những giọt nước mưa tạo ra và ăn rất ngon lành. Ở tuổi đó, ta không lo lắng cho tương lai không tiếc nuối thơi quá khứ chỉ ngồi đó một mình và ăn rất chậm. Có khi chậm quá mẹ phải gọi. Con ơi. sao ăn một chén ocwm mà lâu quá vậy. Đó alf trường hợp ta ăn một mình. Nếu sanh trong một gia đình có anh chị em, ta có thể ngồi quây quần với nhau để ăn cơm. Chúng ta cũng ngước mắt xuống nhìn những bong bóng phập phồng. Chúng ta đã rất sung sướng vì có em, có chị, có anh cùng ngồi bên cạnh và cùng hưởng cái thiên đường đó của tuổi thơ. 

Khi lớn lên, ta đánh mất cái thiên đường đó, tại vì phải lo cho tương lai, phải nghĩ về quá khứ. Khi đi học ta lo về chuyện thầy giáo hỏi bài, về việc thi cử, về quần áo, về cái lược chải đầu, lo đôi giày cho bóng, lo chúng bạn chê cười. Ta mất đi cái hồn nhiên của tuổi thơ và từ từ ta đánh mất cái thiên đường của tuổi thơ đó. Ta cũng đánh mất cía thiên đường ngây thơ, quây quần ovwis anh chị em trong gia đình. 

Hồi đó, tết đến ta không có nhiều quà, chỉ có một bộ quần áo mới nhưng ta rất mừng và thường nôn nao chờ đón ngày tết. Sáng mồng một mặc áo quần mới vào, đi sột soạt vì vải mới còn dính chất hồ, nghe rất oai. Đến trưa, mẹ cắt cho một khoanh bánh tét, lấy một chiếc đũa cắm ngan, lăn ngang một ít đường cát, đưa cho ta rồi nói con đi ra ngoài chơi. Có thể lúc đó mẹ đang bận công việc, không muốn ta quanh quẩn vướng víu. Vui mừng ta mang khoanh bánh ra sân, vừa nhẩn nha ăn vừa nhìn con mèo, con chó, nhìn bông hoa vạn thọ, nhặt xác pháo giao thừa mà lòng tràn đầy hạnh phúc. Những hạnh phúc đó còn lại trong tàng thức ta dưới dạng những hạt giống hạnh phúc, khiến ta thường có cảm tưởng thiên đường đó đã mất và thường đi tìm

Người Tây phương cũng như người đông phương đều cùng có mtooj cảm nghĩ là quá khứ bao giờ cũng đẹp, quá khứ bằng vàng. Những ngày tháng ngọc ngà ngày xưa bây giờ đã biến mất rồi. Thủa đó đời sống đẹp hơn mặt trời cũng rạng rõ hơn ngày hôm nay, đó là lời bài hát nổi tiếng của pháp. 

Cái cảm nghĩ thiên đường trong quá khứ bao giờ cũng đẹp hơn thực tế hiện tại, thường được nuôi dưỡng bằng những kỷ niệm của tuổi thơ mà ta thường nghĩ bây giwof không còn nữa. T

Thưc tập chánh niệm là để khám phá ra rằng không có gì đã qua và đã mất. Cái hạt giống hạnh phúc kia của thiên đường tuổi thơ vẫn còn trong chúng ta. Nếu biết thực tập nghĩa là biết cày bừa ruộng tâm, biết tưới tẩm và vun bón hạt giống, ta có thể tiếp xúc và làm phát khởi niềm hạnh phúc đó trở lại. Đây là một sự thực rất đáng mừng. 

Ngũ căn và ngũ lực

Đạo bụt có một dụng cụ rất mầu nhiệm để cày bừa, để gieo hạt, để tưới tẩm, để vun bón, gọi là chánh niệm. Chánh niệm là cái năng lượng mà ta có thể phát khởi trong đời sống hàng ngày. Nói chung năng lượng có nhiều thứ: Năng lượng để phá hoại, năng lượng để xây dựng, để thanh lọc. 

Khi bỏ củi vào lò để đốt, ta làm phát xuất một loại năng lượng gọi là nhiệt lượng. Nhiệt lượng đó sưởi ấm căn phòng, giúp cho ta có thêm hạnh phúc. đó là một loại năng lượng mà mùa đông ta rất cần đến. Trong con người cũng vậy, ta cần phải có sức nóng thì mới sống được. Vì vậy ta phải ăn cơm, ăn cơm là đưa những nguyên liệu vào trong cơ thể để các tế bao ftaoj nên một loại năng lượng gọi là thân nhiệt. Khi giận người ta phát ra một loại năng lượng gọi là giận, và cá năng lượng đó cũng làm ta nóng, nhưng nóng khó chịu hơn là cái nóng của lò sưởi mùa đông. Năng lượng giận làm cho cơ thể ta bốc cháy, đau khổ, và ta vung vẫy niễm đau nỗi khổ của ta lên những người và vật chung quanh. 

Nghi ngờ cũng là một loại năng lượng. Khi tưới tẩm hạt giống nghi ngờ trong ta nó phát sinh ra một năng lượng làm ta uể oải, mất hết sức sống, nhìn gì cũng thấy không thấy có ý nghĩa. Năng lượng đó là loai năng lượng tiêu cực, có tính cách phá hoại. Tương tự như thế,  năng lượng giận cũng chứa rất nhiều tiêu cực, và sức phá hoại của nó cũng rất trầm trọng. 

Hiện nay ta có những trưng tâm sản xuất năng lượng để thắp đèn, để chạy máy. 

Đạo bụt dạy về ngũ căn và ngũ lực. Ngũ căn là năm địa điểm để phát sinh ra năm năng lượng. Ngũ lực là năm nguồn năng lượng phát sinh từ năm địa điểm đó. Ngũ căn có thể ví với năm nhà máy phát sinh ra năng lượng. căn tức là gốc

Ba đối tượng để tin  của ta là chân  ( một cái gì là thạt), thiện ( lành), mỹ ( đẹp. Thật có nghĩa là không phải giả, vì đạo đức có khi là giả. Ban đầu ta có thể tin vào đạo đức giả, nhưng sau một thời gian cái thần tượng đó nó đổ, nó rớt xuống và lúc đó niềm tin trong ta tan biến.  Lâm vào tình trạng này là vì ta đã nhận giả làm chân, nhận ác làm thiện, nhận ố làm mỹ. Tất cả vì ta vô minh. Khi niềm tin không được thắp sáng bởi trí tuệ thì nó dễ bị tan vỡ, và từ chỗ tin tưởng, ta có thể lâm vào trạng thái nghi ngờ. Khi năng lượng của nghi ngờ phát sinh trong tâm thức, ta sẽ uể oải, rã rời, hết muốn làm gì nữa. Do đó theo giáo lý đạo bụt, mọi niềm tin phải được làm bằng chất liệu của trí tuệ. tin mà không quán chiếu thì niềm tin đó rất nguy hiểm. Bụt dạy, Tín ta mà không hiểu ta tức là bài báng ta. Do đâu mà có niềm tin. Do cái hiểu, vì vậy nhà máy năng lượng thứ hai trong đạo bụt là nhà máy tuệ. 

Tuệ là cái thấy của hiểu. Năng lượng của niềm tin được chế tạo từ nguồn năng lượng của trí tuệ. Có quán chiếu ta mới thấy rõ được sự thật. Thấy rõ được sự thật thì ta mới có thể xa lìa những cái giả ngụy trang bằng vỏ chân, những điều ác ngụy trang bằng vỏ thiện, và những việc xấu xa ngụy trang bằng vỏ tốt đẹp. Lúc đó niềm tin ta sẽ được goi là chánh tín. Muốn có trí tuệ, tức là muốn có cái thấy sâu sắc, ta phải biế nhìn. Nhìn cho sâu sắc tức là quán chiếu bằng năng lượng của chánh niệm. Vì vậy nhà máy phát sinh năng lượng thứ ba trong đạo bụt là nhà máy niệm. 

Trung tâm tu học là nơi cung cấp vật liệu để tạo ra nhà máy niệm. tại các trung tâm tu học, ta được dạy nhiều phương thức để thiết lập nhà máy chế biến một loại năng lượng tích cực gọi là năng lượng chánh niệm. đây là một thứ năng lượng rất cần thiết để chúng ta có thể nhìn sâu và thấy được sự thật tiềm tàng trong sự sống. Khi biết ăn cơm trong chánh niệm, biết rửa nồi trong chánh niệm, biết đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và thở trong chánh niệm thì tâm của ta hướng về một phía, nó tập trung, không bị tán loạn. trnajg thái đó gọi là định. 

Định là nhà máy năng lượng thứ tư trong đạo bụt. Người không có định thì không làm được gì cả. Muốn giải quyết một vấn đề cho riêng mình hoặc cho đại chúng mà không có định thì không đi tới kết quả nào. Khi soạn một bài giảng hay thực tập quán chiếu để tìm sự thật của một vấn đề, ta phải có định tâm. Vì vậy nhà máy định rất cần thiết, nếu không có nhà máy định thì không bao giờ ta có tuệ cả. Nếu không tập trung thì làm sao thấy được giải pháp, tìm được sự thật. 

Khi có bốn nguồn năn gluowngj kể trên  đời sống của ta là một đời sống tinh chuyên, không uể oải, không bệ rạc. Nếu ta uể oải, rã rời, không có niềm vui, không thiết sống là vì ta không có năn gluowngj tinh chuyên. đó là nhà máy thứ năm trong đạo bụt, nhà máy tấn. Tấn tức là sự siêng năng, sự chuyên cần. 

Năm nahf máy đó goi là năm căn. Căn ở đây là nhà máy phát sinh ra năng lượng. Với năm nhà máy đó, khi chúng bắt đầu hoạt động thì chúng phát sinh ra năm loại năng lượng gọi là năm lực. vì vậy ngũ căn cũng là tín, tấn, niệm, định, tuệ mà ngũ lực cũng là tín tấn, niệm, định tuệ. Căn tức là hình thức của nhà máy, những trang bị của nhà máy. Lực là năng lực phát xuất từ sự vận hành của các nhà máy đó. Ngày xưa khimowis học tôi thường thắc mắc đã có năm căn : tín, tấn, niệm, định, tuệ tại sao phải có năm lực nữa?  lúc đó tôi chưa hiểu năm căn là năm nhà máy và năng lực là năm loại năng lượng do năm nhà máy đó phát xuất và biến ra. 

Nếu trong thân và tâm ta không có đủ năng lực, hoặc nwang lượng yếu ớt, ta phải biết xét tìm trong năm nhà máy đó, xem những bộ phận nào bị hư hỏng để lập trức tìm cách chữa trị. xem xét và chữ trị thường xuyên mới đúng là đời sống tu tập tinh chuyên. 

5 tương tức mầu nhiệm của các chủng tử

nếu năm nhà máy chế tạo năng lượng toàn hảo thì chúng sẽ phát sinh ra năm nguồn năng lượng rất cần thiết cho sự tu tập và chứng ngộ của ta. Bụt dạy tâm ta có hai phần: tàng thức và ý thức. Tàng thức là nơi chứa tất cả hạt giống của năng lượng. ý thức là nơi hạt giống biểu hiện, đơm hoa, kết trái. Có những điều mà khi nhìn vào vùng ý thức ta không thấy , nên ta quả quyết ta không có điều đó. thực ra điều đó có trong tâm ta, nó nằm trong tàng thức dưới dạng những hạt giống, và chưa phát hiện ra mà thôi. Nếu trang bị đầy đủ phương tiện và chăm bón các hạt giống này, chúng ta sẽ phát sinh ra những năng lượng trên vùng ý thức. Ví dụ khi quý vị noisL bây giờ tôi không giận ai hêt.s Điều đó đúng. Bây giờ có ai đỏ mặt tía tai, có ai sân si la mắng ai đâu mà có người giận phải không. Thật ra thì cái giận không chỉ có mặt trên phần ý thức nhưng nó vẫn có mặt ở dưới phần tnagf thức. 

chúng ta ai cũng đều dang có cái giận trong lòng, nhưng nó đang ở trong trạng thái hạt giống và đang ngủ yên trong kho tàng thức của ta. Người tu học phải khôn ngoan, phải biết lợi dụng lúc những hạt giống tiêu cực đang ngủ yên để lo vun bón gieo trồng những hạt giống tích cực. Thiền sinh ru hội kết là một bài thực tập ru ngủ các hạt giống tiêu cực. Nội kết là những niềm đau, nỗi khổ, ở trong lòng ta. Nếu ru cho chúng ngủ thì ta sẽ ranh rang để cày bừa, gieo trồng, tưới tẩm những hạt giống tốt. Đừng nghĩ rwangf khi lấy hết những hạt giống xấu xa rồi thì ta mới có thể tu được. nếu những hạt giống xấu được lấy ra hết rồi thì ta đã là toàn mỹ, và đã là toàn mỹ thì có gì sai đâu mà phải sửa, phải tu nữa. 

Hạt giống của nghi ngờ cũng có trong tất cả chúng ta. nếu ta không tu tập tín, tấn, niệm, định và tuệ thì hạt giống nghi ngờ sẽ phát sinh, nó sẽ bao trùm hết cả con người ta và năng lượng tiêu cực đó sẽ làm tiêu mòn đời ta. Nó sẽ làm cho ta khổ và những người chung quanh ta cũng sẽ khổ theo. Khi một người có niềm tin, tin vào một điều thật lành, thật đẹp thì tự nhiên đôi mắt người đó sáng long lanh và người đó có rất nhiều năng lượng. Người đó sống có định tâm, có chánh niệm và có sự hiểu biết. 

Tu học là cày bừa mảnh đất tàng thức và gieo vào những hạt giống tốt, tưới tẩm và gieo vào đó những hạt giống tốt, tưới tẩm để chúng nảy mầm rồi mọc thành cây trên phần ý thức. Khi mọc, những cây đó sẽ đơm hoa, kết trái rồi trở thành những hạt giống lành cùng loại và rơi xuống mảnh đất tâm. Duy thức học gọi đó là dẫn tự quả, nghĩa là một hạt giống có thể sanh ra nhiều hạt giống có cùng một tính chất. Đây là một trong sáu tính chất của chúng tử. Muốn một hạt giống tốt phát hiện trên phần ý thức, làm đẹp cuộc đời rồi gieo xuống tàng thức những hạt giống tốt cùng lại, ta cần có một điều kiện gọi là đãi chúng duyên. Đãi là đợi, chúng là những, và duyên là điều kiện. đãi chúng duyên là đợi những điều kiện thuận lợi. Hạt giống nào ở dưới tàng thức cũng cần những điều kiện thuận lợi mới phát hiện được trên phần ý thức, kể cả hạt giống chánh niệm. Những điều kiện thuận lợi đó gồm có điều kiện tăng thân, điều kiện thầy, điều kiện thiền đường, điều kiện pháp thoại, điều kiện thực tập. khi ta trang bị đầy đủ những dideuf kiện đó thì hạt giống tốt tiềm tàng dưới tàng thức sẽ có cơ hội để nảy mầm và phát sinh, làm đẹp cho cuộc sống của ta và gieo lại những hạt giống đồng loại vào đất tâm, làm rạng rỡ môi trường sinh sống của ta. Người nào đã học 50 bài tụng duy biểu chắc còn nhớ hai tính chất vừa nói của chúng tử. Bụt thường dạy rằng tất cả chúng sinh đều có phật tánh, tất cả chúng sinh đều có thể trở thành những bậc toàn giác. Kinh Pháp hoa có câu: nhất thiết chúng sinh giai hữu phật tánh, nghĩa là chúng sinh ai cũng có hạt giống bụt ở trong mình. nếu hạt giống đó có đầy đủ điều kiện thì nó sẽ phát triển. Mục đích của tu học là nhận thức trong ta có hạt giống bụt và tìm đủ mọi cách, trang bị đủ điều kiện để cho hạt giống đó phát sinh và nảy nở. Ta có thể gọi hạt giống đó là hạt giống của chánh niệm hay là hạt giống của tuệ giác, hoặc hạt giống của chánh tín. Chúng cùng là một thực tại nhưng tùy trường hợp ta có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau. trong trường hợp này ta gọi là hạt giống niệm vì niệm có chứa định, trong định có chứa tuệ, trong tuệ có chứa tín, trong tín có chứa tấn. Vì vậy niệm là hạt giống của bụt ở trong ta. Ta cũng có thể gọi hạt giống trong ta là định, tuệ, tín hay tấn. Nhưng để cho dễ dàng ta lấy niệm làm biểu tượng cho hạt giống bụt ở dưới tàng thức. 

Bụt là phiên âm của chữ buddha. Danh từ buddha do động từ budh mà ra. budh có nghĩa là thức dậy, hiểu biết, thức tỉnh, giác ngộ. Biết cái gì đang xảy ra, và biết một cách sâu xa thì gọi là Budh. Chánh nnieemj nghĩa là biết cái gì đang xảy ra, thấy được cái gì đang xảy ra. Tùy theo trình độ thấy của mình mà cái thấy đó sâu hay cạn. Nhưng tất cả đều là cái thấy. Bụt là người đã thấy, đã hiểu, đã tỉnh thức hoàn toàn. Mỗi chúng ta đều có khả năng tỉnh thức. Cái khả năng tính có thể thực dậy, có thể trở thành một vị bụt, gọi là phật tánh. Tiếng phạn là buddhata. Phật tánh tức là hạt giống chánh niệm. Ta không thể nói ta không có hạt giống đó. Tại vì chánh niệm trước hết được định nghĩa là ý thức được cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Ví dụ tôi nâng ly lên và tôi biết tôi đang nâng cái ly lên thì lúc đó năng lượng chánh niệm đang có mặt. 

Các hạt giống vô giá trong tàng thức. 

Ta có mặc cảm thấp kém và thường nghĩ rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi, không thể nào thành bụt được. Đó là vì ta không công nhận hạt giống bụt ở trong ta. 

Một trong ba mặc cảm mà kinh samiddhi đề cập tới là mặc cảm tự ti, nói rõ ra là mặc cảm cho rằng mình chỉ có thể là chúng sinh thôi. Thật ra trong chúng ta ai cũng đều có hạt giống bụt, tức là có khả năng tính thành phật. Khả năng tính thành phật là danh từ mới, trong quá khứ ta gọi là phật tính. Dầu sống trong thất niệm 24 tiếng mỗi ngày và chánh niệm không bao giờ có mặt trên vùng ý thức, nhưng trong tâm ta lúc nào chánh niệm cũng nằm trong tàng thức dưới dạng một hạt giống. Cái kho tàng ta thường đi kiếm nó nằm ngay trong tâm của ta mà ta không hay. Chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình chỉ là người bần cùng, suốt đời đi cầu xin một chút tình thương, một chút hiểu biết, một chút giác ngộ của bụt, còn chính ta thì không có gì cả. Vì vậy mà bụt nói kinh pháp hoa để giúp ta đánh tan mặc cảm thấp kém đó. Kinh dạy rằng trong tâm ta có đủ kho tàng của giác ngộ, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc, đừng tìm kiếm đâu xa. 

Hỡi người giàu sang bậc nhất

Tha phương cầu thực xưa nay

Hãy thôi làm thân cùng tử

Về đây tiếp nhận gia tài

Ngày xưa có một vị bồ tát vì thấy đượ ccais phật tánh trong mọi người là một sự thật nên ngài phát một hạnh nguyện rất lớn. Ngài thường làm một việc rất bình thường và vì công việc đó mà ngài thường bị người ta la rầy, xưa đuổi nhưng không bao giờ ngài mất niềm tin. Ngài tên là thường bất khinh. Thường bất khinh là nghĩa là tôi không dám khinh ai cả, tai vì tôi biết mỗi người đều có khả nawg tính thành phật. 

Một khả năng tính nữa là khả năng tính hạnh phúc, một khả năng rất quí giá trong đời sống hàng ngày. người có khả năng hạnh phúc thì sống trong điều kiện nào cũng có thể có hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. được sống chung với một người như vậy là ta có phước lắm. Khi lâm vào tình trạng khó khăn, người có khả năng hạnh phúc thường có đủ khả năng tạo ra ánh sáng cùng niềm vui cho mình và cho người xung quanh. Nếu đi vào địa ngục người đó sẽ làm cho địa ngục sáng lên, làm cho tiếng cười vang lên nơi địa ngục. Những người như vậy có thật. Bồ tát địa tạng là một người chuyên đi vào những chỗ tối tăm nhất, khổ đau nhất để làm cho ánh sáng và tiếng cười có mặt ở những nơi đó. Nếu không tu tập phát triển hạt giống của hạnh phúc, không dày công vun xới khả năng tính hạnh phúc trong ta, thì làm sao ta làm được điều đó, làm sao ta đi vào được những nơi tăm tối như vậy để cứu giúp người. Khả năng tính hạnh phúc là một chất liệu tạo nguồn vui cho mọi người. Nếu trong đại chúng có một người mà trong hoàn cảnh nào cũng cười được, vui được và cũng không mất niềm tin, thì đại chúng đó đã được hưởng rồi, huống hồ khi trong đại chúng có được nhiều người như vậy. Thử hỏi ta có phải là một người như vậy hay không. Mới nhìn vào vùng ý thức, ta hơi nghi ngờ cái khả năng của mình. Nhưng như vậy là ta đã mang cái mặc cảm thứ ba, mặc cảm thua kém. Ta phải theo gương bồ tát địa tạng, bồ tát thường bất khinh nhìn sâu vào tàng thức và công nhận các khả năng tính của ta, công nhận ta có thể có hạnh phúc được. Muốn dễ dàng có hạnh phúc, trong đời sống hàng ngày ta phải tu tập và phát triển cái hỷ tính của mình. 

Tất cả đều tùy thuộc vào cách ta tiếp xử với hoàn cảnh. Nếu có khả năng hạnh phúc thì trong điều kiện nào ta cũng có thể tạo dựng được hạnh phúc cho ta và cho những người chung quanh. ngược lại, nếu không tu tập và cứ nghĩ rằng hoàn cảnh này không tạo được niềm vui cho ta, ta phải đi kiếm một hoàn cảnh khác, thì ta luôn luôn lmaf tăng thân cùng tử làm thân của một cô hồn lang thang. 

Vậy thì hoàn cảnh nào là hoàn cảnh lý tưởng của ta. Thật ra thay vì thắc mắc như vậy, ta phải tự hỏi: ta có khả năng có hạnh phúc hay không. nếu có thì trong hoàn cảnh nào ta cũng tạo được hạnh phúc cả. Sống tại đây ta cũng thấy vui, ở úc hay mỹ cũng vậy, mà ở vn ta cũng tìm được hạnh phúc như thường. sống ở đâu ta cũng có hạnh phúc, đó là hờ trong khi tu tập ta cắm rễ được trong giây phút hiện tại, và lấy tất cả những điều kiện trong giây phút hiện tại làm nền tảng cho sự sống, cho niềm vui của ta. Trời nắng ta vui, trời mưa ta cũng thấy hạnh phúc. trời mưa là một trong những yếu tố không thể thiếu trên quê hương đích thực của tôi. Nếu sanh qua nước bụt A Di đà ma fkhoong có trời mưa thì tôi sẽ thấy thiếu thốn vô cùng, tôi sẽ thấy rằng cõi tịnh độ của ngài chưa được toàn hảo và thế nào tôi cũng năn nỉ bụt cho mưa mỗi ngày một lần, cho nắng mỗi ngày một lần, cho cõi bụt có cây chanh, cây khế, cây mận, cây trúc, cây đào. 

Tuy nhiên, mình đâu cần phải đi đâu, đâu cần du lịch về tương lai hay quá khứ mới có những điều đó. Những cái thuộc về quê hương đích thực của ta nó đang có mặt ngay ở đây và trong giờ phút này, chỉ vì ta không có khả năng tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc, chỉ vì ta đang làm thân cùng tử, đang làm người hành khất, chỉ vì ta khoonng có khả năng an trú trong hiện tại cho nên ta chưa thấy thỏa mái đó thôi. 

Bốn lãnh vực của chánh niệm

Niệm có nhiều nghĩa, nghĩa đầu tiên là nhớ lại.  phần trên của chữ niệm là chữ kim có nghĩa là bây giờ, phần dưới có chữ tâm, tức tâm của ta. Vậy trước hết niệm có nghĩa là cái tâm của ta ngay trong lúc này. Một điều gì ta đã quên, bây giờ nó trở về trong giây phút hiện tại thì goi là hớ. Ức niệm. Nói về nhớ, ta có nhiều thứ và nhiều cách để nhwos. Chẳng hạn ta nhớ những việc đã qua nhứ nhớ đến những khổ đau, những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ, và trong khi nhớ ta có thể đánh mất mình, có thể chìm đắm trong những kỷ niệm khổ đau, hay hạnh phúc trong quá khứ. Cái đó cũng là niệm nhưng hoài niệm. trong giáo pháp bụt dạy, những sự nhớ nghĩ như vậy là tà niệm, vì ta tự đánh mất mình trong lúc nhớ, nên nó không phải là chánh niệm. 

Khi nghĩ tới tương lai, ta lo lắng, thao thức, chìm đắm trong tương lai thì điều đó cũng là một loại niệm, nhưng nó được gọi là vọng niệm. 

Ngay cả trong hiện tại nếu ta bị lôi cuốn bởi những hình sắc, những âm thanh, tâm ta không tự chủ được, không an trú được trong cái thấy chân thật về thực tại, thì tuy thuộc hiện tại, nhưng nó cũng không phải là chánh niệm. Ví dụ khi ăn bánh hay cà rem, ta có hạnh phúc trong khi ăn. Nhưng nếu quên rằng ăn những thứ đó nhiều quá, sẽ nguy hại cho thân và tâm của ta, thì tuy đang sống trong hiện tại, nhưng ta đang không sống trong chánh niệm mà đang sống trong thất niệm. Cho nên không phải khi tiếp xúc được với những gì trong hiện tại thì gọi là chánh niệm. Tiếp xúc mà bị lôi cuốn bởi những cái trong hiện tại thì đó gọi là tà niệm. Bởi chánh niệm cho ta thấy rằng ăn cà rem nhiều như vậy thì nguy quá. Ăn nửa ly hay một ly đều biết rằng ăn nửa ly hay một ly thì không đến nỗi nào tức là lúc đó ta có thực tập quán ăn uống chừng mực. Nhưng ăn tới ly thứ hai mà vẫn không có sự soi sáng, thì rõ ràng ta đang bị cà rem nó kéo đi. Như vậy tuy gọi đang sống trong hiện tại nhưng kỳ thực ta đang bị hiện tại kéo đi, ta không có tự chủ. Điều đó gọi là thất niệm. Thất niệm là đánh mất chánh niệm. Chánh niệm là không bị lôi cuốn và chìm đắm trong quá khứ, không bị lôi cuốn và chìm đắm trong tương lai, cũng như không bị lôi cuốn và chím đắm trong hiện tại. Sống mà có sự tỉnh thức thì mới gọi là sống trong chánh niệm. 

Chánh niệm có bốn lãnh vực: lãnh vực của thân, của thọ, của tâm và của pháp. 

1. Khi biết những gì đã xảy ra trong cơ thể của ta, ví dụ khi ta ngồi, ta biết ta ngồi, khi cúi xuống, biết ta cúi xuống, khi đi biết ta đi, khi đau bụng biết ta đau bụng, gan yếu, biết gan ta yếu, thì những cái thấy và biết đó được gọi là thân niệm. Quán chiếu về cơ thể và vệ sự vận hành sinh lý của cơ thể thì gọi là thân hành niệm. Kinh thân hành niem dạy rất rõ về những phép quán chiếu này. 

2. Khi nhận diện được những cảm thọ của ta như vui, buồn, dễ chịu, khó chịu, hay không vui buồn, không dễ chịu, không khó chịu thì gọi là thọ niệm. Thọ là một trong 51taam hành của ta. trong tàng thứ ta có 51 hạt giống gọi là 51 tâm hành. Trong đó niệm là một, thất niệm là hai, thọ là ba, tưởng là bốn, xúc là năm và thọ thọ được liệt kê riêng ra như một đối tượng đặc biệt của chánh niệm vì thọ là một tâm hành rất quan tọng

3. Còn 50 loại tâm hành khác được liệt kê vào phạm trù thứ ba gọi là tâm. còn gọi là tâm hành. Khi buồn, khi vui, mà ta biết ta đang buồn, đang vui thì cái biết đó gọi là tâm niệm. Quán chiếu về tâm tư và về sự vận hành tâm là gọi là tâm hành niệm. 

4. Lĩnh vực thứ tư là pháp, tức là những đối tượng của tâm hành. Có tất cả là 51 tâm hành. Mỗi tâm hành đều có đối tượng riêng của nó, nghĩa là ta cũng có 51 pháp. Ví dụ giận là một tâm pháp, 

ta phải nắm rõ kiến thức nà. Để dễ hiểu ta hình dung hình vẽ một trái quít có 5 múi. trái quít này đem ví với năm yếu tố làm ra con người ( năm uẩn)(. múi đầu là sắc, nghĩa là thân ta, múi thứ hai là thọ, tức là cảm thọ của ta, múi thứ ba là tưởng ( tri giác cũng là 1 trong 51 tâm hành) múi thứ tư là tâm hành, 

Thọ tưởng và hành thường xuất hiện trong phòng khách.. khi ta buồn vui thương ghét nhớ quên... thì tấ cả những tâm hành đó phát hiện trên ý thức. khi không có mặt trong phòng khách, chúng nằm nghỉ ở tàng thức dưới dạng hạt giống. vì vậy đây có nghĩa là tàng thức và thọ tưởng hành là nội dung của ý thức. 

Một trong những phouwng pháp để tránh khó khăn là ta nên tỉnh táo để mời thêm một người bạn biết tiếp khách, người bạn chánh niệm tới để soi sáng, vỗ bề và chăm sóc người bạn kia. Cũng như khi đứa con khóc thì bà mẹ dù đang ở dưới bếp cũng chạy lên ẵm lấy con. Vì vậy mỗi khi ta buồn chán, giận ghét ta phải mời người bnaj chánh niệm lên để ôm lấy cái buồn cái giạn, cái ghét, cái chán đó mà an ủi chuyển hóa chúng. Tu tập nghĩa là luôn mời chánh niệm lên để ý thức được ai đang ở trong phòng khách và phải tiếp xử như thế nào để cho cái phòng khách của ta nó đẹp, nó vui hầu ta luôn luôn có hạnh phúc. 

Bốn ý nghĩa của niệm. 

Niệm là một trong 51 tâm hành và được gọi là tâm sở niệm. tâm sơ rniemej có thể là niệm. 

Kể đến niệm còn có nghĩa là chánh niệm, nó tương đương với đức bụt tiềm tại trong ta. đây chính là phật tánh ở trong ta, và là một trong năm lực

nghĩa thứ ba của niệm là khoảng thời gian ngắn nhất, như sát na. Ví dụ trong văn cảnh sách qui sơn có câu. 

niệm niệm tấn tốc, nghĩa là sát na này nói theo sát na kia, thời gian đi qua rất mau. 

Chuyển tức tức thị lai sainh, thay một hơi thở là đã đi sang đời mới rồi. 

Hà nại yến diên không quá, vì vậy không nên chần chờ để cho thời gian trôi qua. 

Trong mỗi niệm có thể có những cảm thọ, nhiều tri giác. Thành ra niệm còn có nghĩa là khoảng thời gian chứa đựng nhwungx cảm thọ những tri giác. 

Thứ tư, niệm còn có nghĩa là tà niệm. tà niệm tức là tri giác sai lầm. Nghĩa này mới phát sanh, không phải có từ thời bụt còn tại thế. Vào đời đường, trong khi thiền tông rất huwgn thịnh, có hai thầy tên là vô tướng và vô trú. Thầy vô tướng ở chùa tịnh chúng. 

Vốn liếng của người tu là cái năng lương của chánh niệm, một nguồn năng lượng giúp ta có mặt, tỉnh táo để thấy được cái gì đang xảy ra để giữ được sự tự do của ta và không bị cái đang xảy ra cuốn theo. Vì vậy phương pháp tu tập chánh niệm là phương pháp an toàn và cụ thể nhât.s 

Ba loại năng lượng của chánh niệm. 

Trước hết, năng lượng của chánh niệm giúp cho ta có mặt đích thực bây giờ và ở đây, nhờ vậy mà ta có thể trở về với quê hương của mình được. Chánh niệm tức là phương tiện chuyên chở, giúp ta trở về quê hương của mình. Đã về, đã tới và về được , tới được là nhờ chánh niệm. Năng lượng thứ hai của chánh niệm là công nhận sự có mặt của đối tượng. Nếu không có mặt thì làm sao ta công nhận sự có mặt của kẻ kia được. phải có mặt trước thì ta mới nói được rằng tôi biết anh đang ngồi đó. thở vòa, tôi biết là tôi có mạt ở đây, thở ra tôi biết là anh đang ngồi đó, trước mặt tôi. nội một hơi thở như vậy thôi đã có thể đem lại cái khả năng tỉnh thức, hiểu biết, thương yêu rồi. Mà thương yêu là gì? thương yêu là công nhận sự có mặt của con sâu, tờ lá, mặt trăng, cây khế, hay của bà mẹ, người anh, người chị. 

Nếu không có mặt thì làm sao ta bước được bước thứ hai là công nhận sự có mặt của kẻ kia. cho nên khi nhìn lên mặt trăng rằm mà nhìn bằng con mắt có năng lượng của chánh niệm thì mình thấy được mặt trăng tròn, sáng và mát. Mà sở dĩ mặt trăng có mặt một cách hiện thực, rõ ràng, tươi mát, là tại vì ta có mặt. Ngược lại nếu ta đánh mất ta trong sự lo nghĩ, giận hờn thì làm sao mặt trăng đó tươi mát được. Có mặt đích thực mới thấy được ngôi sao mai, và mới nói được với thị giả. này con , con có thấy ngôi sao mai không. người học trò của mình có mặt và ngôi sao trên trời cũng có mặt, là nhờ mình có mặt. cho nên khi ta vun bón hạt giống chánh niệm, thì hạt giống chánh niệm tạo ra một nguồn năng lượng để giúp ta có mặt đích thực. 

Hai bước của thiền tập

Thiền tập có hai bước, bước đầu là chỉ, bước thứu hai là quán. Chỉ tức là dừng lại và tập trung vào một đối tượng. Quán là dưa mắt nhìn xâu vào để thấy rõ như nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ em, nhìn kỹ cây hoa đào, nhìn kỹ mặt trăng, nhìn kỹ con sâu, nhìn kỹ lá gan của mình. Nhìn kỹ trong bốn phạm vi thân , thọ, tâm pháp, gọi là tứ niệm xứ. Khi nhìn kỹ như vậy thì ta mới thấy và mới hiểu. Cái hiểu, cái thấy đó cởi trói giúp cho ta giải thoát và chuyển hóa. Những bước thiền tập đó sẽ dẫn đến tuệ. 

Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa

Vườn tâm tuệ giác nở trăm hoa. 

Thành ra những từ giác, trí, tuệ có thể dịch bằng danh từ đơn giản như là thiểu và thấy. 

Con người khổ đau là tại vì cái tà niệm, cái vọng niệm, cái tri giác sai lầm của mình. Khi nhìn sâu, quán chiếu để làm tan những vọng niệm, những sai lầm của tri giác, thì ta có tuệ, nghĩa là giải thoát được những khổ đau của ta. Ta giận hờn, ghen tuông và khổ đau là vì ta bị trói buộc bởi những tri giác sai lầm của chính ta. Do công phu quán chiếu, nhìn sâu thì ta hiểu, ta thấy và ta được cởi trói, cho nên ta chuyển hóa được và có hạnh púc. Tất cả những công trình đó thực hiện được là nhờ một loại năng lượng gọi là chánh niệm. NGoài công việc thực tập hơi thở chánh niệm, thực tập, đi đứng nằm ngồi làm việc trong chánh niệm, thực tập ăn cơm có chánh niệm, uống trà có chánh niệm, thì ta đâu còn cơ hội nào để sản xuất được thứ năng lượng quí giá gọi là chánh niệm đó. Cho nên công phu thực tập hàng ngày rất quan tọng. Có thể ta cũng đi thiền hành với mọi người, cũng ăn cơm yên lặng, ngồi thiền, rửa bát, chùi phòng tắm, cầu tiêu với mọi người, nhưng nếu trong khi người khác làm công việc đó mà phát ra tinh lực chánh niệm tràn đầy, còn ta chỉ làm hình thức thôi thì đó là một điều rất uổng phí. Đi thiền hành nửa giờ có thể làm lưu xuất không biết bao nhiêu là tinh lực của chánh niệm để nuôi dưỡng, soi sáng và chuyển hóa. Nếu chỉ đi cho có hình thức, đi là vì người khác đi, thì rất uổng. Cũng như cùng đi qua một rừng trầm hương châu báu, có người thu thập được rất nhiều châu báu, trong khi ta lại về tay không. Vì vậy khi vòa tu viện, chúng ta nên học ngay những bài thi kệ nhật dụng. 

Diệt tam mạn là giải thoát tử sinh. 

Kiến đắng, thắng, liệt giả nghĩa là có kẻ bằng mình, hơn mình, thua mình, giả ở đây là kẻ, là người tắc hữu ngôn luận sinh thì phát sinh những tranh luận. Nên biết rằng chữ ngôn luận ở đay không phải chỉ là lời nói, mà tư lượng ở trong tâm của ta cũng là một thứ ngôn luận. Tâm ta có sự kỳ thị, sự ganh tị, sự cao ngạo, sự chê bài tất cả những cái đó đều là ngôn luận.  Tam sự bất khuynh động sự là cái việc, ở đây tạm sự là ba mặc cảm. Nếu ta không bị lay động bởi ba mặc cảm, ba tư tưởng đó, Tắc vô nhuyến trung thượng, thì ta không còn cái ý niệm kém người, bằng người hay hơn người nữa. Chữ nhuyến cũng có nghĩa là mềm. Đọc là nhuyến nhưng nghĩa của nó cũng như chữ nhuyễn. Nhuyễn có nghĩa là yếu ớt, mềm yếu, hèn nhát, vô dụng. 

Thắng mạn, tức là mặc cảm hơn người, đẳng mạn là mặc cảm bằng người. cập bất như mạn là mặc cảm không bằng người. tinh có nghĩa là và, cập có nghĩa là và, nó còn có nghĩa là với tới, theo kịp, theo bằng. Chúng ta hay nói khi thái quá, khi bất cập. Thái quá tức là đi quá đà, bất cập là chưa tới bằng. Cập bất như tức là chưa bằng người, nghĩa là cái mặc cảm không bằng người thua người. Hữu thử tam mạn giả là ba cái mạn này thử nghĩa là này. Thị khả hữu tranh luận nghĩa là cái đó có thể tạo nên sự tranh luận. Tranh luận bên ngoài * lời nói, hành động và tranh luận bên trong ( tư tưởng, cảm nghĩ). 

Từ ba cái mặc cảm này phát sinh ra nhiều tai nạn: giận hờn, ganh ghét, ghen tuông, tủi hổ... chỉ cần tủi thân thôi cũng có thể đưa đến chán đời tự tử rồi. 

Diệt trừ thử tam mạn nghĩa là diệt trừ ba ái mạn này rồi. Thị danh bất động tưởng tưởng tức là tri giác, nghĩa là đạt tới cái tri giác gọi là bất động, tức là không bị những mặc cảm, những giận hờn, tủi hổ và chán đời làm cho mình khuynh động, ngã nghiêng. Mình đứng vững như một gốc đại thụ. Bất động có nghĩa là vững chãi và thảnh thơi. Bất động la fmootj trong những thuộc tính của Niết Bàn. 

So sánh hai bản dịch ta thấy bản dịch của tạp a hàm, ngắn hơn, chỉ có bốn câu, nhưng bản dịch của biệt dịch tạp a hàm dễ hiểu hơn. Bên tạp a hàm, hàng đầu liệt kê cả ba thứ mặc cảm: kiến đẳng, thắng, liệt giả. Mỗi thứ chỉ dùng mọt chữ thôi: đẳng, thắng, liệt. Cố nhiên là nó đầy đủ ý nghĩa, nhưng bên biệt dịch tạp A hàm nêu rõ từng mặc cảm bằng nhiều chữ. thắng mạn, cập đẳng mạn, tinh cập bất như mạn, cho nên rõ ràng hơn. Tôi dịch bài kệ trong biệt dịch tạp a hàm. 

Mặc cảm ta hơn người

kém người hoặc bằng người

kẹt trong ba tưởng ấy

là vướng vòng tranh chấp

diệt trừ được cả ba

là đạt tới bất động

Cố nhiên hạnh phúc sẽ không có được nếu ta còn kẹt vòa trong vòng tranh chấp. Chữ tranh chấp hay hơn chữ tranh luận. Tại vì tranh chấp có thể bằng ngôn ngữ, bằng tư tưởng, mà cũng có thể bằng hành động, còn tranh luận thì ta có thể hiểu nó chỉ thuộc phạm vi ngôn từ mà thôi. 

Trong những bìa kệ này, ta thấy đức thế tôn chỉ giáo hóa trong phạm vi hạnh phúc, tại vì kinh tam di đề là một kinh nói về hạnh phúc chân thật. Khởi đầu đức thế tôn nói về nhận thức sai lầm, ý niệm sai lầm của ta về hạnh phúc. ngài nói rằng vì chưa biết được bản chất của những đối tượng tham dục, nên ta mới nhận lầm đó là hạnh phúc đích thực. Nếu quán chiếu và thấy được bản chất đích thực của chúng, thì sẽ thấy rằng đó chỉ là những tư tưởng kéo ta đi vào những nẻo đường tăm tối, luân hồi, khổ đau mà thôi. Thấy được như vậy thì không có cái vọng tưởng nào, không có một vị thiên giả nào có thể lôi kéo ta đi theo cái ý niệm hạnh phúc giả tạo được. Sau đó, Đức thế tôn dạy rằng vượt được những mặc cảm hơn người, bằng người thua người, thì những pheiefn não như ganh tị, giận hờn, sẽ tan biến, và lúc đo smowis có hạnh phúc thực sự. 

Bảy loại mạn

Chúng ta thấy ý niệm hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân rất đúng. Cá nhân tức là có một cái ngã, có một cái thực tại riêng biệt. Nếu mình đi tìm hạnh phúc cho cái ngã riêng biệt đó, thì không bao giờ có thể tìm được. Sự an lạc của những người chung quanh phải là sự an lạc của mình thì sự an lạc đó mới là an lạc thực sự. Sự sống là một, không thể chia năm xẻ bảy ra thành từng mảnh vụn, để từng mảnh điểm tìm hạnh phúc riêng. Muốn rõ hơn ta phải đi sâu vào giáo lý bụt dạy về mạn. Ta thấy có ý niệm về bảy mặc cảm đó vì khi dùng danh từ phật học mà không biết rõ ý nghĩa đích thực của danh từ thì ta dùng sai. Ví dụ khi nói rằng: anh chàng đó ngã mạn quá, ta có ý nói rằng anh tđó tự cho mình là hơn người. Thật ra cái chữ ngã mạn nó không chỉ có nghĩa cho mình hơn người mà thôi. Cho mình thua người cũng là ngã mạn, mà cho mình bằng người cũng là ngã mạn. 

Thứ nhất là mạn. Đối với người mà địa vị, gia tài, danh tiếng hay học thức thua mình mà mình có ý tưởng rằng người đó thua mình, người đó học dở hơn mình, người đó thuộc về hàng quí phái bằng mình, người đó không văn minh bằng mình, người đó tu học chậm, mình  thu thập giỏi hơn, mình thực tập lâu ngày hơn, mình thông minh hơn, mình biết nhiều ngoại ngữ hơn... cái dó là mạn. Điều này chúng ta kẻ ít người nhiều ai cũng đều bị kẹt vào cả. Cái tư tưởng đó nó phát xuất từ cái ý niệm mình với người kia là hai người khác nhau. Khi mình thấy người đó là người anh em, người chị em cùng sống với nhau, cùng thực tập trong một tăng thân thì tự nhiên mình thấy người đó là mình mình là người đó. Những cái yếu của người đó, mình có trách nhiệm, và những ccais gì mình đã đạt tới, mình có bổ n phận phải trao quyền, phải giúp đỡ người đó để cho hai người là một, cùng đi trên một con đường, thì lúc đo sminhf mới thoát được cái mạn thứ nhất. 

Thứ hai là quá mạn. quá mạn có nghia xlaf đối với những người tương đương với mình, học cũng tương đương, tu tập cũng tương đương, bên tám lạng, bên nửa cân mà mình lại cho mình hơn người đó. Điều này nó cũng phát sinh từ sự phân biệt giữa mình và người la fhai thwujc thể khác nhau. chúng ta là một không ai hơn ai, không ai bằng ai, không ai thua ai.

Mạn thứ ba là mạn quá mạn. đối với những người có đức độ hơn mình, tu học hơn mình có tài năng hơn mình, có trí tuệ hơn mình mà mình lại cho mình hơn người đó thì gọi là mạn quá mạn. 

mạn thứ thư là ngã mạn. đây là mạn gốc bởi nói làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. chúng ta nhận lầm những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức là một cái ngã biệt lập với những yếu tố sắc thọ tưởng hành thức khác. chúng ta thowngf bị kẹt trong ba ý niệm. ý niệm về ngã, ý niệm về ngã sở, và ý niệm về tương tại. Ví dụ sắc là một trong năm uẩn

- khi ta nói thân thể này là tôi. tôi đã bị kẹt vào ý niệm về ngã

khi ta nói thân này không phải là tôi, nhưng nó thuộc về tôi tức là ta bị kẹt vào ý niệm dị ngã hay ngã sở

trường hợp thứ ba, khi ta nói thân này và tôi là cái khác nhau nhưng trong thân có tôi và trong tôi có thân, tức là ta bị kẹt vào ý ý niệm tương tại

Cả ba ý niệm đều thuộc về ngã mạn. K

Tăng thượng mãn : chưa đạt được sự chứng đắc mà mình tuyên bố rằng mình đã có sự chứng đắc

Ty mạn. 

Phải thôi hy vọng mới có hạnh phúc chân thực. 

Tuyệt hi vọng, tuyệt có nghĩa là chấm dứt, hi vọng là sự chạy theo, sự tìm cầu, Ta nên biết rằng đây là văn xưa, ngày nay ta dịch là nguyện. vô nguyện là một trong thoát môn. vô nguyện hay vô tác. Hai giải thoát môn kia là không và vô hướng. Vô nguyện tức là không đặt mình trước một đối tượng của sự tìm bắt, dầu đối tượng đó là bằng cấp, là mỹ nhân hay là danh hoặc lợi. Không chạy theo tiếng phạn là apranihita, nghĩa là không đặt mình trước một đối tượng để chạy theo. Chừng nào mình không chạy theo một điều gì nữa hết, thì chừng đó mình mới thực sự có hạnh phúc. Chừng nào mình còn chạy theo một cái gì thì chừng đó mình còn nói rằng ta chưa có hạnh phúc, những điều kiện có trong hiện tại không đủ để ta có hạnh phúc nên ta phải đi tìm. Hạnh phúc đích thực là khi ta không còn chạy tìm nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tất cả những điều kiện sẵn có của hạnh phúc tôi đã có ở đây và bây giờ. Chỉ khi nào đạt tới cái nhận thức như vậy thì mới có hạnh phúc thật sự. 

Trong đạo cơ đốc, giáo lý về hy vọng đóng một địa vi quan tọng. Hy vọng một niềm hạnh phúc trong tương lai, cho nên người ta có nghị lực để chịu đựng cái khổ đau ở hiện tại. Ráng lên, ráng lên. Ngày mai, ngày mốt mình sẽ hết khổ mình sẽ về nước chúa. Như vậy điều căn bản của giáo lý đó là công nhận hiện tại chỉ là khổ đua, cho nên đi ngược lại với giáo lý đạo bụt. Hạnh phúc có thể tìm được trong hiện tại. Đây là đặ cthuf của đạo bụt. các tôn giác khác thường treo cái hy vọng được cứu chuộc trong tương lai. trong khi đạo bụt dạy ta phải chấm dứt cái đó, phải trở về khai thác mảnh đất hiện tại cho thật sâu sắc. Ly kết tuyệt hy vọng. danh từ rất mạnh lối dùng chữ rất hùng vĩ. 

Làm được những điều đó thì bất kiến ư nhân thiên, không thấy mình trôi nổi, vào ra, bập bềnh trong cõi nhân và cõi thiên. Thử thế cập tha thế, đời này và cả trong tương lai mình không còn là con người đi lang thang luân hồi nữa. 

Không phải trong cõi người ta mới bị hệ lụy, mà trong cõi trời ta cũng bị hệ lụy luôn. Hệ lụy là vì sao? Vì sự chạy tìm của ta, vì nhưng xphieenf não như sân hận, ganh tị, thèm khát, giận hờn trong con người của ta. Những cái đó được chuyển hóa là nhờ ở sự thực tập diệt trừ những ý niệm, vọng tưởng sai lầm về hạnh phúc, về thực tại, vượt được những ý niệm về ngã, giải thoát khỏi những sợi dây ràng buộc thì tự nhiên ta đạt tới giải thoát và không còn thấy mình quanh quẩn, luân hồi, khổ đau trong cõi người và cõi trời nữa. 

Bước sang bài kệ trong biệt dịch tạp A Hàm, đoạn ái cập dnah sắc, diệt trừ tam chủng mạn nghĩa là đoạn trừ ysn iệm về ái và về danh sắc, diệt trừ ba loại ngã mạn. Bất xúc ư chư dục là không tìm tới những đối tượng mà ta gọi lầm là hạnh phúc. Diệt trừ những tâm niệm phiền não trong lòng như sân nhuế. Bạt trừ chư độc căn, Bạt tức là nhổ lên, trừ diệt tận gốc. Chư độc căn là những cái gốc làm độc ở trong con người ta. Những độc căn đó là tham, sân, si, ganh tị, tranh đua. Bạt trừ chư độc căn, tức là nhổ trừ cho sạch những gốc rễ của các chất độc ở trong con người của ta. Chư tưởng nguyện dục tận là những cái vọng tưởng, những cái hy cầu, những cái tham dục đã chấm dứt rồi. Nhược năng như thị giả, nếu có thể làm được như vậy, thì đắc độ sinh tử hải. Nghĩa là có thể vượt qua được biển sinh tử. Đắc độ sinh tử hải nó hay hơn. Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế. Bất kiến ư nhân thiên thử thế cập tha thế la fmoojt hình tượng được lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều kinh kahcs. Vượt thoát biển sanh tử thì ta có mặt rong cõi nhân và cõi thiên cũng không sao, chứ không phải ra khỏi cõi nhân cõi thiên mới là vượt thoát sinh tử. Bụt và các vị bồ tát cũng đã và đang có mặt trong cõi Nhân và cõi Thiên. Như vậy bài kệ này có mục đích khai triển những điều bụt đã nói trong hai bài kệ trước. Không có gì mới, nhờ vậy mà lần này vị thiên giả hiểu được . Nghe pháp thoại cũng vậy, đề tài nghe rồi nhưng nghe nữa, rồi nghe nữa, thì có lúc sẽ thấm. 

Hạnh phúc và khổ đau có tính chất tương tức

Theo cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là những điều không phải là khổ đau. Hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận của tâm tư ta. Nhưng theo ngueyen tắc tương tức của bụt dạy thì hạnh phúc à khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. 

Hạnh phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc. và hạnh phúc cũng vô thường nên có thể trở thành khổ đau. đó là cái nhìn tương tức trong đạo bụt mà chúng ta phải nhớ. Vì vậy ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh phúc và khổ đau làm hai thực thể riêng biệt, là chúng ta đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. 

Như vậy nếu đã từng khổ đau thì với những chất liệu khổ đau trong người, ta có thể tu tập để biến chúng thành chất liệu hạnh phúc nhưng năng lượng tích cực của cuộc sống. Còn nếu hiện tại đang có hạnh phúc mà ta không biết bảo trì, ta dẫm lên hạnh phúc mà đi trong đời sống hàng ngày, thì nó sẽ biến thành khổ đau. Vì vậy cho nên ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức, cái này chứa cái kia. Tính cách tương tức này thể hiện trong mọi ý niệm, mọi thực tại của cuộc sống hàng ngày. 

Trong kinh samiddhi Bụt có nói tới ngũ dục tức là năm ý niệm về hạnh phúc như là phải có thật nhiều tiền, phải có danh vọng cao.. Nhiều người trong chúng ta bị kẹt vào những ý niệm đó. Làm sao để có cái này, làm sao để có cái kia, nếu không có cái này cái kia thì hạnh phúc không thể có được. Hầu hết chúng ta đều chạy theo những đối tượng như vậy. Chúng chỉ là bóng dáng củ hạnh phúc, là ý niệm về hạnh phúc ma fkhoong phải là hạnh phúc chân thật. Ý niệm đó có thể là danh , lợi, tài, sắc. Ý niệm đó có thể là môt thiên đường hay một đời sống sung túc giàu có. Tất cả những ý niệm đó Bụt gọi là những cái bẫy sập. 

Hành trì giới luật sẽ không vướng vào bẫy sập. 

Trong bài giảng của khóa tu mùa hè năm nay tôi có nói rằng nếu quí vị cảm thấy cô đơn thì có thể sự cô đơn đó phat sính từ nguyên nhân quí vị không hành trì năm giới. Tôi đã đưa ví dụ giới thứ ba là giới tà dâm. Ban đầu mình cô đơn và nghĩ rằng có liên hệ với người khác phái sẽ igups mình ấm áp, bớt cô đơn. Rồi từ đó đi đến chuyện chung đụng thân xác. Nhưng ai ngờ những kinh nghiệm chung đụng xác thân đó, niềm cô đơn của mình lại lớn lên gấp bội. Đó là vì khi không có sự đối thoại và thông cảm giữa hai tâm hồn mà lại có sự giao tiếp giữa hai thân xác, thì sự giao tiếp này sẽ đào thêm cái hố ngăn cách và tạo thêm nỗi cô đơn. Sau đó hai tuần, tôi nhận được bức thư của một thiếu phụ người Tây Phương nói rằng. Bạch thầy, điều thầy nói không có gì đúng hơn nữa, con đã đi qua kinh nghiệm đó. Có một lúc con cảm thấy cô đơn, con đi tìm sự ấp ủ, sự ấm áp, con khám phá ra rằng càng ngày niềm cô đơn của con càng lớn. Sự xa cách của con với loài người với xã hội càng ngày càng lớn là tại vì con đã đi lầm đường. 

Đó mới chỉ là một trong năm giới. Bốn giới kia cũng vậy. Khi không hành trì các giới, ta dễ bị sập vào bẫy ái dục, bẫy danh lợi, bẫy ý niệm về hạnh phúc, và ta sẽ khổ đau nhiều. Nếu có hành trì, năm giới ta mới biết cách phá lưới mà ra, biết cách lấy lại tự do. Tự do ở đây khôn gphair là tự do chính trị mà là tự do đối với những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc. Mình đòi hỏi phải có điều kiện này, điều kiện nọ. thì hạnh phúc mới có thật. Cái ý niệm về hạnh phúc đó  chính là cái  ngục tù giam hãm mình. Bỏ ý niệm đi thì khung cửa tự do sẽ mở rộng và hạnh phúc thật sự sẽ hiển bày ngay trong giây phút hiện tại. Tự do có khi được gọi là thảnh thơi và đó là một trong hai đặc tính căn bản của niết bàn. Vững chải dịch ra tiếng anh là stability solidity. Nếu trong ta không có hai yếu tố vững chãi và thảnh thơi thì hạnh phúc không phải là hạnh phúc đích thực. 

Tăng thân đồng hoàn cảnh mới giúp ta thoát được bẫy sập. 

Khi một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng vẫn rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với ngũ dục cũng vậy. Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất khó thoát ra. Chẳng hạn như khi nghiện ma tý, nghiện rượu, nghiện sắc dục hay là nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có tiền ít thì muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn nữa, giống như  người khát nước ngoài biển khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi thì rất khó thoát ra. Nhất là khi mình phải đơn phương tranh đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ dục và nghiện ngập thì thaamjj nan, vạn nan. Sở dĩ như vậy là vì mình đã nhiễm vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống như ngựa theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu được rằng điều đó là có hại, là không nên làm, nhưng ta vẫn ngựa theo lối cũ như thường. Thành ra nếu đến người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: Anh ơi! anh không nên sử udngj ma túy tại vfi nghiện ma túy thì thân anh sẽ tan nát, công danh sự nghiệp của anh sẽ tan nát gia đình anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên tiếp tục con đường này nữa thì vô ích lắm. Tại vì chính người ngày cũng biết điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa, nhưng họ không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy sập được. Vì vậy chúng ta đừng đến để dạy luân lý, đạo đức cho họ

Tuệ giác giúp chúng ta giải thoát kiến thức làm ta tự hào

Tối biết những ý niệm về hạnh phúc, vê ngũ dục là những cái bẫy sập vì vậy cho nên tôi không phí tuổi trẻ của tôi để sa vào những cái bẫy sập đó. Tôi đi tìm hạnh phúc trong giây phút hiện tại là vì pháp của đức thế tôn là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, nó vượt tính cách thời gian, bó bảo đảm sự tự do cho mình, nó cho mình sự vững chãi. 

Gooxc rễ của mình. Nơi nương tựa này là con đường tu học mà đức thế tôn đã bày ra, tức là pháp. Thầy samiddhi đã nói tới nguyên tắc hiện pháp lạc trú: Tôi đi tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đay, tôi không bị sập vào bẫy của những ý niệm hạnh phúc, tôi đi tìm hạnh phúc chân thật trong sự sống, trở về với hiện tại và pháp của bụt là ngọn đèn soi sáng cho tôi, giúp tôi tiếp xúc với thực tại mà không làm cho tôi bị rơi vào những bẫy sập của ý niệm. Thành ra khi có chỗ nương tựa tức là ta đã có một niềm tin, và có một niềm tin thì ta có hạnh phúc chân thật. Niềm tin ở đây không phải là tin vào một chủ thuyết về hạnh phúc một ý niệm về hạnh phúc. Niềm tin ở đây là một cái gì mình có thể có kinh nghiệm trực tiếp. Những người có một ý niệm về hạnh phúc ví dụ như thượng đế và họ tin vào ý niệm đó, tin vào một thiên đường tương lai, thì tuy đó cũng là những niềm tin nhưng không phải được đặt trên căn bản thực chứng trong hiện tại. 

Đạo bụt nói tới niềm tin như là một năng lượng tạo ra hạnh phúc nhưng niềm tin ở trong đạo bụt khác với niềm tin ở ngoài đời. Vì vậy ở đây ta cần nhắc lại giáo lý về ngũ lực. Ngũ lực là năm loại năng lượng làm cho ta trở nên một người sống động, có cuswcs sống với hai con mắt sáng với những bước chân chậm chãi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thay đổi để tốt hơn

 18.08.2026 Những đội kiếm được tiền từ cty này là đội MH. còn đôi kinh doanh thì không nhiều nhưng vẫn oke.  Còn đội mà lấy từ cty này kĩ n...